Chuyển thể bài thơ Tống biệt hành – Phan Ðức, Huệ Thu, Hà Thượng Nhân

1. Thử dịch (hay chuyển thể) bài thơ Tống Biệt Hành

Lâu nay, thơ dịch thường được hiểu là dịch từ ngôn ngữ này qua ngôn ngữ khác nhưng cách đây vài năm, nhà văn Võ Phiến hiểu theo nghĩa mới là dịch tức là chuyển từ thể thơ này qua thể thơ khác…. Trong một bài viết có đề cập bài Tống biệt hành của Thâm Tâm, nhà văn Võ Phiến cho là bài thơ này khó mà dịch ra thể Lục Bát, vốn là một thể thơ du dương êm dịu, nên không thể nào diễn tả hết giọng thơ rắn rỏi như thể thơ 7 chữ. Thơ dịch do đó cũng là một dạng thơ mà nhà thơ Huệ Thu gọi là thơ chuyển thể. Tôi xin tạm chuyển thể Tống Biệt Hành thất ngôn qua Lục Bát,dù thể thơ này đúng như nhận xét của nhà văn Võ Phiến, là khó nói lên được nỗi niềm dứt khoát, mạnh mẽ mà nhà thơ Thâm Tâm gửi gắm:

Tống Biệt Hành

Đưa người,ta không đưa qua sông
Sao có tiếng sóng ở trong lòng ?
Bóng chiều không thắm không vàng vọt
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong ?

Đưa người,ta chỉ đưa người ấy
Một giã gia đình, một dửng dưng…
-Ly khách ! Ly khách ! con đường nhỏ
Chí lớn chưa về bàn tay không
Thì không bao giờ nói trở lại
Ba năm, mẹ già cũng đừng mong

Ta biết ngươi buồn chiều hôm trước
Bây giờ mùa hạ sen nở nốt
Một chị, hai chị cũng như sen
Khuyên nốt em trai dòng lệ sót

Ta biết ngươi buồn sáng hôm nay
Trời chưa vào thu, tươi lắm thay
Em nhỏ ngây thơ đôi mắt biếc
Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay…

Người đi ? Ừ nhỉ, người đi thực !
Mẹ thà coi như chiếc lá bay
Chi thà coi như là hạt bụi
Em thà coi như hơi rượu say.

Thâm Tâm

Bài chuyển thể :

Đưa người, chẳng đưa qua sông
sao lòng ta sóng bềnh bồng mênh mang ?
chiều không thắm, chẳng võ vàng
sao đầy trong mắt bóng hoàng hôn rơi ?
đưa người, chỉ người ấy thôi
gia đình giã biệt, không lời dửng dưng

này ly khách đó con đường!
chưa về chí lớn tay không xá gì
thề không trở lại bao giờ
ba năm dù mẹ đợi chờ cũng không

biết ngươi hôm trước chiều buồn
chừ sen mùa hạ nở luôn ngay liền
một chị hai chị như sen
còn dòng lệ sót khuyên em lúc này

ngưoi buồn ta biết sáng nay
trời chưa thu vẫn thắm đầy tươi thay !
biếc đôi mắt em thơ ngây
nỗi niềm thương tiếc khăn tay gói tròn

người đi ? Ừ nhỉ ! Lên đường
mẹ thà như chiếc lá buông cành gầy
chị thà như hạt bụi bay
em thà như ruợu say say cay nồng !

Phan Đức

(DHN.)

Nhận và đọc bài thơ Tống Biệt Hành chuyển thể (dịch chữ của Võ Phiến) của thi hữu Phan Ðức, tôi chợt nhớ cách đây gần 17 năm tôi đã “dịch” bài này ra thể Lục Bát và Hát Nói … Nhân có bài của Phan Ðức, tôi cũng xin được chuyển bài này , và xin chuyển lại bài Tống Biệt Hành mà tôi đã đọc (có thêm một khổ) để trình quí thi hữu và thi khách của quán thơ:

Tống biệt hành

Đưa người, ta không đưa qua sông
Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
Bóng chiều không thắm, không vàng vọt
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong ?

Đưa người ta chỉ đưa người ấy
Một giã gia đình một dửng dưng…

-Li khách! Li khách! Con đường nhỏ
Chí nhớn chưa về bàn tay không
Thì không bao giờ nói trở lại!
Ba năm mẹ già cũng đừng mong!

Ta biết người buồn chiều hôm trước
Bây giờ mùa hạ sen nở nốt
Một chị, hai chị cũng như sen
Khuyên nốt em trai dòng lệ sót

Ta biết người buồn sáng hôm nay:
Giời chưa mùa thu, tươi lắm thay
Em nhỏ ngây thơ đôi mắt biếc
Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay…

Người đi? Ừ nhỉ, người đi thực!
Mẹ thà coi như chiếc lá bay
Chị thà coi như là hạt bụi
Em thà coi như hơi rượu cay…

Mây thu đầu núi, giá lên trăng
Cơn lạnh chiều nao đổ bóng thầm
Ly khách ven trời nghe muốn khóc
Tiếng đời xô động tiếng hồn câm

THÂM TÂM 1940

*
Huệ Thu dịch :
bài viết riêng tặng Võ Phiến,
người có ý nghĩ rất ngộ nghĩnh về việc “dịch thơ”

Ðưa người cần chi qua sông
Cũng nghe tiếng sóng trong lòng dội lên

Bóng chiều như mặt thuyền quyên
mà nơi khóe mắt đọng nghiêng nắng tà
đưa người ta đưa người ta
đưa như một kẻ xa nhà dửng dưng

Người ơi ! Lối nhỏ chớ dừng
Chí cao chẳng ở tay không bao giờ
Ðừng nhìn lại xóm nhà xưa
ba năm Mẹ có đợi chờ , kệ thôi !

Buồn thì hôm trước buồn rồi
Bây giờ là Hạ sen ngời đóa hoa
Hãy chào chị hai, chị ba
Chào thằng em út và sa chút buồn

Buồn từ sáng sớm tinh sương
Run chăng gió Hạ qua hồn tưởng Thu !
Thấy mà trong mắt âm u
Khăn tay thấm lệ chút sầu đem theo

Người đi ! Ồ nhỉ ! Buồn hiu
Mẹ coi như chiếc lá vèo trong cây
Chị coi như bụi vừa bay
Em coi như chút rượu cay đắng lòng

Mây Thu, gió núi và trăng
Hình như trời lạnh lâm thâm bóng nhòa
Ðưa người ta đưa người ta
Xôn xao bước động ngỡ là tiếng than !

Huệ Thu

(trích Sương Chiều Thu Ðọng xuất bản 1991 tại Mỹ)

Chuyển qua Hát Nói :

Mưỡu

Người đi chẳng tiễn qua sông
Mà nghe tiếng sóng trong lòng là sao
Buổi chiều hôm đó thế nào
Hoàng hôn bỗng thấy đầy trào mắt ai

nói :

Ðưa người cách mạng *
Bỏ gia đình mà vẫn dửng dừng dưng
Khách khi đi nào biết đâu chừng
Chí chưa đạt thì đừng hồi hương

Ra đi thưa mẹ một con đường
Bảy thước thân trai không ngã rẽ

Người lữ khách sao buồn hôm trước nhỉ ?
Nghĩ mùa hè sen tàn rồi nở nốt
Một chị Hai em thêm đứt ruột
Lệ rớt còn đem tiễn em trai chăng ?
Người đi chàng trẻ Ngũ Lăng
Trên vai quẫy một vầng trăng vời vời **

Huệ Thu
sunnyvale 1992

* bài này Thâm Tâm viết tặng nhà thơ Lương Trúc , cụ Lương Trúc lúc đó bỏ nhà cửa vợ con theo cách mạng . (cụ đã mất mấy năm nay)
** bài hát nói câu kết là câu 6 chữ, nhưng tôi thêm một câu cho “tròn” ý mình!

Huệ Thu

Bác HTN nho HT chuyển :Bài “dịch” của Hà Thượng Nhân :

Bài Hát Tiễn Người

Ðưa người chẳng cứ qua sông
Vẫn nghe tiếng sóng trong lòng xôn xao
Bóng chiều không thấp không cao
Không vàng không thắm trôi vào mắt trong

Ðưa người người có biết không ?
Phẩy tay là chuyện dửng dưng thế tình
Ôi con đường nhỏ chạy quanh
Tay không, chí lớn, không thành, còn đi!

Trở về mà để làm chi
Ba năm mẹ cũng đừng vì con mong.
Người buồn hôm trước phải không
Sen tàn nở nốt mấy bông cuối mùa.

Hôm nay người lại buồn chưa?
Mùa Thu chưa tới, nắng thừa màu tươi
Em thơ mắt ngẩn ngơ cười
Gói tròn thương tiếc cho người chiếc khăn

Người đi, ừ gót phong trần
Mẹ thà coi giống một lần lá bay
Chị thà như hạt bụi này
Em thà như chén rượu cay ai mời

Trăng Thu đầu núi sáng ngời
Ðã nghe cơn lạnh bời bời ruột gan
Ven trời ly khách tần ngần
Lệ nghe muốn chảy mà câm hồi nào?

Hà Thượng Nhân

Nguồn: http://www.trasonthidan.com

T.T.Kh là ai? – Hoàng Tiến

T.T.Kh. với những câu thơ xót xa cảm động:

Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời
Ái ân lạt lẽo của chồng tôi
Và từng thu chết, từng thu chết
Vẫn giấu trong tim một bóng người…

Vậy T.T.Kh. là ai? Nam hay nữ? Bút danh này chỉ thấy ghi ở ba bài thơ đăng trong Tiểu thuyết thứ bảy và một bài trên báo Phụ nữ, rồi thôi, không thấy xuất hiện nữa.
Ông Hoài Thanh, năm 1941, có soạn cuốn Thi nhân Việt Nam cũng trích dẫn T.T.Kh. với lời ghi chú: “Sau khi bài thơ kia đăng rồi, xóm nhà văn bỗng xôn xao, có đến mấy người nhất quyết T.T.Kh. chính là người yêu của mình. Và người ta đã phê bình rất náo nhiệt. Có kẻ không ngần ngại cho những bài ấy là những áng thơ kiệt tác…”.
Hôm nay, xin công bố với bạn đọc, một thông tin chúng tôi được biết về T.T.Kh. Người kể còn sống, mà T.T.Kh. cách đây bốn năm vẫn còn gặp. Chúng tôi thấy, cần phải công bố ngay vì nó có lợi cho việc làm văn học sử sau này.
Số là vào dịp hội đền Bà Tấm năm nay (Kỷ Tỵ, 1989), chúng tôi rủ nhau sang Phú Thụy dự hội. Cùng đi có nhà thơ Lương Trúc, năm nay đã 74 tuổi (tên thật là Phạm Quang Hòa), bạn thân với các nhà thơ Thâm Tâm, Nguyễn Bính và Trần Huyền Trân. Chính bài Tống biệt hành Thâm Tâm viết tặng Phạm Quang Hòa. Nguyễn Bính cũng có bài thơ tặng Phạm Quang Hòa mở đầu bằng hai câu:

Tôi và anh: Bính và Hòa
Ở đây xa chị, xa nhà, xa em…

Và kết thúc bằng hai câu:

Đây là giọt lệ phân ly
Ngày mai tôi ở, anh đi, bao giờ?…

Nhà thơ Lương Trúc là người cung cấp tư liệu, và tất nhiên ông sẽ sẵn sàng chịu trách nhiệm về họ tên tác giả Hai sắc Hoa ti-gôn được công bố dưới đây. Cùng nghe hôm đó với tôi có nhà thơ Trần Lê Văn và nhà thơ Tú Sót.
T.T.Kh. tên thật là Trần Thị Khánh, người yêu của Thâm Tâm. Hai người yêu nhau, nhưng biết không lấy được nhau, hẹn giữ kín mối tình, để đỡ phiền đến gia đình của nhau sau này. Cô Khánh đọc Tiểu thuyết thứ bảy in truyện ngắn Hoa ti-gôn của Thanh Châu (số tháng 9-1937) xúc động, tự thổ lộ câu chuyện riêng bằng bài thơ Hai sắc hoa ti-gôn và gửi đăng Tiểu thuyết thứ bảy.
Bài thơ in ra đã gây xôn xao trong làng văn chương như ông Hoài Thanh ghi nhận. Tiếp đó để giải thích lý do viết bài Hai sắc hoa ti-gôn, T.T.Kh. gửi đến Tiểu thuyết thứ bảy một bài nữa, với tiêu đề là Bài thơ thứ nhất và viết riêng gửi tặng Thâm Tâm bài thơ Đan áo.
Lại càng xôn xao, nhiều người cho là nam giới giả danh, nhiều người nhận là người yêu của mình, trong số này có nhà thơ Nguyễn Bính.
Thâm Tâm hồi ấy còn trẻ, với tính hiếu thắng của tuổi trẻ, ông đã gửi báo Phụ nữ đăng bài thơ Đan áo để minh chứng với thiên hạ rằng T.T.Kh. chính là người yêu của mình. Tất nhiên không có sự đồng ý của T.T.Kh.
Và thế là T.T.Kh. giận, cô viết bài thơ lấy tiêu đề Bài thơ cuối cùng gửi đăng ở Tiểu thuyết thứ bảy, vừa hờn vừa giận đầy yêu thương, và cũng từ đấy T.T.Kh. “tắt lịm” trên thi đàn.
Sau này, Thâm Tâm có viết một bài thơ dài để trả lời T.T.Kh. bài Các anh, (tập thơ mới của Thâm Tâm, nhà xuất bản Văn học 1987, có in bài Các anh nhưng đây chỉ mới trích một phần).
Lời bàn: có người viết hàng trăm bài thơ, in hơn chục tập thơ, mà không gây được một vang hưởng nào trong nghệ thuật thơ. T.T.Kh. viết bốn bài thơ, có bài đã gây được vang hưởng.
Thơ hay đâu có cần nhiều.
Phê-lích Ác-ve (Félix Arvers, 1806-1850) chỉ nhờ bài Tình tuyệt vọng mà tên tuổi được ghi trong văn học sử Pháp. Mới hay trong “lãnh địa” nghệ thuật, số lượng chỉ là cái không đáng kể. T.T.Kh. cần phải được xem xét và đánh giá như một tác giả của dòng thơ lãng mạn trước Cách mạng tháng Tám. Điều đó không có gì là quá đáng.
Được biết T.T.Kh. về sống ở Thanh Hóa đã bốn năm nay, không biết bây giờ bà con hay mất, nhưng cứ xin phép cho chúng tôi được công bố điều bí mật trên vì nghĩ rằng:
Thời gian qua đi đã dài, nhà thơ Thâm Tâm đã mất, ông nhà cũng đã quy tiên. Vả lại, cũng vì công việc của văn học sử, nếu đã tìm ra được tác giả của một tác phẩm nổi tiếng thì dù đắn đo đến đâu rồi cũng phải công bố.

(Nhân dân chủ nhật số 23 tháng 7-1989)

Bình thơ Tống biệt hành – Hoài Linh

“Tống biệt hành” là bài thơ nổi tiếng và được ưa thích nhất của Thâm Tâm. Có người không ngần ngại liệt nó vào một trong mười bài thơ tiền chiến hay nhất (1). Chục năm nay, “Tống Biệt Hành” cũng được xếp trong tuyển chọn năm mươi bài thơ trữ tình tiêu biểu của mười thế kỷ thơ ca Việt Nam (2).

Đề tài bài thơ là một trong hằng hà sa số những cuộc ly biệt được đưa vào “Thơ Mới” thời 1930 – 1945. Nhưng có lẽ trong văn học Việt Nam, trước và sau Thâm Tâm, không ai viết về chia ly đầy tính bi hùng, trữ tình và mãnh liệt đến như thế.

Đưa người, ta không đưa qua sông.

Từ bao đời nay, con sông, bến nước vẫn là địa điểm của những cuộc tiễn biệt. Chẳng những vì xưa kia, phương tiện giao thông chủ yếu của người dân quê là chiếc thuyền. Con sông còn như một ranh giới, một vành đai bao phủ và che chở mỗi vùng làng mạc. Mỗi người, khi qua sông, cũng là lúc rời bỏ quê hương cùng gia đình và người thân của họ. Chẳng phải là ngẫu nhiên khi dòng sông, con tàu đi vào tiềm thức mỗi người như một biểu tượng của giã biệt, xa cách. Trong thơ ca cũng vậy:

Anh Khóa ơi,
Em tiễn anh xuống tận bến tàu…

(“Anh Khóa”, Trần Tuấn Khải)

Biệt ly,
Sóng trên dòng sông,
Ôi còi tàu như xé đôi lòng,
Và mây trôi, nước
trôi, ngày tháng trôi,
Càng lướt trôi.
(“Biệt ly”, Dzoãn Mẫn)

Nhưng lần này, tác giả không đưa bạn mình qua sông. Vào những năm cuối của thập kỷ ba mươi, khi Nguyễn Bính viết “Những bóng người trên sân ga”, nhiều cuộc đi xa đã khởi đầu trên một bến xe, một sân ga nào đó.

Tuy thế hình ảnh con đò, bến nước trong văn chương và cuộc đời đã hằn sâu trong tác giả tự bao giờ, khiến anh phải thốt lên:

Sao có tiếng sóng ở trong lòng?

Hỏi đấy, nhưng chỉ để bộc lộ nỗi lòng buồn bã pha chút vị ngây ngất của anh. Tiếng sóng ấy chưa đến độ như “tiếng đời xô động, tiếng hờn câm” ở đoạn kết, nhưng đã tựa như tiếng đàn khuấy động những cung bậc bi phẫn giữa người đi và kẻ ở.
Đã hay rằng “người” buồn đấy, còn “cảnh” ra sao? Buổi chiều ấy, dù “không thắm, không vàng vọt”, nhưng “đầy hoàng hôn trong mắt trong”, và có thể rất đẹp đấy. Nhưng nó vẫn đượm vẻ gì man mác vô định. Có điều, vào lúc ấy, nào ai còn để ý đến cảnh vật bên ngoài. Họ mải “giã gia đình” và “dửng dưng”. Đối với tác giả, chỉ còn người đi là tồn tại, anh chỉ “đưa người ấy”, ngoài ra mọi thứ khác nào có nghĩa gì.

Cuối cùng thì giờ phút chia tay cũng phải đến. Người đi hùng dũng lắm, hăng hái và hăm hở lắm:

Ly khách! Ly khách! Con đường nhỏ,
Chí lớn chưa về bàn tay không,
Thì không bao giờ nói trở lại!

Anh thề thốt thật ghê! Người đọc không biết anh đi đâu, anh làm gì. Chắc sự nghiệp của anh lớn lắm. Có gì làm ta nhớ lại chàng Kinh Kha vào Tần qua sông Dịch lạnh tê tái, khảng khái làm hớp rượu, rồi bước thẳng không quay đầu lại:

Phong tiêu tiêu hề, Dịch thủy hàn,
Tráng sĩ nhất khứ hề, bất phục hoàn.
(Gió hiu hiu chừ, sông Dịch lạnh ghê,
Tráng sĩ một đi chừ, không bao giờ về.)

Ta thấy anh đi khí thế thật đấy, nhưng sao cô đơn quá! Đi thì cứ đi, nhưng nào có rõ tương lai:

Ba năm, mẹ già cũng đừng mong.

Anh lên gân vậy thôi, chứ thực ra, anh thương mẹ lắm. Và khi đi, nào phải anh không day dứt. Anh còn chị, còn em. Những người chị “như sen” và người em “ngây thơ đôi mắt biếc”, đâu muốn anh đi. Hẳn nhà anh nheo nhóc và cực nhọc lắm, anh đi rồi, ai lo?
Tất nhiên, chí trai bốc đồng, anh tỏ ra quyết tâm lắm. Nhưng dễ thấy đó chỉ là vẻ bề ngoài. Kỳ thực, lòng anh thật mềm yếu. Anh đã buồn, chắc là từ lâu, chứ đâu phải chỉ từ “chiều hôm trước” với “sáng hôm nay”.

Và cảnh sắc bầu trời mùa hạ sang thu ấy thật đẹp. Anh nhất quyết phải từ giã gia đình, bạn bè trong khung cảnh ấy sao? Đích của anh nào có chắc chắn gì? Đâu phải anh không có những day dứt, ràng buộc bịn rịn?
Nhưng rồi anh vẫn dứt áo ra đi. Đi lúc nào mà người tiễn chẳng hay:Người đi! Ừ nhỉ? Người đi thực!

Như một cơn mơ, lúc bừng tỉnh chẳng còn gì. Anh đã đi, đi thực. Làm người ở lại đắm trong nỗi thẫn thờ. Cuộc đời sao như tỉnh, như mơ! Đành phải chịu!

Tất cả dẫn đến một cao trào. Nhịp thơ trở nên gấp gáp, rắn rỏi, mãnh liệt, nhưng đượm vẻ chua chát và bi phẫn:

Mẹ thà coi như chiếc lá bay,
Chị thà coi như là hạtbụi
Em thà coi như hơi rượu say.

Anh muốn quên lãng đi mọi thứ. Quên đi cho hết nỗi sầu. Như người lữ khách trong “Chiều” của Hồ Dếnh. Nhưng thử hỏi: có quên được không?
Mây thu đầu núi, gió lên trăng,
Cơn lạnh chiều nao đổ bóng thầm.

Thời gian qua đi. Bóng hoàng hôn không còn nữa. Cơn lạnh và bóng tối trùm lên mỗi bước anh đi. Lúc ấy, người lữ khách còn lại một mình. Âm thầm. Lặng lẽ. Cái đích vẫn xa vời. Và nhuệ khí xưa đâu còn nữa. Anh muốn bật khóc, muốn gào lên tức tưởi:Ly khách ven trời nghe muốn khóc,
Tiếng đời xô động, tiếng hờn câm…

Chẳng biết lúc ấy, anh trách ai? Trách mình, hay trách cuộc đời cay nghiệt?

Ông Hoài Thanh trong “Vài suy nghĩ về thơ” (3) đã thú nhận khi viết “Thi nhân Việt Nam”, ông rất khoái “Tống Biệt Hành”. Chẳng những vì “điệu thơ gấp gáp. Lời thơ gắt. Câu thơ rắn rỏi, gân guốc. Không mềm mại, uyển chuyển như phần nhiều thơ bây giờ” (4), mà chủ yếu bài thơ mang phong vị “bâng khuâng khó hiểu của thời đại”. (5)

Không rõ “Tống Biệt Hành” có gì “khó hiểu”? Nhưng rõ ràng khi đọc, tôi thấy thật “bâng khuâng”. Vẻ trầm hùng, cổ kính của bài thơ cùng những hình ảnh “mong manh, ghê rợn, như những nhát dao xiết vào tâm hồn, tưởng là rất nhẹ hóa ra lại rất nặng” (6) gây nên một ấn tượng thật mạnh và sâu đến người đọc.

Ít năm trước đây, nhà thơ Lương Trúc (7), một người bạn của Thâm Tâm, có tiết lộ rằng “Tống Biệt Hành” là bài thơ Thâm Tâm viết tặng ông khi ông đi hoạt động. Tạm cho là như vậy. Ở vào hoàn cảnh bấy giờ (1941), hành động cách mạng của những thanh niên độ tuổi hai mươi như họ, có thể coi là một sự dấn thân đầy mạo hiểm. Nó mang hình ảnh các tráng sĩ thời xưa, vào cuộc chiến “lạnh lùng theo trống dồn” (“Chiến sĩ vô danh”, Phạm Duy), với lòng hăng hái thiêng liêng “chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh” (“Tây Tiến”, Quang Dũng). Và cũng chẳng khác gì mấy hình ảnh thật đẹp và oai hùng của lứa văn nghệ sĩ đầu tham gia kháng chiến, nửa thập kỷ về sau:

Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội,
Những phố dài xao xác hơi may,
Người ra đi đầu không ngoảnh lại,
Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy.

(“Đất nước”, Nguyễn Đình Thi)

… Nhớ đêm ra đi đất trời bốc lửa
Cả đô thành nghi ngút cháy sau lưng
Những chàng trai chưa trắng nợ anh hùng
Hồn mười phương phất phơ cờ đỏ thắm
Rách tả tơi rồi đôi giày vạn dặm
Bụi trường chinh phai bạc áo hào hoa
Mái đầu xanh hẹn mãi tới khi già
Phơi nắng gió và hoa ngàn cỏ dại
Theo tiếng gọi của những người Hà Nội
Trở về
Trở về chiếm lại quê hương!

(“Ngày về”, Chính Hữu)

*

Cuộc đời Thâm Tâm thật ngắn ngủi. Ông viết chưa nhiều (8). Cái chết cướp ông đi ở tuổi 33. Ông đã lao vào cuộc chiến đấu của dân tộc một cách nhiệt thành. Từng là biên tập viên tạp chí “Tiên phong” (1945-1946) rồi thư ký tòa soạn báo “Vệ quốc quân”, ở Chiến dịch Biên giới (1950), Thâm Tâm bị sốt rét nặng trong lúc không có thuốc men. Vô phương cứu chữa, ông bị bỏ lại trong một căn nhà sàn tại bản Nà Po cùng một người liên lạc. Anh này là người duy nhất có mặt khi ông qua đời và xin được bà con dân bản một mảnh vải trắng để làm khăn tang (8).

Cái chết của Thâm Tâm thật bi thảm. Nhưng nó cũng thật đẹp và bi hùng ở khía cạnh một tráng sĩ nơi sa trường. Đẹp và bi hùng như “Tống Biệt Hành” của ông vậy!

Hoài Linh

Chú thích:
(*) Khổ cuối bài thơ thường không được biết đến. Theo “Văn hóa Việt Nam tổng hợp 1989-95” (Hà Nội, 1989), trong một bản in “Tiểu thuyết thứ Bảy” (1940) có đoạn này.
Giới thiệu tham khảo:
1. Vũ Quần Phương: Thâm Tâm và “Tống Biệt Hành” (“Quân đội Nhân dân”, 1990).
2. “Văn hóa Việt Nam tổng hợp 1989-95” (Hà Nội, 1989).
3, 4, 5. “Tuyển tập Hoài Thanh”, tập 2 (Hà Nội, 1983).
6. Vũ Cao: “Tản mạn dọc đường văn học” (“Văn nghệ Quân đội” tháng 6-1988).
7. Tên thật Phạm Quang Hòa, sinh năm 1915. Xin xem thêm bài của Hoàng Tiến: “T.T.Kh. là ai?” (“Nhân dân Chủ nhật” ngày 16-7-1989).
8. Sinh thời, thơ Thâm Tâm chưa được in thành tập. Mãi đến năm 1988, tập “Thơ Thâm Tâm” sưu tầm một số thi phẩm tiêu biểu của ông mới được ấn hành.
9. Theo Từ Bích Hoàng: “Cách mạng kháng chiến và đời sống văn học”, tập 1 (Nhà xuất bản Tác phẩm mới, Hà Nội 1985).

Bình giảng bài thơ Tống biệt hành – Bài làm tham khảo:

    Đời người và đời thơ của Thâm Tâm đều ngắn ngủi .Ngày 18.8.1950 ,nhà thơ mất trên đường hành quân tham gia chiến dịch Cao Bắc Lạng . Năm ấy,  ông mới ba mươi tuổi .Còn nếu tính từ năm 1938, khi Thâm Tâm cùng gia đình lên Hà Nội kiếm sống bằng nghề vẽ tranh ,viết văn , làm thơ thì “tuổi nghề” của ông vỏn vẹn chỉ 12 năm . Đã thế ,Thâm Tâm làm thơ ít,số bài thơ bây giờ tập hợp được chỉ độ vài ba chục .Nhưng thơ Thâm Tâm khiến người đời nhớ mãi . Đây là không kể chuyện Thâm Tâm với các bài thơ về hoa ti gôn, maàuhoa như tím vỡ, mọc vô vàn trên các bờ giậu nhưng khi có thơ ,loài hoa ấy ai cũng phải ngắm nhìn một cách đặc biệt.

Tống biệt hành là bài thơ đặc sắc nhất của Thâm Tâm ,cũng là bài thơ Mới có nhiều ý kiến ,bình giá khác nhau nhất và cơ hồ chưa phải đã kết thúc.

Bài thơ được sáng tác vào năm 1940 ,không biết đích xác là ngày nào.Năm sau, được đưa vào tuyển thơ Thi nhân Việt Nam ,với lời bình của Hoài Thanh:

Thơ thất ngôn của bây giờ thực có khác thơ thất ngôn cổ phong.Nhưng trong bài dưới đây lại thấy sống lại cái không khí riêng của nhiều bài thơ cổ, điệu thơ gấp, lời thơ gắt.Câu thơ rắn rỏi ,gân guốc .Không mềm mại ,uyển chuyển như phần nhiều thơ bây giờ .Nhưng vẫn đưowmj chút bâng khuâng khó hiểu của thời đại.

Ý kiến của Hoài Thanh thật xác đáng:Tống biệt hành vừa giống thơ cổ vừa không phải thơ cổ đượm chút bâng khuâng khó hiểu của thời đại. Đó cũng là lí do khiến từ bấy đến nay có biết bao ý kiến khác nhau về Tống biệt hành mà khổ nỗi lại là ý kiến của những người uyên thâm ,hoặc có quan hệ gần gũi với tác giả.

Tên bài thơ:

Tên bài thơ không có gì là khó hiểu ,rõ ràng đằng khác :tiễn đưa nhau khi li biệt .Chỗ dễ gây khó hiểu duy nhất ở đây là chữ hành.Hành vừa có nghĩa là đi ,dời đi,lại có nghĩa là khúc hát ,bài ca.Bởi vậy ,khi dịch nghĩa tên một số bài thơ Đường,người ta thường giữ nguyên chữ ấy như Trường Can hành ( Thôi Hiệu ) ,Lũng Tây hành ( Trần Đào )…mặc dù Trường Can ,Lũng Tây đều là địa danh .Xa hơn nữa ,người ta thấy ,hành là thể thơ vốn thịnh hành ở Trung Quốc thời Hán Nguỵ ,Lục Triều,có cội nguồn từ trong Nhạc phủ ,tức những bài thơ có thể phổ nhạc ,nhưng chỉ để dùng trong cung cấm.Do đó,Trường Can hành là một khúc Nhạc phủ ,song cũng là tên một bài thơ của Đỗ Phủ .Nội dung hai bài hoàn toàn khác nhau.Khi thoát khỏi cung cấm, thể thơ hành trở nên phóng túng về hình thức để thể hiện rõ tình ý của người viết .Các bài thơ hành đời Đường viết về nhiều đề tài :tình yêu nam nữ ,về chiến tranh ,loạn lạc ,chia li…Thời Đương , các bài thơ hành thường viết theo thể thất ngôn ( Tì bà hành -Bạch Cư Dị ,Trương Can hành-Lí Bạch ), hoặc ngũ ngôn ( Trường Can hành –Thôi Hiệu ) , nhưng cũng có trường hợp dài ,ngắn tuỳ ý ( Binh xa hành-Đỗ Phủ ).

Sau đời Đường ,trong văn học các nước phương Đông ,thơ hành không thiếu . Ở Việt Nam ,có bài khá nổi tiếng như Sở kiến hành của Nguyễn Du.Tuy nhiên ,nhìn chung ,số lượng vẫn khá ít ối với những bài thơ khác.Bẵng đi thời gian khá dài , ở nước ta những năm cuối của phong trào Thơ mới bỗng xuất hiện nhiều bào hành của các nhà thơ Thâm Tâm ( Tống biệt hành , Can trường hành,Vong nhân hành ).Nhiều bài thơ của các ông dù không có chữ hành ở tựa đề nhưng vẫn cùng chung một giọng điệu.Cả ba vốn là bạn bè thân thiết nên có người gọi đây là trường phái thơ hành, bên cạnh các trường phái thơ Loạn ,thơ Say,thơ Đạo …thời ấy.

Sau năm 1954, ở miền Nam ,cũng có một vài nhà thơ trẻ làm thơ hành như Hoàng Lộc ,Duynh Trầm Ca…Thơ của họ ,tuy nội dung có khác , nhưng gần gũi với các bậc “tiền bối” ở cái giọng kiêu bạc ,khinh đời:

– Chẳng lẽ giận đời đi uống rượu
Mà say chưa chắc đã quyên đời
Và chưa chắc ấm sầu xa xứ
Đỏ mặt hoàng hôn cũng hổ người
(Hoàng Lộc)

Rượu cuối năm gió lọt lòng ly
Vọng tiếng hú ma Hời buồn quê cũ
Đêm viễn xứ vang vang pháo nổ
Giao thừa giao thừa heef ta lăn quay
Rượu hết làm sao chết giữa cơn say…
(Đuynh Trầm Ca)

Nói mông lung như vậy đẻ thấy không thể đơn giản khẳng định Tống biệt hành của Thâm Tâm là bài thơ theo thể hành thời trước ,bởi nào ai chỉ ra thi pháp của thể thơ ấy như kiểu thơ luật Đường hay văn biền ngẫu …Có giống chãng chỉ là nhà thơ mượn chữ hành thường tỏ ra khá phóng túng ,như muốn nói cho bằng hết ý mình ,mà đó thường là những điều khó nói,khó được chấp nhận .Ví như bài Lũng Tây hành của Trần Đào là một mặt trái của chuyện đời:
Quên mình ,thề giết Hung Nô
Năm ngoái tướng sĩ bụi Hồ vùi thân.
Bên sông Vô Định xương tàn,
Vẫn người trong giấc mộng xuân khuê phòng.
(Trần Trọng San dịch)

Hay Nguyễn Bính ,nhà thơ đồng quê nhưng với Hành phương Nam lại tỏ ra khá ngang tàng ,kiêu bạc:
Rãy ruồng châu ngọc ,thù son phấn
Mắt đỏ lên rồi cứ chết ngay
Hỡi ơi nhiếp chính mà băm mặt
Giữa chợ ai khóc mà nhân thay

Rõ ràng ,thơ hành cua Thâm Tâm ,Nguyễn Bính ,Trần Huyền Trân là thơ hành của chính các ông ,nhưng nhà thơ Mới bởi vậy mới đượm chút bâng khuâng khó hiểu của thời đại.

Chuyện Tống Biệt

Tống biệt là chuyện muôn thuở , đề tài quen thuộc của văn chương. Nhưng với Thâm Tâm ,chuyện tống biệt chừng như khác . Đấy không phải là chuyện Lưu Trần và Nguyễn Triệu rời Thiên Thai có Suối tiễn oanh đưa tiễn ngậm ngùi ( Tản Đà -Tống biệt ).Cũng không phải là sự ra đi vì Non sông đã chết thêm nhục ,Hiền thánh còn đâu học cũng hoài ( Phan Bội Châu – Lưu biệt xuất dương ) ,hay ra đi mà lòng hẹn quyết : Đấng trượng phu tuỳ ngộ nhi nan…Non sông ấy chờ ta thêu đặc dệt.Kìa tụ tán chẳng qua là tiêu biểu ( Huỳnh Thúc Kháng-Bài ca lưu biệt ) .Người ra đi ở tống biệt hành có phần gần gũi với khách chinh phu trong Tiếng gọi bên sông của Thêư Lữ:
Ta đi theo đuổi bước tương lai,
Đẻ lại bên sông kẻ ngậm ngùi
Chí nặng bốn phương trời nước rộng,
Từ nay thêm bận nỗi thương ai.

Những chỉ gần kmà không giống.Cách nhau độ năm ,mười năm mà đã thế ,làm sao bảo li khách có “họ hàng” với chàng Kinh Kha ở nước Yên cả ngàn năm trước?

Ra đi là một mô típ không chỉ trong văn chương mà trước hết là trong đời sống của không ít thanh niên Việt Nam thời kỳ 1930-1945. Đi đã trở thành nhu cầu .Vì lí do gì ư? Nhiều lắm ! Ngay ở một nhà thơ của Hoa niên vẫn không hiếm những câu:
Những ngày nghỉ học tôi hay tới
Đón chuyến tàu đi đến những ga
Tôi đứng bơ vơ xem tiễn biệt,
Lòng buồn đau xót nỗi chia xa.
( Tế Hanh -Những ngày nghỉ học )

Vì sao có chuyện kỳ cục ấy? Người trong cuộc giải thích :
Kẻ về không nói bước vương vương…
Thương nhớ lan xa mấy dặm trương.
Lẽo đẽo tôi về theo bước họ
Tâm hồn ngơ ngẩn nhó muôn phương.

Những năm 40 của thế kỷ trước , đi càng trở nên bức bách khi mà bao câu hỏi cứ xoáy mãi trong lòng họ:
Ôi ! Ta đã làm chi đời ta?
Ai đã làm chi lòng ta ?
……………………………………
Ta đã làm chi đời ta xưa?
Ta đã dùng chi đời ta chưa?
Thiên thu? ngờ sự nghiệp!
Chiều mưa rồi đêm mưa;
Gió lùa gian gác xép,
Đời tàn trong ngõ hẹp.
( Vũ Hoàng Chương – Đời tàn trong ngõ hẹp )

Với các nhà thơ trường phái thơ hành ,nỗi đời còn bức bách hơn .Trần Huyền Trân gào thét:
Thế rồi thí bỏ rủi may
Đưa giam cõi bụi , đứa đày rừng sâu
Vai cày chẳng kẻo làm trâu
Giong xe chẳng kẻo tóc râu làm bờm
Nẻo về chật chội áo cơm
Dặm đi lại đông từng cơm lá rừng…
(Độc hành ca )

Đi không đòng nghĩa với sung sướng .Nhưng là sự giải thoát với khỏi thực tại :Kinh thành mây đỏ như son,Cái lồng chật chội giam con chim trời ( Trần Huyền Trân-Vô đề ).Người đi có phần bất chấp :
Mơ gì Áp tiết thiên văn tự,
Giày cỏ gươm cùn ta đi đây.
(Nguyễn Bính –Hành phương Nam )

Sau này ,khi nhiều người thắc mắc về người đi trong bài thơ của mình ( cũng là một cuộc ra đi từ trước năm 1945 ) ,Nguyễn Đình Thi giải thích: Người ra đi này cũng không phải là tác giả hoặc một người cụ thể -người ấy ra đi ,có thể đi làm cách mạng ,hoặc vì một lẽ khác ,vì một bi kịch riêng…Dù sao đấy cũng là một người bỏ nơi ở ,bỏ nơi mình đang quen sống để ra đi ,người ấy có nhiều nông nổi ,nhiều tâm trạng… (Đỗ Tiến Bảng -Về bài thơ Đất Nước ,Văn nghệ ,số 53/1994 ).

Trường hợp Thâm Tâm ,trong số những bài thơ ít ỏi trước năm 1945, chuyện ra đi không chỉ nói ở Tống biệt hành . Ở Tráng ca (1994) ,có Bọn ta một lớp lìa nhà . Ở Can trường hành ( 1944 ) ,có chàng là bậc trẻ không biết sợ…Vợ con thí tất cho thiên hạ…Ta lênh đênh hoài sâu biết mấy! Còn trước đó ,vào năm 1940 ,người ra đi với bao quyết tâm:
Trời hỡi ! Mai này tôi phải đi
Thơ này rồi chẳng đọc ai nghe
Đời nhiều nhưng có dăm người bạn
Thì viễn li không có đường về
……………………………………………
Ngày mai ngược gió tôi đi ngược
Ai có quan tâm gọi trở về
Trời hỡi ,ngày mai ngày mốt thôi
Ngày mai cay đắng nhất li bôi…
( Ngược gió )

Đến năm 1944 ,chuyện ra đi lại đặt ra ở một bài thơ mang tên Lưu biệt hẳn hoi mà người đi lại rất cụ thể :
Tiệc này đêm cuối mai chia li
Anh cố lưu tôi có ích gì
………………………………….
Đất trời rộng quá tôi không chịu
Cắm chặt sông đây một cánh bè
……………………………………………
Sáng mai qua bến Ninh Cơ lạnh
Sẽ thấy se lòng trận gió tê
Giọng đàn lưu luyến làm chi nữa
Tôi quyết đi rồi tôi phải đi .

Cách đây không lâu ,nhiều người đã tìm các tư liệu khá cụ thể về cuộc chia li và li khách ở bài thơ Tống biệt hành .Rất tiếc ,các tư liệu ấy ,có độ tin cậy cao ( một người bạn thân của Thâm Tâm ,một người là nhà văn cùng thời ) ,nhưng lại trái ngược nhau.Tôi đồ rằng ,sẽ còn những phát hiện như thế nữa .Song tất cả các phát hiện ấy càng khiến việc tiếp cận bài thơ thêm khó khăn .Giả dụ rằng,không có cuộc chia tay với những con người cụ thể kia thì thế nào vẫn có Tống biệt hành ,bởi muốn đi, quyết ra đi thật sự không ai khác là chính nhà thơ Thâm Tâm!

Sao nghe có tiếng sóng ở trong lòng?
Chuyện ra đi là thế ,nhưng người ta bàn luận nhiều về Tống biệt hành có lẽ vì đây là bài thơ hay nhất của Thâm Tâm .

Bài thơ mở đầu theo lối trực tiếp ,như một thông báo ,không nhiều lời:
Đưa người ,ta không đưa qua sông.
Song , đây lại là câu mở đầu ,khiíen người ta liên tưởng rất xa . Đây là chuyện Kinh Kha ,người nước Tề ,thời chiến quốc .Chàng vốn là kiếm khách nổi tiếng .Khi Tần sắp đem quân uy hiếp nước Yên ,thái tử Đan nhờ Kinh Kha có làm bài dịch thuỷ (Bài ca sông Dịch) ,tỏ rõ quyết tâm của mình:
Phong tiêu tiêu hề Dịch thuỷ hàn,
Tráng sĩ nhất khứ hề bất phục hoàn.

(Gió vi vu ,sông Dịch lạnh ,
Tráng sĩ một đi không trở về).

Việc hành thích Tần vương của Kinh Kha không thành .Chàng bị đam chết giữa cung điện Tần.Nhưng câu chuyện về Khinh Kha thíống mãi trong cuộc đời và văn chương . Đời Đường .Lạc Tần Vương có bài thơ Dịch thuỷ tống biệt nhắc chuyện Kinh Kha với bao cảm khái:
Tích thời nhân dĩ một,
Kim nhật thuỷ do hàn.

(Người xưa đã khuất rồi.
Nước sông còn lạnh buốt).

Tống biệt hành gợi nhớ chuyện Kinh Kha ,song lưu ý mọi người đây không phải là chuyện xưa : Đưa người ,ta không đưa qua sông .Cuộc đưa tiễn không biết diễn ra tại đâu ,nhưng buồn hiu hắt ,chất đầy tâm trạng :
Sao nghe có tiếng sóng ở trong lòng?
Bóng chiều không thắm ,không vàng vọt,
Sao đầy  hoàng hôn trong mắt trong?

Dường như ngoại cảnh không liên quan gì tới tâm trạng :không có bờ sông dậy sóng nhưng trong lòng lại nổi phong ba ;buổi chiều bình yên nhưng trong mắt đẫm ánh tà dương !Cách diễn tả thật lạ lùng.Thông thường ,người ta hay lấy cảnh vật để tả nỗi lòng ,theo kiểu Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ .Nhà thơ Mới Thâm Tâm thừa biết điều đó, nhưng đã làm theo chiều ngược lại.Trong bức tranh ngược sáng ây , tâm trạng nổi bật hẳn lên ,nỗi buồn ,sự tê tái mang vóc dáng ,hình thù hẳn hoi.

Người ta hay bàn cãi ,nỗi buồn của ai đây ?Theo lô gíc hình thức, chắc chắn đây là nỗi buồn của người đưa tiễn .Người ấy đang nói , đang kể chuyện rành rành ra đó .Bởi vậy ,mới có những câu thơ tiếp theo :
Đưa người ,ta chỉ đưa người ấy,
Một gã gia đình ,một dửng dưng…

Chẳng lẽ ở trên nói người rađi rất u buồn ,liền sau đó lại khẳng định: không ,người ấy rất dửng dưng ?Từ đầu đến câu thơ này,tất cả đều diễn tả tâm trạng của người đưa tiễn.Nhưng nhân vật trung tâm lại là người ra đi: vì người ấy mà tôi buồn ;vì người ấy mà tôi đau;chỉ có một người ấy thôi!Khổ nỗi ,người ấy lại nhất quyết ra đi,không gì có thể cưỡng lại đuợc:
– Li khách ! Li khách ! Con đường nhỏ,
Chí nhớn chưa về bàn tay không,
Thì không bao giờ nói trở lại!
Ba năm ,mẹ già cũng đừng mong.
Không ai biết lí do nào khiến người phải ra đi .Song , chắc đấy không là lí do đơn giản ,bình thường.Việc gì người ta phải đnáh đuổi ,kể cả nỗi lòng chờ mong của người mẹ thiêng liêng để ra đi ,nếu đó không là lí do thật cao cả? Câu thơ vẫn theo điệu kể ,nhưng chủ thể lời nói thì chuyển dịch dần từ người đưa tiễn sang người ra đi ,từng lời ,từng lời ,một,thật rắn rỏi , việc ra đi khó lòng thay đổi ý định ở người ra đi :
Ta biết người buồn chiều hôm trước :
Bây giờ mùa hạ sen nở nốt,
Một chị ,hai chị , cùng như sen,
Khuyên nốt em trai dòng lệ sót.
Ta biết người buồn sáng hôm nay:
Giời chưa mùa thu ,tươi lắm thay,
Em nhỏ ngây thơ , đôi mắt biếc,
Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay…

Chỗ dựa ấy là hoàn cảnh và tâm trạng của li kahchs .Về hoàn cảnh, người ấy có mẹ già và “một chị ,hai chị, cùng như sen” mùa hạ. Đông đấy ,nhưng vẫn lẻ loi , đơn chiếc .Người ấy có người “em nhỏ thơ ngây, đôi mắt biếc” đang rất nặng tình với mình ( ). Hoàn cảnh và tình cảm sâu nặng như thế ,ra đi lòng sao không trĩu nặng. Nhưng tình không lớn bằng nghĩa. Năm 1944, trong bài thơ Lưu biệt, Thâm Tâm thêm một lần nói rõ điều đó:
đời người say tỉnh được bao dịp
Xin cạn chén rượu đẻ tôi đi
Đau tình không xót bằng đau nghĩa
Tay gầy cũng nén chén vô tri
Mắt xanh cùng gửi ngoài mưa gió
Lòng không cùng sống với cầm thi…

Người ấy vẫn cứ đi .Chỗ dựa đẻ níu kéo hoá ra không cầm giữ được
Vì thế ,người trong cuộc ,dù biết rất rõ ,hiểu rất kỹ nhưng lòng vẫn bàng hoàng, ngơ ngác:
Người đi? Ừ nhỉ,người đi thực!
Mẹ già coi như chiếc lá bay,
Chị thà coi như là hạt bụi,
Em thà coi như hơi rượu say.

Khi bàng hoàng, ngơ ngác trước một cuộc chia li thì người ra đi mãi mãi in dấu trong tâm hồn người ở lại và cuộc chia li vẫn như đang diễn ra. Bài thơ Tống biệt hành của Thâm Tâm khiến người đời nhớ mãi vì lẽ đó.

Người ra đi là ai? Đọc Tống biệt hành của Thâm Tâm – Trần Đình Sử

Tống biệt hành của Thâm Tâm mới được tuyển vào sách giáo khoa Văn 11 CCGD. Tuy là bài thơ rất nổi tiếng nhưng cho đến nay vẫn chưa có cách lí giải hợp lí, thuyết phục cả về nội dung lẫn ngôn ngữ, cấu tứ của nó. Trong một tài liệu mới in gần đây, có ý kiến cho rằng: “Ta có thể khẳng định: người ra đi ở đây chính là người chiến sĩ cách mạng, giã nhà lên đường đi chiến đấu” (có thể là lên chiến khu, khi đó đã thành lập ở Việt Bắc và trở thành một nơi bí mật và thiêng liêng, hấp dẫn đối với mọi người thời ấy). Trong một sách bình thơ khác, cũng mới in chưa lâu, thì lại có ý kiến trái hẳn: “Chí nhớn mà đường nhỏ, cuộc đi chưa thấy có căn cứ gì cho nghiệp lớn ngoài sự hăng hái tinh thần… ở lại thì bế tắc nhưng ra đi thì chưa thấy gì là tươi sáng, nó tự nhủ bằng cái vẻ bi hùng của Kinh Kha bên sông Dịch thì cũng chẳng lừa được chính mình. Mấy câu thơ kết, lòng người như sụp xuống, cả kẻ tiễn lẫn người đi, tuyệt vọng đến hư vô…”. Rõ ràng, người đi ở đây được hiểu thành một kẻ tầm thường có nét gần như một vai phản diện! Hai ý kiến này đều thiếu sức thuyết phục, nặng về suy diễn. Căn cứ vào cuộc đời và sáng tác thơ của Thâm Tâm, có thể đoán định người đi là người cách mạng, nhưng nhìn lại văn bản bài thơ thì đã có dấu hiệu gì để cho ta nhận chắc điều ấy? Còn ý kiến thứ hai thì chẳng thấy có căn cứ gì để phán đoán rằng người ra đi tự lừa dối mình mà không lừa được, lại còn “lòng người như sụp xuống, cả kẻ tiễn lẫn người đi, tuyệt vọng đến hư vô…” nữa! Rất có thể nhà phê bình thuận theo thói quen phê bình thơ lãng mạn lâu nay, đã hiểu chệch ngôn ngữ nghệ thuật của bài thơ.
Quả thật bài Tống biệt hành không dễ giảng. Từ ngữ trong câu dồn nén, có nhiều tỉnh lược, giữa các dòng thơ có nhiều khoảng trống, tạo thành một vẻ ám ảnh bí ẩn, không dễ gì thuyết minh cho thông. Chẳng hạn câu: “Đưa người, ta chỉ đưa người ấy – Một giã gia đình, một dửng dưng”, mới đọc qua tưởng là một kẻ giã gia đình, một kẻ dửng dưng, nhưng không phải. “Một” đây là khăng khăng, nhất quyết: nhất quyết bỏ nhà ra đi, nhất quyết không được xúc động. Lại như câu “Chí nhớn chưa về bàn tay không – Thì không bao giờ nói trở lại – Ba năm mẹ già cũng đừng mong”. Có nhiều chỗ tối nghĩa, phải thêm chữ vào mới hiểu được. Chẳng hạn, chí lớn: chưa về (nếu) bàn tay không. Chưa thành công thì đừng nói chuyện trở lại. Nhưng vẫn khó hiểu: tại sao lại “ba năm… cũng đừng mong”? Hay như câu “Khuyên nốt em trai dòng lệ sót” có thể gây cảm tưởng là đời chị nhục nhằn, khóc suốt tuổi thơ, còn thừa chút lệ đem khóc em nốt. Có bản chép là “dòng lệ xót” thì nghĩa lại khác nữa. Đúng như Vũ Quần Phương nhận xét: chữ nghĩa, câu thơ như không dính nhau.
Đối với bài thơ như bài này, theo chúng tôi, trước hết nên tìm hiểu cấu tứ bài thơ để hiểu nó nguyên phiến, toàn vẹn. Còn câu chữ bài thơ, nói như Triệu Chấp Tín đời Thanh, chỉ là cái râu, cái vẩy của con rồng đang bay hiện ra ngoài đám mây mà thôi, không thể đầy đủ được. Bài thơ này là lời của người đưa tiễn nói về người ra đi, còn người ra đi từ đầu chí cuối dường như không phát biểu điều gì. Nhưng người tiễn rất hiểu người đi và chỉ nhờ sự bộc lộ cảm xúc của người tiễn mà hình ảnh của người đi hiện lên mạnh mẽ, cao cả, một con người quyết dứt bỏ tình riêng ra đi vì chí lớn. Như vậy trong bài này trực tiếp chỉ xuíât hiện cảm xúc, suy nghĩ của người tiễn. Tình cảm người đi hiện ra gián tiếp. Mặc khác, tình cảm hai người này có khác nhau: một người buồn bã, đau đớn, nhưng vẫn dứt áo ra đi, một người muốn tiễn đưa một chinh phu truyền thống, nhưng thực tế chỉ có con người thời đại. Vì vậy, mọi sự đồng nhất tình cảm của hai người làm một để bình luận đều thiếu cơ sở. Rất có thể đây chỉ là một cuộc tiễn đưa được tưởng tượng, cả người đi lẫn người được tiễn thực ra đều là do Thâm Tâm hư cấu trên cái nền tình cảm của nhà thơ. Song trong bài thơ đã dựng lên hai hình tượng với chức năng biểu hiện khác nhau, thì ta nên hiểu bài thơ theo cấu trúc biểu hiện của nó. Bài thơ nhìn ngoài thì là thơ trữ tình, nhưng trữ tình không phải là mục đích. Nó chỉ là phương tiện để dựng lên hình ảnh ngựời ra đi. Thiếu sự phân biệt chính – phụ, trực tiếp – gián tiếp, chủ – khách thì khó mà tránh được nhầm lẫn.
Bốn câu đầu cực tả nỗi lòng xao xuyến, ảm đạm bất ngờ của người đưa tiễn – không có sóng mà có sóng, trời đang chiều mà mắt đã nhuốm hoàng hôn. Đây đúng là một tình cảm mới, bất ngờ, chưa dự kiến trước đối với người tiễn. “Đưa người, ta chỉ đưa người ấy”: một chinh phu đúng với dáng điệu chinh phu: “Một giã gia đình, một dửng dưng – Li khách! Li khách! con đường nhỏ – Chí nhớn chưa về bàn tay không – Thì không bao giờ nói trở lại! – Ba năm mẹ già cũng đừng mong”. Các chữ: “một”, “một”, “không”, “đừng” cực tả tính dứt khoát, cắt đứt mọi tình cảm thông thường của con người. Đoạn thơ thiên nói về ý tưởng ban đầu của người tiễn về người ra đi hơn là miêu tả thực tế của người ra đi trong cuộc tiễn đưa này.
Phần còn lại của bài thơ là sự hồi tưởng của người đưa tiễn để hiểu sâu hơn về người ra đi:

Ta biết người buồn chiều hôm trước,
Bây giờ mùa hạ sen nở nốt,
Một chị, hai chị cũng như sen
Khuyên nốt em trai dòng lệ sót.

Mùa hạ là mùa của sen. Hai người chị đẹp như sen mùa hạ, khóc hết nước mắt mà không giữ được em ở nhà. Vậy là hiểu thêm ý chí sắt đá của người đi, tuy có buồn nhưng không lay chuyển:

Ta biết người buồn sáng hôm nay
Giời chưa mùa thu, tươi lắm thay,
Em nhỏ ngây thơ đôi mắt biếc
Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay…

Trời đẹp, em thơ ngây, biết bao thương tiếc. Người ra đi không phải vì đói nghèo, vì bất hòa, mà thuần tuý chỉ vì chí lớn. Đó là con người nam nhi mà nhi nữ thường tình đã không còn sức trói buộc:

Người đi?ừ nhỉ, người đi thực!
Mẹ thà coi như chiếc lá bay,
Chị thà coi như là hạt bụi,
Em thà coi như hơi rượu say!

Người tiễn đã hiểu đến tận cùng người đi. Anh đã ra đi như một đấng trượng phu: chí lớn coi nặng như núi Thái; mẹ già, chị gái, em thơ đều coi nhẹ như lông hồng. Không một dấu hiệu nào cho ta thấy “ở lại thì bế tắc, nhưng ra đi chưa thấy gì tươi sáng cả”. Đó là sự lặp lại lối suy diễn về văn thơ lãng mạn một thời mà thôi. Xin đừng tìm ở bài thơ này sự ngợi ca một lí tưởng cụ thể nào đó, bởi đó không nhất thiết là điều phải nói trong thơ. Cũng đừng tìm ở đây sự tố cáo hiện thực nào đó. Bài thơ chỉ qua cuộc tống biệt mà thể hiện một sự lựa chọn bi kịch của con người không muốn sống tầm thường, đuổi theo chí lớn. Nhưng người đi không hề là cái máy thô sơ, mà là một con người: anh buồn chiều hôm trước, lại buồn sáng hôm nay, tràn trề thương tiếc. Anh hầu như không hề dửng dưng! Anh ra đi như một sự hi sinh chính những người ruột thịt của mình. Mỗi chữ “thà” trong câu thơ: “Mẹ thà coi như”, “Chị thà coi như”, “Em thà coi như”, đều biểu thị một sự lựa chọn. Một sự lựa chọn không dễ chút nào. Chọn bề nào cũng không tránh khỏi mất mát đau đớn. Lời thơ phải có chút lên gân để vươn lên bản thân mình. Nhưng dù thế nào, tình cảm thực của người ra đi vẫn được biểu hiện ra. Bài thơ vì vậy thấm đậm tình người, không hề một chiều, giản đơn.
Hành là thể thơ thịnh hành ở Trung Quốc vào thời Hán Ngụy, Lục Triều, có cội nguồn từ trong Nhạc phủ. Đặc điểm của nó là tự do, phóng túng, lớn, nhỏ, dài, ngắn đều không cố định. Lời thơ thường là lời nói làm cho cái chí trong bài hiện ra lồ lộ. Tống biệt hành của Thâm Tâm vận dụng các đặc điểm đó. Câu thơ bảy chữ tự do, đầy câu hỏi, câu nói, nhiều trùng điệp, vần trắc, vần bằng xen nhau tạo thành giọng thơ rắn rỏi, gân guốc, ngang tàng, vừa cổ điển, vừa hiện đại.

GS. Trần Đình Sử
(Báo Giáo dục và Thời đại, số 28 ngày 7/10/1992)

Phục cổ hay nhại cổ – Trường hợp “Tống biệt hành” – Châu Minh Hùng

Có lẽ người đầu tiên gieo rắc tư tưởng phục cổ cho bài thơ Tống biệt hành là Hoài Thanh – Hoài Chân. Khi tuyển bài thơ vào tập Thi nhân Việt Nam, nhà tuyển tập – phê bình chỉ viết vẻn vẹn mấy dòng sơ lược nhưng sau đó trở thành uy lực trong tiếp nhận và phê bình văn học: “Thơ thất ngôn của ta bây giờ thực có khác thơ thất ngôn cổ phong. Nhưng trong bài thơ dưới đây lại thấy sống lại không khí riêng của nhiều bài thơ cổ. Điệu thơ gấp. Lời thơ gắt. Câu thơ rắn rỏi, gân guốc. Không mềm mại uyển chuyển như phần nhiều thơ bấy giờ. Nhưng vẫn đượm chút bâng khuâng khó hiểu của thời đại”:

Đưa người, ta không đưa qua sông,

Sao có tiếng sóng ở trong lòng?

Bóng chiều không thắm, không vàng vọt,

Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?

Đưa người, ta chỉ đưa người ấy

Một giã gia đình, một dửng dưng…,

– Li khách! Li khách! Con đường nhỏ,

Chí nhớn chưa về bàn tay không,

Thì không bao giờ nói trở lại!

Ba năm, mẹ già cũng đừng mong

                      

Ta biết người buồn chiều hôm trước:

Bây giờ mùa hạ sen nở nốt,

Một chị, hai chị cùng như sen

Khuyên nốt em trai dòng lệ sót.

Ta biết người buồn sáng hôm nay:

Giời chưa mùa thu, tươi lắm thay,

Em nhỏ ngây thơ đôi mắt biếc

Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay…

Người đi? Ừ nhỉ, người đi thực!

Mẹ thà coi như chiếc lá bay,

Chị thà coi như là hạt bụi,

Em thà coi như hơi rượu say.(1)

Thi nhân Việt Nam thuộc số tuyển tập – phê bình xuất sắc nhất của văn học Việt Nam. Nhưng cũng chính cái vị thế này đã tạo cho tác giả của nó một thứ uy tín tai hại: những điều được người nói ra không có gì phải bàn cãi nữa, nhiều khi trở thành kinh điển trong học thuật. Rất nhiều những bài viết, trên báo chí và trên các trang giáo khoa, hoặc trích dẫn, hoặc mượn ý của Hoài Thanh – Hoài Chân làm nền tảng để phân tích, thẩm bình Thơ Mới. Trên một phương diện nào đó, đây chính là lối phê bình quyền uy, mượn uy tín của một người nổi tiếng (hoặc có thế lực nào đó) để khen chê tác phẩm như một thói quen vẫn tồn tại lâu nay ở Việt Nam.

Thực chất, tập Thi nhân Việt Nam không toàn bích và tác giả của nó không kiệt xuất đến mức xem như một kinh điển về phê bình thơ. Thứ nhất, về cơ bản, đây không phải là một tác phẩm mang tính học thuật mà chủ yếu là những nhận xét cảm tính. Thứ hai, đi vào khía cạnh các luận đề, có những nhận xét tinh tế sâu sắc bao nhiêu thì lại có những nhận xét đơn giản và nông cạn bấy nhiêu. Chung quy, vì đây là lối phê bình tri âm, lấy hồn ta để hiểu hồn người như có ai đó đã nói, và như thế, tất yếu có những trường hợp nhà phê bình Thơ Mới không thể tri âm được khi hồn ta khác với hồn người. Bằng chứng: người bình thơ hời hợt với Nguyễn Bính, mù mờ với Yến Lan, bất lực trước Hàn Mặc Tử, chào thua hiện tượng Xuân Thu nhã tập và cho qua nhiều tên tuổi khác trong làng Thơ Mới sôi động hiện thời.

Thâm Tâm không thuộc số những nhà thơ được tác giả Thi nhân Việt Nam ưu ái tuyển nhiều thơ và dành cho nhiều lời bình. Vẻn vẹn mấy dòng giới thiệu ở trên và bài thơ Tống biệt hành được dẫn ra ở dưới. Có lẽ, trong ý thức ban đầu của tác giả Thi nhân Việt Nam, bài thơ Tống biệt hành không xuất sắc như được thẩm định sau này mà nó chỉ là quân cờ cần thiết để bài binh bố trận cho sự đa dạng của một nền thơ giữa buổi giao thời. Ông muốn chứng minh cho cái luận đề: “Di sản tinh thần của cha ông ta đại khái hãy còn nguyên vẹn. Tôi tin rằng nó có thể đưa sinh khí đến cho thơ và cứu các nhà thơ ra khỏi một tình thế chừng như lúng túng. […]. Nếu các thi nhân ta đủ chân thành để thừa hưởng di sản xưa, nếu họ biết tìm đến thơ xưa với một tấm lòng trẻ, họ sẽ phát huy được những gì vĩnh viễn hơn, sâu sắc hơn mà bình dị hơn trong linh hồn nòi giống”(2). Trân trọng, ưu ái cái mới của Thơ Mới, nhưng nhà phê bình Một thời đại trong thi ca lại không muốn làm tổn thương cái cũ, đúng hơn là muốn bảo tồn những di sản truyền thống. Khác với các đại biểu tiền phong của phong trào Thơ Mới như Phan Khôi, Lưu Trọng Lư, Lê Tràng Kiều… đã từng tuyên chiến một cách cực đoan với thơ cổ, tác giả Thi nhân Việt Nam đã làm một cuộc hòa giải bằng cách Cung chiêu anh hồn Tản Đà làm cầu nối giữa hai thời đại thi ca: một mặt “tiên sinh đã dạo những bản đàn mở đầu cho một cuộc hòa nhạc tân kì đương sắp sửa”; mặt khác, “có tiên sinh, người ta sẽ thấy rõ chúng tôi không phải là những quái thai của thời đại, những đứa thất cước không có liên lạc gì với quá khứ của giống nòi”(3). Cách nói lưỡng phân này dễ được cả hai phía thơ cũ lẫn thơ mới đồng tình trong giờ phút bình tâm sau những cuộc khẩu chiến lẽ ra không phải nặng lời với nhau.

Tuy nhiên, điều người ta đồng tình với tác giả Thi nhân Việt Nam không chỉ có thể. Trong giờ phút bình tâm nhất để suy xét một cách thận trọng, người ta thấy, Thơ Mới về đại thể vẫn chưa thoát khỏi hấp lực của thơ cổ. Thể thơ, nhạc điệu thơ của Thơ Mới vẫn dựa trên cái nền của thơ ca truyền thống. Nó chỉ nới giãn diện tích của câu thơ, khổ thơ truyền thống cho vừa khát vọng của cái tôi cá nhân đang tìm đường giải phóng. Thậm chí rất nhiều hiện tượng dùng lại chất liệu thơ, âm hưởng thơ cổ như trường hợp Phạm Huy Thông, Vũ Hoàng Chương…, và cả ý thức phục cổ hoàn hoàn như Quách Tấn chẳng hạn. Trường hợp Thâm Tâm với Tống biệt hành không được xem là ngoại lệ trong hệ thống ấy. Bài thơ phục sinh một cách toàn diện những gì tưởng chừng đã bị khai tử: thể hành cổ kính, đề tài tống biệt với người ra đi – li khách xưa cũ, kể cả chất liệu thơ: sông, sóng, bóng chiều, hoàng hôn, sen, lệ, màu thu, lá bay, hạt bụi, hơi rượu say quen thuộc đến mức đã mòn về nghĩa, chứ không chỉ là điệu thơ gấp, lời thơ gắt, câu thơ rắn rỏi, gân guốc như tác giả Thi nhân Việt Nam đã nói trên kia. Tinh thần phục cổ này sẽ không giới hạn trong phạm vi phục cổ nữa khi có người tiết lộ một thông tin ngoài văn bản rằng Thâm Tâm viết bài thơ Tống biệt hành khi tiễn một người bạn lên đường đi kháng chiến (!?) để hóa thân li khách thành một người chiến sĩ cách mạng. Quan hệ có vẻ đồng tính giữa người tráng sĩ ra đi vì nghĩa lớn với khí khái anh hùng của người chiến sĩ cộng sản đã tạo ra sự suy diễn tùy tiện như thế. Tinh thần phục cổ trong ý nghĩa văn hóa của tác giả Thi nhân Việt Nam bỗng dưng biến thành tư tưởng phục quốc trong ý nghĩa chính trị của khuynh hướng xã hội học dung tục.

Hòa giải cũ – mới là ý thức bắt cầu cho hai bến bờ văn hóa vốn đứt đoạn trở nên liền mạch. Đó là ưu điểm lớn của tính cách Việt nhưng cũng là hạn chế của nhận thức và phát huy sáng tạo. Không phải ngẫu nhiên mà tác giả Thi nhân Việt Nam dù đề cao sự kiến thiết nhưng lại coi thường sự phá hoại. Nhà phê bình Thơ Mới dẫn ra bài hát nói khôi hài của Tú Mỡ:

… Cây tươi tốt, lá còn xanh ngắt,

Bói đâu ra lác đác lá ngô vàng,

Trên đường đi nóng dẫy như ngô rang,

Cảnh tuyết phủ mơ màng thêm quái lạ…

hay mấy dòng thơ thất ngôn khinh mạn của Lưu Trọng Lư:

Nắn nót miễn sao nên bốn vế,

Chẳng thơ thì cũng cóc cần thơ…

để chứng minh cho sự thiếu chừng mực trong cuộc đối đầu cũ – mới trong buổi đầu khai sinh một thời đại thi ca.

Theo tôi, cần coi trọng cái buổi ban đầu quyết liệt ấy. Chiếc cầu nối giữa hai bờ cũ và mới chỉ được dựng lên khi người ta tìm cách vượt nhanh qua cái cũ. Phải có ý thức đoạn tuyệt trước khi nối lại quá khứ đã mất. Lịch sử bao giờ cũng đi qua giai đoạn quá độ có tính cực đoan ấy. Ở buổi giao thời, khi chưa có sự chi phối của một tiếng nói chung, sự xung đột giữa hai nền văn hóa sẽ là một cuộc đối thoại gay gắt, theo cách nói của M. Bakhtin, nó sẽ tạo nên tính đa thanh, phức điệu trong mọi phát ngôn. Bakhtin không đặt ra tính đối thoại đa thanh cho thơ ca (khi đối lập với tiểu thuyết), nhưng nhận xét của ông lại mang tính phổ quát cho sự thực ngôn ngữ: “Trong ngôn ngữ, không có từ hoặc hình thức nào lại có thể trung tính hoặc có thể không thuộc về ai đó: tất cả ngôn ngữ hóa ra là bị phân tán, bị thấm đẫm các ý hướng, bị nhấn giọng […]. Trong từ, những hòa điệu mang tính ngữ cảnh (của thể loại, của xu hướng, cá nhân) là không thể tránh khỏi”(4). Sự thực ngôn ngữ ấy đã xuất hiện ở Thơ Mới Việt Nam mà trường hợp Tú Mỡ, Lưu Trong Lư ở trên kia là một ví dụ. Tú Mỡ đã giễu nhại thơ cổ, Lưu Trọng Lư đã cười cợt sự thất bại của những tao nhân mặc khách xưa. Văn bản Thơ Mới, trong trường hợp này, theo cách diễn đạt của J. Kriteva trong Bakhtin, từ, đối thoại và tiểu thuyết (5) đã thành liên văn bản (intertextuality): nó nối kết và đối thoại với văn bản trước đó. Đến đây ta có quyền nghi ngờ tinh thần phục cổ của bài thơ Tống biệt hành. Không phải là quan hệ liên văn bản theo hình thức sử dụng điển tích, điển cố để làm sống lại không khí riêng của nhiều bài thơ cổ mà là hình thức đối thoại đúng nghĩa mang tính xung đột với mục đích đoạn tuyệt, tiêu hủy cái đã lỗi thời một đi không trở lại.

Sự nghi ngờ này xuất phát từ âm hưởng bất thường của bài thơ. Âm hưởng bi tráng của bài thơ, theo tôi, chỉ là vẻ ngoài. Thực chất bài thơ không có chủ âm mà đa âm, phân hóa nhiều giọng điệu. Bốn dòng thơ mở đầu mang hình thức lập lờ nước đôi: “không… sao có…?”. Không đưa qua sông – không gian mịt mờ vô định. Bóng chiều không thắm không vàng vọt – thời gian hư ảo mông lung. Không gian – thời gian trở thành trống rỗng (10 vần ông, ong trong bốn dòng thơ gợi thêm cái cảm giác trống rỗng, hư vô ấy).Cái vô thanh của không gian chuyển thành cái hữu thanh của cảm xúc: Sao có tiếng sóng ở trong lòng? Cái vô sắc của thời gian hóa thành cái hữu sắc của nội tâm: Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong? Giọng điệu đan xen, kết hợp giữa phủ định và khẳng định, tồn tại và nghi vấn ấy đã tạo nên mạch đối thoại ngầm ẩn giữa các khuynh hướng trữ tình. Những dòng sông, bóng chiều là ngoại cảnh của bao cuộc phân li trong thơ cổ đã bị phủ định để thay bằng thế giới nội tâm của con người hiện đại. Bút pháp lấy cảnh ngụ tình của thơ cổ đã hoàn toàn bị phá vỡ. Hiện tượng này có xuất hiện trong thơ Huy Cận: Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà ở phần cuối bài thơ Tràng giang trong cuộc đối thoại với Thôi Hiệu bằng mối quan hệ liên văn bản với Hoàng Hạc lâu nhưng ở Thâm Tâm mới thực sự triệt để. Vứt hẳn ngay từ đầu nhân tố ngoại cảnh, con người thực sự trở thành sinh thể độc lập với khả năng tự khẳng định và thể hiện nội giới của mình. Trái tim tự nó mang cả dòng sông tiễn đưa và ánh mắt mang cả chân trời hoàng hôn li biệt. Cái tôi cá nhân được giải phóng, bé nhỏ nhưng mang trong mình mọi chiều kích lớn lao của đất trời, mọi vẻ đẹp của nhân gian. Âm vang con sóng ở trong lòng và sắc màu hoàng hôn trong mắt trong đã làm cho cái tôi của buổi giao thời mang trong mình cả một vũ trụ phân li. Tạo ra nghịch lí giữa ngoại cảnh và nội tâm, Thâm Tâm đã dựng lên đầy đủ sự xung đột giữa hai thời đại thi ca và cuộc đối thoại có tính bản chất nhất giữa thơ cổ và thơ mới.

Cuộc đối thoại này sẽ bộc lộ rõ nhất ngay chính trong cái gọi là âm hưởng bi tráng của bài thơ. Khúc tráng ca của một cuộc ra đi và nỗi bi thương trong giờ phút li biệt không hài hòa như nhiều bài thơ cổ mà phân xuất ra làm hai nửa đối nghịch trong cấu trúc của văn bản nghệ thuật.

Nửa đầu, sau bốn dòng thơ mang hình thức chập chờn nước đôi là khúc tráng ca vang lên như một sự bắt chước quá lố khẩu khí anh hùng thời trung đại: “Đưa người ta chỉ đưa người ấy… Ba năm mẹ già cũng đừng mong”. Giữa Đưa người ta không đưa qua sông và Đưa người ta chỉ đưa người ấy có một quan hệ song hành cú pháp với giọng điệu đoạn tuyệt và dứt khoát. Đoạn tuyệt dòng sông hay bến đò trong thơ cổ và dứt khoát chỉ đưa cái người li khách anh hùng cổ điển. Ý nghĩa mập mờ ngay trong chữ đưa: đưa tiễn theo nghĩa thông thường hay tống tiễn cái đã không còn giá trị. Chính hình thái song hành cú pháp trên cho phép chúng ta nghĩ sang nghĩa thứ hai. Nhà thơ của thời đại Thơ Mới muốn tống tiễn cái cũ của một thời còn ngự trị trong tâm lí của con người Việt Nam: kẻ ra đi chỉ có hành động mà không có nội tâm: một giã gia đình, một dửng dưng; chỉ có lí tưởng mà coi thường tình cảm: Chí nhớn chưa về bàn tay không; đề cao lí tưởng mà quên tình ruột thịt: Thì không bao giờ nói trở lại!/ Ba năm mẹ già cũng đừng mong. Ngôn từ cũ đến mức lẽ ra cần vứt bỏ, nói như người xưa: Duy trần ngôn chi vụ khử (Hàn Dũ), mới chăng là thái độ của nhà thơ đối với cách hành ngôn ấy. Sự đối lập: con đường nhỏ – chí nhớn phải chăng là sự đề cao ý chí của người anh hùng trước gian nan thử thách? Cách nói đại nhân hành tiểu lộ tôi dám chắc là cách nói mỉa mai (bởi vì trượng phu chọn con đường lớn mà tung hoành – Chinh nhân dĩ tại chinh đồ thượng). Không mỉa mai sao được khi cái gọi là chí nhớn trong bài thơ là cái gì không ai biết? Nó rất mơ hồ và rỗng tuếch. Con đường nhỏ ở đây chẳng qua chỉ chứng tỏ sự bế tắc về lí tưởng của cái tôi giữa buổi giao thời. Tôi không nghĩ mấy dòng thơ này mang cảm hứng ngợi ca mà chỉ là hình thức giễu nhại (parody) khẩu khí anh hùng của lối viết sử thi. Thâm Tâm đã nhại giọng điệu trong lời hát của Kinh Kha: Phong tiêu tiêu hề, Dịch thuỷ hàn/ Tráng sĩ nhất khứ hề, bất phục hoàn (Gió hiu hiu hề/ Sông Dịch lạnh lùng ghê/ Tráng sĩ một đi không trở về), kể cả nhại khẩu khí anh hùng ta thường gặp trong tuồng chèo. Đặt cách nói: Ba năm mẹ già cũng đừng mong trong bối cảnh cuộc sống hiện đại sẽ không khó nhận ra sự cường điệu quá lố (giống như lời đứa trẻ dỗi mẹ bỏ nhà đi hoang), cái hào hùng hóa thành cái hài hước. Anh chàng li khách bị vẽ nhọ bôi hề, xem chừng vừa giống Don Quijote của Cervantex, vừa  không khác nàng Mona Lisa với bộ râu mép trong tranh của Marcel Duchamp(6). Quả thực Thâm Tâm chẳng ưa gì cái hào khí giả tạo một thời được tán dương trong nghệ thuật cổ: Sông Hồng chẳng phải xưa sông Dịch/ ta ghét hoài câu “nhất khứ hề” (Vọng nhân hành). Ở phần này, Thâm Tâm đã nhại thể loại, nhại phong cách và nhại cả giọng điệu và ngôn ngữ của thi ca cổ. Tống biệt hành đâu chỉ là cuộc tiễn đưa giữa những cá nhân trong quan hệ đời thường mà là cuộc tiễn đưa mang tính thời đại – lịch sử, nói theo cách của Marx, là dùng tiếng cười tiễn đưa cái đã lỗi thời xuống huyệt một cách vui vẻ.

Nửa sau của bài thơ, trừ bốn câu cuối trở lại hình thức lập lờ nước đôi, là âm hưởng bi thương, nỗi buồn thăm thẳm của cái tôi thời đại Thơ Mới: “Ta biết người buồn chiều hôn trước… Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay”. Cái khẩu khí lạnh lùng được thay bằng giai điệu lưu luyến. Nếu cả bài thơ là một bản giao hưởng của hai dòng chảy văn hóa thì hai phần chính này của bài thơ là một nghịch âm với sự xung đột đầy kịch tính. Hình thức điệp cú pháp giữa Ta biết người buồn chiều hôm trước và Ta biết người buồn sáng hôm nay đã kéo dài âm hưởng của khúc bi ca, đối chọi, lấn át và tiêu hủy khúc tráng ca tưởng chừng mạnh mẽ nhưng rỗng tuếch ở trên kia. Người (có bản chép là ngươi) ở đây đã thành một con người khác: một con người không phải đứng giữa đất trời trống rỗng nữa mà đang đối diện với thân phận bé nhỏ của kiếp người. Một bà mẹ già mòn mỏi ở trên kia, thêm hai chị như sen cuối mùa, một em nhỏ ngây thơ – tất cả đều là những thân phận mong manh. Cái bi sinh ra từ trong thế đối lập giữa người ra đi mệnh danh là chí nhớn với những con người bé nhỏ đời thường. Người ra đi mang dáng vẻ ngạo nghễ (bởi vì sự hiên ngang khí phách bị cường điệu quá lố), còn người ở lại dùng dằng níu kéo (bởi những dòng lệ sót, bởi nỗi niềm thương tiếc). Không thể nói bài thơ Tống biệt hành mang âm hưởng bi tráng theo nghĩa cổ điển, bởi vì đây không phải là những giọt nước mắt lớn lao hay sự hi sinh cao cả. Nó chỉ là cái bàn cân bị xô lệch giữa một bên là cái lí tưởng được thăng hoa đến mức hão huyền giả tạo với một bên là tình cảm đau thương nặng nề của hiện thực. Nhưng cái xung đột có hiệu quả thẩm mĩ cho một cuộc đối thoại giữa hai nền văn hóa, hai bút pháp thể hiện chính là sự xung đột giữa ngoại cảnh và tình người. Thâm Tâm không dùng phép phủ định ngoại cảnh nữa mà dùng ngoại cảnh tạo ra  nghịch lí với tình người. Cuộc chia li diễn ra trong tổ ấm gia đình nhưng thật lạnh lẽo: tình cảnh mẹ, chị, em thật neo đơn, chiếc bóng. Bức tranh chia li trong thời điểm giao thời: cuối mùa hạ, sắp sửa sang thu, tươi lắm thay nhưng lòng người lại u uất hận chia li, giời không mưa nhưng lòng người đầy mưa tuôn.

Tống biệt hành, vì thế, nói về sự ở lại nhiều hơn là sự ra đi. Bởi vì sự ra đi với hào khí cổ điển: con đường nhỏ – chí nhớn, không bao giờ nói trở lại – ba năm mẹ già cũng đừng mong đã trở thành sáo rỗng với ấn tượng về sự hài hước: người anh hùng lẽ ra chết rồi trong quá khứ lại tiếp tục bước nhầm sang thời đại mới với bức chân dung bất hợp thời. Còn những con người ở lại với cuộc sống thương tâm đã neo vào lòng người đọc bao nhiêu niềm thương xót ngậm ngùi. Bốn dòng thơ cuối cùng quay trở lại hình thức nước đôi và hàm chứa đầy những nghịch lí:

Người đi? Ừ nhỉ, người đi thực!

Mẹ thà coi như chiếc lá bay,

Chị thà coi như là hạt bụi,

Em thà coi như hơi rượu say.

Không phải là tiếng kêu Li khách! Li khách! ra vẻ thán phục và kiêu hãnh nữa mà là nửa ngạc nhiên nửa ngậm ngùi: Người đi? Ừ nhỉ, người đi thực! Có âm vang hào hùng trong hình thức điệp: thà coi như và cũng vì cái âm hưởng giả tạo ấy mà người ta dễ nhầm lẫn hệ thống những hình ảnh: chiếc lá bay, hạt bụi, hơi rượu say đã khắc họa thêm lần nữa cái lí tưởng hào hùng của người ra đi, coi tình cảm nhẹ như lông hồng. Sao chúng ta lại không nghĩ rằng, đó chỉ là những hình ảnh so sánh với mẹ, chị, em để tái hiện một lần nữa những thân phận mong manh của cuộc đời? Ném cái điệp ngữ thà coi như mang tính chất tuồng chèo kia đi để nhìn thấy ấn tượng thực đằng sau vẻ hào hùng giả ấy là cái gì? Mẹ như chiếc lá bay – một thân phận đang sắp sửa lìa cành; chị như là hạt bụi – đóa sen tàn với thân cát bụi lại quay về cát bụi; em như hơi rượu say – đời đang thăng hoa nhưng cũng chỉ là kiếp đời phiêu du lãng đãng như sương khói. Bài thơ mở đầu bằng cõi hư vô cho một cuộc tiễn đưa và kết thúc lại là kiếp người trong cõi hư vô. Âm hưởng hào hùng không lấn át nổi khúc bi ca của thân phận. Đấy mới chính là cái tôi đích thực của buổi giao thời!

Điều tác giả Thi nhân Việt Nam nhận định về âm hưởng của bài thơ chỉ đúng một phần ở cấu trúc nhạc điệu. Hiển nhiên là bài thơ không mang cái âm hưởng mềm mại uyển chuyển như phần nhiều thơ bấy giờ, nhưng cái điệu thơ gấp, lời thơ gắt, câu thơ rắn rỏi gân guốc kia cũng chẳng phải làm sống lại không khí riêng của nhiều bài thơ cổ. Bởi vì phần lớn Thơ Mới vẫn tuân theo luật hòa âm cổ điển chứ ít khi có những phá cách triệt để. Tống biệt hành được cấu trúc bằng phương thức nghịch âm bất tuân những niêm luật vốn có của thể hành. Có câu thơ toàn thanh bằng: Đưa người ta không đưa qua sông; chen vào đó câu thơ nhiều thanh trắc: Sao có tiếng sóng ở trong lòng? Trong cõi mơ màng tĩnh lặng vẻ ngoài có cái âm vang sống động bên trong. Điều này sẽ được phát huy cao độ ở  Tây Tiến của Quang Dũng sau này. Nhưng Tây Tiến, về tổng thể vẫn là bản hòa âm của những nghịch âm với sự đan xen đều đặn giữa các thanh âm bằng – trắc. Trong khi ở Tống biệt hành, hệ thống các thanh âm bằng – trắc bị phân xuất ra làm hai nửa đối chọi nhau. Nửa đầu gieo vần bằng – vang – cao (sông, lòng, trong, không, mong) dựng dậy cái ngang tàng khí khái của một hiệp khách giang hồ. Nửa sau gieo vần trắc – tắc (vọt, trước, nốt, sót) tiếp liền với vần bằng – khép – trầm (nay, thay, tay, bay, say) khơi sâu vào sự u uất, bế tắc của phận người. Vần chân – dư âm của giai điệu, điểm nhấn của tiết tấu – vốn đồng chất trong thể hành – ở đây bị đặt trong thế vừa va đập vừa phân li thành hai đối cực. Hai làn sóng âm thanh bị dội ngược sau một tác động không hòa hợp dẫn đến hiệu ứng thẩm mĩ: cái đáng lẽ được trân trọng (nam nhi chi chí) bị đẩy sang ngưỡng hài hước và cái từng bị coi thường (nữ nhi thường tình) lại được nâng lên thành trân trọng. Tống biệt hành đảo ngược cấu trúc âm thanh của thi ca cố:

Ni ni như nữ ngữ

Ân oán tương nhĩ nhữ

Hoạch nhiên biến hiên ngang

Dũng sĩ phốc chiến tràng

Hàn Dũ khi hình tượng hóa sự biến hóa của tiếng đàn, một mặt, dùng hệ âm trắc – khép – trầm (nữ ngữ, nhĩ nhữ) để miêu tả âm thanh nỉ non, ai oán của phận nữ nhi, mặt khác, dùng hệ âm bằng – mở – vang (hiên ngang, chiến tràng) để làm bật lên khúc ca hào hùng của đấng trượng phu. Phép đòn bẩy này đã hoàn toàn mất hiệu lực khi dư âm còn lại trong Tống biệt hành không phải là âm hưởng hào hùng mà là giai điệu nỉ non, ai oán. Những hình ảnh mẹ, chị, em – phận nữ nhi thường tình một thời bị rẻ rúng – được nhà thơ của thời đại mới trân trọng nâng niu với bao nhiêu nỗi niềm sâu lắng.

Nếu xem Tống biệt hành không phải là một bài thơ trữ tình thuần túy (theo nghĩa bài thơ như là hình thức độc thoại riêng tư) thì có thể xem hình thức đối thoại của nó đã chạy sang tiểu thuyết và mang mầm mống của thi ca hậu hiện đại. Bài thơ nhại cổ để đoạn tuyệt cái cũ và khai sinh cái mới. Đến đây chúng ta không cần phải bàn cãi “hoàng hôn trong mắt ai”? hay phân biệt đâu là “ta”, đâu là “li khách”?. Đành rằng thơ, về mặt hiển ngôn là tiếng nói của nhà thơ, nhưng không phải bao giờ cũng độc giọng mà trong một điều kiện nào đó, ở chiều sâu hàm ngôn, có thể đa giọng, phức hợp nhiều tiếng nói trong một tiếng nói. Hơn nữa, theo lí thuyết của Bakhtin về nguyên lí đối thoại, ngôn ngữ là “lãnh thổ chung của cả người nói lẫn người nghe”, là “cầu nối giữa ta và người”; là “một nửa của người khác”(7).. Ta và người hay li khách chỉ là phương tiện để làm nên một cuộc phân li giữa buổi giao thời, ở đó diễn ra cuộc đối thoại ngầm tranh chấp giữa ra đi và ở lại. Nếu có một cuộc ra đi đích thực thì đấy chính là cuộc ra đi của cái đã lỗi thời với vẻ đẹp hào hoa giả tạo: ta tống tiễn người ở cái hào khí lạnh lùng giả tạo kia. Ở lại mới là cái đích thực của cuộc đời này: ta lưu luyến người và xót xa cho cái kiếp người mong manh nhưng chan chứa yêu thương. Theo lí thuyết liên văn bản của Kriteva, Tống biệt hành không là sản phẩm độc sáng của Thâm Tâm, nó chứa đựng nhiều văn bản khác trước đó và cùng thời, hiện hữu hoặc vắng mặt với phương thức trích dẫn hoặc chuyển hóa, lặp lại hoặc giễu nhại để tạo nên một văn bản mới: mới ở cách nhìn, ở thái độ, tư tưởng, ở giọng điệu, nhạc điệu và chiều sâu cấu trúc ngôn từ.

Nguyên tiêu Mậu Tý

CMH

———————————————————————————-

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Graham Allen (2000), Intertextuality, London: Routledge, tr. 20 – 28.
  2. J. Kriteva (1980), “Bakhtin, the Word, the Dialogue and the Novel”, Desire in Language: A Semiotic Approach to Literature, Léon S. Roudiez biên tập, Oxford: Blackwell và The Kristeve Reader.
  3. Hoài Thanh, Hoài Chân (1988), Thi nhân Việt Nam, Văn học, Hà Nội, Hội Nghiên cứu giảng dạy văn học, tp Hồ Chí Minh.
  4. Tzvetan Todorov (2004), Mikhail Bakhtin, nguyên lí đối thoại (Đào Ngọc Chương dịch theo bản tiếng Anh của Wlad Godzich), Đại học Quốc gia Tp Hồ Chí Minh, tr. 110 – 111.

 

(1) Hoài Thanh, Hoài Chân (1988), Thi nhân Việt Nam, Văn học, Hà Nội, Hội Nghiên cứu giảng dạy văn học, tp Hồ Chí Minh, tr. 258-259.

(2) Hoài Thanh, Hoài Chân, sđd, tr. 36.

(3) Hoài Thanh, Hoài Chân, sđd, tr. 6.

(4) Dẫn theo Tzvetan Todorov (2004), Mikhail Bakhtin, nguyên lí đối thoại (Đào Ngọc Chương dịch theo bản tiếng Anh của Wlad Godzich), Đại học Quốc gia Tp Hồ Chí Minh, tr. 110 – 111.

(5) J. Kriteva (1980), “Bakhtin, the Word, the Dialogue and the Novel”, Desire in Language: A Semiotic Approach to Literature, Léon S. Roudiez biên tập, Oxford: Blackwell và The Kristeve Reader.

(6)  Bức họa Marcel Duchamp nhại người đẹp trong tranh của Leona de Vinci.

(7) Dẫn theo Graham Allen (2000), Intertextuality, London: Routledge, tr. 20 – 28.

Nguồn: Phục cổ hay nhại cổ – Trường hợp Tống biệt hành

Về ba câu kết bài thơ Tống biệt hành – Hoàng Thái Sơn

NVTPHCM- Theo chúng tôi ba câu thơ ấy không nên nhìn với con mắt thực chứng, tách biệt với toàn bài, mà phải nhất quán trong mạch thơ cả bài, nghĩa là cũng “ý tại ngôn ngoại”…

Trong văn chương, đặc biệtvới thơ, thường chứa đựng những ẩn số khiến không chỉ người đọc, mà ngay cả người làm ra nó có khi cũng không hiểu nổi bởi những ý tưởng biểu đạt thường nhiều hơn cái mà nó biểu đạt, trong điều kiện đó chỉ có bản thân câu thơ mới tự biết nó nói lên những gì mà thôi! Ba câu thơ kết thúc bài thơ Tống biệt hành nổi tiếng của Thâm Tâm cũng trong loạt những câu rắc rối mà mọi tranh cãi vẫn chưa nguôi trong sự tạm lắng giữa bao bề bộn:

Mẹ – thà coi như chiếc lá bay,
Chị – thà coi như là hạt bụi,
Em – thà coi như hơi rượu say.

Nói rắc rối, là vì ý Thâm Tâm ra sao, hầu như không rõ; còn với người đọc, thì tuy đã nghe thấy những kết luận rồì, nhưng nhiều người vẫn chưa an tâm, lí do là chưa hẳn đã đúng. Kết luận ấy mọi người đã rõ: Ba câu thơ là những mất mát, đau thương, chia lìa hoặc của “người đi” dành cho người ở lại; hoặc của Mẹ, Chị và Em dành cho “người đi” qua những hình ảnh bi luỵ “chiếc lá bay”, “hạt bụi” và “hơi rượu say”! Rõ ràng với cách hiểu đó khiến người ta băn khoăn là phải, bởi người ta cần một sự tường minh chứ không chịu nghe theo cái lối nước đôi “hoặc nọ, hoặc kia” như thế. Ở đây tính đa nghĩa (mà “hoặc nọ, hoặc kia” cũng không phải là đa nghĩa) của thơ gần như khó được người đọc chấp nhận, bởi bài thơ có những yếu tố tự sự, có nhân vật (dù là nhân vật trữ tình), cụ thể là có kẻ đi, người ở, do vậy người đọc cứ muốn biết rõ ai buồn, và buồn cho ai trong mấy câu thơ kia, thêm vào đó còn là mức độ nỗi buồn sao tới mức bi thương, vô vọng đến thế?

 

Cùng tâm trạng trên với nhiều bạn đọc, chúng tôi vẫn nghĩ cách hiểu trên e không đúng, và cố gắng đi tìm cái cần tìm, và có thể chủ quan khi chúng tôi nói đã nhận thấy tia sáng trong con đường hầm tìm kiếm và nếu không phải, thì như vậy, công cuộc kiếm tìm lại vẫn phải tiếp tục thôi.
Điều chúng tôi muốn nói, là ba câu thơ trên chính là con mắt nhìn của “người đi”, một cách nhìn nhằm giảm thiểu nỗi nhớ thương, xa xót của “người đi” trước những giọt nước mắt người ở lại. Người ra đi tự tạo ra một tâm thế “dửng dưng”, biết mọi người buồn lắm, nhưng cũng cứ “coi như” không, “coi như” những giọt lệ kia nhỏ xuống bởi những lí do khác chẳng dính gì tới cuộc chia tay, chẳng hề buồn đau vì biệt li người đi, kẻ ở! Đó là nét ngang tàng của “trai thời loạn”, của người anh hùng gác tình riêng vì nghĩa lớn, sẵn sàng “da ngựa bọc thây” vào thời điểm đầy nhạy cảm của lịch sử. Con người có lúc cũng phải bày ra “cú lừa” vô hại rất cần thiết như vậy cho chính mình và người khác. Cái chữ “coi như” ở đây là một chọn lựa bản lĩnh của đấng nam nhi. Cách nhìn ấy đã làm “người đi” nhẹ lòng trên bước trường chinh, dẫu mọi nhớ nhung đâu phải vì thế mà phai nhạt trong lòng. Cách nhìn ấy cũng sẽ làm vợi bớt những giọt lệ của người ở lại, khi đọc thấy trong ánh mắt “người đi” một niềm lạc quan, không vướng bận gánh nặng gia đình …
Ta thử đi vào cụ thể.
Chúng tôi cho rằng lối hiểu lâu nay coi “chiếc lá bay” là chia lìa, có thể không đúng với ý tác giả. Lá bay không phải lá vàng bay, không phải lìa cành, không phải lá rơi tan tác trong thơ tự cổ chí kim ta từng thấy. Bay ở đây rất chủ động, là sự vận động, khác hoàn toàn với rơi rụng, chết chóc; có thể sánh với hình ảnh “cánh hồng bay bổng tuyệt vời” của Nguyễn Du nói về người anh hùng Từ Hải khi dứt áo ra đi, chứ không phải là sự đứt gãy, dứt mình khỏi cành để tìm đến huỷ diệt. Lá bay trong bài thơ mang một vẻ đẹp đầy tráng khí của người ra đi trong mắt người Mẹ, dĩ nhiên ẩn đằng sau đó vẫn là nỗi nhớ thương trong lòng, dù câu thơ không đề cập đến nhưng người đọc phải hiểu! “Người đi” không muốn mang theo ảnh hình nước mắt Mẹ già nên dù biết Mẹ khóc thương nhiều, cũng cứ xem như không. “Người đi” cứ “coi như” Mẹ già xem bản thân mình là gốc cổ thụ, còn đưá con là chiếc lá từ đó bay xa, chứ không phải lìa rơi. Người Mẹ, đối tượng đặc biệt của nỗi nhớ nhung đã được anh dành cho sự bình tâm nhất, cứng cỏi nhất trong lòng mình. Anh cứ xem Mẹ coi chuyến “hành” của người con như chiếc lá rời cành bay xa, mang theo sự sống đến gieo trồng chồi xanh nụ biếc vào một miền đất mới; lá bay như phấn thông vàng phiêu du trong gió đi tìm đất lạ …Chữ không mới, nhưng cách tạo nghĩa thì rất mới, đầy sáng tạo và giàu sức sống.
Hai đối tượng còn lại được nhìn ở góc nhìn khác, trực diện. Người chị khóc “người đi” nhiều lắm, bởi thương đứa em lắm lắm. Chúng tôi không dẫn lại những câu thơ ở phần trên nói về điều này nữa, mà muốn đi ngay vào câu thơ “Chị – thà coi như là hạt bụi”. Tác giả không để cho“Người đi” xem chị là hạt bụi trong nghĩa “thân cát bụi lại trả về cát bụi”; cũng không muốn chị có cái nhìn thê lương đó với đứa em. Theo chúng tôi, người chị dù đã khóc cạn lệ, người em biết, nhưng vẫn tự nhủ, tự động viên mình coi việc người chị rơi chút nước mắt chỉ như bởi do con mắt vương phải hạt bụi mà thôi, đâu phải khóc mình ra đi (Cần thấy trong ca dao xưa, trong thơ và ca từ ngày nay hình ảnh “hạt bụi trong mắt em” xuất hiện khá nhiều). Nghĩa là anh cũng “nhẹ hoá” những giọt lệ trĩu nặng của người chị đi để vững bước lên đường. Lại thêm một “coi như” rất “dửng dưng” và cần thiết nữa.
Cuối cùng, đứa em thơ. Quả tình lâu nay mọi người nói rất rành rọt hình ảnh “chiếc lá bay”, và “hạt bụi”, là mất mát, đau đớn; nhưng đến “hơi rượu say” thì cứ loanh quanh, bí nước, bởi chẳng tìm đâu ra mối liên hệ với sự đau đớn, chia lìa trong đó. “Em thà coi như hơi rượu say” nên hiểu thế nào đây ? Không lẽ nhà thơ “nói bừa” đi cho xong? Thật phiền phức! Đó là hệ quả của cách cắt nghĩa xưa nay không đủ sức thuyết phục.
Vậy hình ảnh “hơi rượu say” nơi đứa em thơ là gì? Phải chăng tác giả muốn diễn đạt chút bàng hoàng ở chú bé trước cuộc chia tay? Đứa em, trong con mắt anh, đỏ hoe đôi mắt bởi thương nhớ người anh đấy, cũng cứ “coi như” do môi nhấp chút rượu nồng khiến “đỏ mặt lên rồi chếnh choáng say” như nhà thơ Nguyễn Bính từng viết mà thôi, đâu có khóc bởi sự chia li!
Ba câu thơ, ba lần chữ “coi như” được lặp lại, rõ ràng đây là dụng ý nghệ thuật của tác giả. Ba câu thơ là sự phát triển của tính cách “người đi” một cách nhất quán: đã ra đi là quyết dứt áo lên đường, dù nhớ nhung bao nhiêu cũng đành “coi như” không!
Thật thú vị khi Mẹ, Chị, Em, mỗi người tác giả dành cho một cái nhìn đúng “của họ”, không thể thay cho nhau được. Một đảo lộn nhỏ cũng làm trật tính nết nhân vật, đó là điều mà lối hiểu truyền thống không có, ví dụ theo cách hiểu xưa nay, ta có thể hoán đổi hình ảnh Mẹ và Chị cho nhau cũng chẳng sao ( Chị – chiếc lá bay ; Mẹ- hạt bụi), đó là điều mà cách hiểu chúng tôi đưa ra không thể nào làm được, và cho thấy nhà thơ không phải vô lí, tuỳ tiện trong dùng hình ảnh, câu chữ trong ba câu thơ phức tạp này.
Một vấn đề đặt ra, là cách nhìn “nhẹ hoá” nỗi đau chia li nói trên có thể đặt vào con mắt Mẹ, Chị và Em được không? Theo chúng tôi là khó, bởi đó là những đối tượng vốn mau nước mắt, mềm yếu; họ đã khóc nhiều ở những câu thơ trước đó rồi, làm sao lại có nổi con mắt rao hoảnh, “dửng dưng” kia được. Tóm lại, đó chỉ duy nhất là cách nhìn của đấng nam nhi bừng bừng khí thế ra đi vì nghĩa lớn. Phải đặt bài thơ trong không khí sôi sục lên đường, “lạnh lùng vung gươm ra sa trường” của bậc trượng phu, mới thấy lối hành xử rắn rỏi, không chút uỷ mị của “người đi” trong mấy câu kết là tất yếu…
Bài thơ, như ai nấy đều biết, là đầy những câu ý tứ sâu xa, rất nhiều nghĩa chìm; vậy chẳng lí gì mấy câu kết lại chỉ có nghĩa đen trần trụi nếu chỉ hiểu như xưa nay (Mẹ như chiếc lá bay; chị như hạt bụi). Theo chúng tôi ba câu thơ ấy không nên nhìn với con mắt thực chứng, tách biệt với toàn bài, mà phải nhất quán trong mạch thơ cả bài, nghĩa là cũng “ý tại ngôn ngoại” như đã trình bày. Hiểu mấy câu thơ như đã trình bày không phải chúng tôi lên gân, cố gán cho bằng được cái gọi là “tinh thần lãng mạn cách mạng” vào, mà xét thấy vấn đề đáng được hiểu như thế, chữ nghĩa, hình ảnh trong thơ ở đây nên hiểu như thế và xin đưa ra một lối lí giải như thế trong tình trạng tiếng Việt vốn dễ nói, khó nghe, không thì không giống nhiều khi rất mông lung, khó đoán định nội dung một cách thấu đáo.
Xưa nay chúng ta coi ba câu thơ trên là cái kết bi thương, và xem đó là một hạn chế, từ đó, bài thơ Tống biệt hành chỉ dừng lại nơi vị trí là cái vạch nối của thơ lãng mạn và thơ cách mạng như ai nấy đã rõ. Điều này xét đến cùng không mấy băn khoăn, chẳng quan trọng gì, song vấn đề ở chỗ bài thơ cần được hiểu đúng như những gì đã thể hiện.
Tp. Đồng Hới, tháng 5.2009-1.2011

Những vần thơ không tiếng súng – Song Nguyễn

30/4- Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Trong cuộc hành quân gian lao và vĩ đại để đi tới Ngày đó, nhiều chiến sỹ đã ngã xuống, trong đó có những nhà văn, nhà thơ cầm súng. Họ hy sinh khi tuổi đời còn rất trẻ – chỉ trên dưới 30, cái tuổi mà có lẽ bút lực còn đang sung, cảm hứng còn ăm ắp. Chiến tranh là vậy, muôn đời không thể khác được cái quy luật nghiệt ngã của sự mất – còn.

Cá nhân tôi cho rằng, rất có thể trong số những nhà văn, nhà thơ Việt Nam đã hy sinh có người đã “tới đỉnh” trong sự nghiệp văn chương của mình và có người vẫn chưa tới, dù tác phẩm để lại đã được thời gian kiểm chứng. Nếu họ còn sống và đi tiếp con đường văn chương thì chúng ta có quyền hy vọng, nhưng giờ đây chỉ là niềm tiếc nuối và đành để lại cho những nhà văn đương thời, nhà văn tương lai lấp đầy vào khoảng trống ấy.
Nhà thơ Lê Anh Xuân, tên tuổi gắn liền với Dáng đứng Việt Nam, Thâm Tâm thì có Tống biệt hành, Nguyễn Mỹ là Cuộc chia ly màu đỏ, Trần Mai Ninh với Nhớ máu… Bên cạnh những thi phẩm mang đậm dấu ấn của cuộc chiến tranh vĩ đại của dân tộc ấy, các nhà thơ còn có những bài thơ của “miền lặng” tiếng súng, phải kể đến Con đường ấy – Nguyễn Mỹ, Chiều mưa đường số 5 – Thâm Tâm, Nước vối quê hương – Nguyễn Trọng Định, Tình sông núi – Trần Mai Ninh, Nhớ mưa quê hương – Lê Anh Xuân.
Ở tuổi 27, Nguyễn Mỹ viết về Con đường ấy – nơi mà tiếng súng đã tạm lùi xa, những người lính ngồi lại với nhau trong không gian yên tĩnh, cảnh vật mùa thu ở chiến trường bỗng ngưng đọng trong một khoảnh khắc, đúng vào lúc cái nhìn của người nghệ sĩ chạm vào:

“Con đường nhỏ
Đi giữa hai hàng cây
Cái con đường ấy mình đầy bóng râm
Con hươu sao đã duỗi nằm
Để nghe những tiếng thì thầm ở trên

Đôi bên là nắng
Thu đã đượm vàng
Nắng soi từng giọt nắng ngân vang
Ở trong nắng có một ngàn cái chuông”.

Hẳn nhiều người còn nhớ “Cái màu đỏ như cái màu đỏ ấy” rất gợi, không thể diễn tả rõ ràng, không thể cắt nghĩa rành mạch, vì đó là màu của tâm trạng. Và cái giọng điệu ấy không biết được ngân thêm hay bị cảm xúc đưa đẩy mà nhà thơ viết “Cái con đường ấy mình đầy bóng râm”. Đọc đến đây, chắc rằng độc giả đã nhận ra giọng điệu riêng của Nguyễn Mỹ dù hai bài thơ với hai nội dung, hai thời điểm khác nhau. Để một con đường như bao nhiêu con đường trên đất nước những ngày mưa bom lửa đạn tưởng chừng thân thuộc quá lại trở thành quá đỗi nên thơ khi mọi tàn khốc của chiến tranh tạm lùi xa. Tất cả như chuyển động thật chậm, khẽ khàng và mong manh trên con đường ấy. Những chiếc lá lấp ló trong khoảng sáng – tối của mặt trời và bóng râm trở thành đốm tròn lung linh như chiếc áo kiêu sa của loài hươu sao gọi mùa thu về. Có lẽ chỉ cần đến câu thơ gợi mở này độc giả đã biết thời gian đang được không gian dung chứa mà chưa cần đến lời khẳng định: “Thu đã đượm vàng”. Ở đây Nguyễn Mỹ không chỉ tả về con đường với sự tinh tế và rung cảm mà nó thể hiện một khát khao về ngày thanh bình.
Cùng viết về cái đẹp của dải đất hình chữ S thân thương, Trần Mai Ninh có những câu thơ:

Trăng nghiêng trên sông Trà Khúc
Mây lồng và nước réo
Nắng bột chen dừa Tam Quan
Gió buồn uốn éo
Bồng Sơn dìu dịu như bài thơ…
An Khê cao vun vút…
Mượn ai kín hộ nước nguồn về đây
Gặp sông Cầu khó rời tay

Trong con mắt thơ của Trần Mai Ninh, mọi thứ rõ ràng hơn. Cái đẹp hiển hiện ngay trước mắt mà không vương, không gợn đến sự tàn sát, đổ vỡ của chiến tranh. Mỗi địa danh là một bức tranh với hình khối và màu sắc khác nhau. Sự đan quện ấy làm cho tiếng thơ trở nên hào sảng, như muốn reo vui trên mỗi mảnh đất mà tác giả từng đặt chân đến. Nó trở thành động lực để gieo vào lòng người chiến sĩ niềm tự hào, quyết bảo vệ cái đẹp ấy. Ở cuối bài thơ “Tình sông núi”, nhà thơ viết: “Khi vui non nước cùng cười/ Khi căm non nước với người đứng lên/ Có mối tình nào hơn thế nữa? Nói bằng súng, bằng gươm sáng rền” như một khẳng định mà không chỉ của riêng tác giả.
Nếu như những nhà thơ chiến sĩ ưu ái dành cho thơ không gian tĩnh lặng, thoát lìa khỏi cuộc chiến tranh thì ngoài vẻ đẹp của thiên nhiên nói trên còn chiếm không nhỏ dành cho nỗi nhớ về hậu phương – nơi có quê hương in dấu tuổi thơ của mỗi người, có mẹ già và những con người để thương để nhớ cho người ra trận. Chắc hẳn nỗi nhớ ấy luôn thường trực trong lòng, như ngọn lửa âm ỉ cháy và chỉ chờ một ngọn gió như nguyên cớ là bùng lên:.

“Đêm rừng già đi nghe mưa rơi
Một mảnh áo tơi che chẳng kín người
Nước chảy qua môi hớp từng ngụm nhỏ
Bỗng nhớ mẹ già ngồi bên ấm giỏ
Nước vối mặn nồng ngọt ngào chuyện cũ”.

Từ ngụm nước vối đơn sơ của “đêm rừng già”, nhà thơ bỗng nhớ đến mẹ và rồi hình ảnh ấy bắc cầu cho hoài niệm. Cây vối già quê nhà “mỗi nhánh mốc gầy đều in dấu tuổi thơ”, và cứ đến mùa lại cần mẫn chắt chiu nhựa sống của mình để cho ra những “Nụ chín vàng mẹ lấy vào dấm ủ/ Hạt khô giòn trong nắng nhỏ xôn xao”, rồi cả những câu chuyện cổ tích về Sơn Tinh – Thuỷ Tinh háo hức trẻ con để đến nỗi “Cô láng giềng lén sang nghe trộm” rồi quên mất “bỗng hỏi dồn: Sơn Tinh thắng hay không?”. Lớp thời gian của quá khứ ấy bỗng như vỡ ra rồi lại được chắp nối thành hình ảnh thật ấm áp và thân thương mà chắc hẳn mối con người dù ở vùng quê khác nhau cùng tập hợp lại về đây, cùng có mặt trên chiến mỗi chiến trường đều có.
Quê hương là nơi chứng kiến những cuộc đưa tiễn của người ra trận nhưng cũng trở thành chốn đi về của người chiến thắng. Vì thế nỗi nhớ quê hương dường như tiếp thêm sức mạnh cho mỗi người con: “Chúng con đi giữa rừng đêm mưa xối/ Lòng vẫn ngọt ngào vị vối quê hương/ Súng chắc trong tay gạo cuốn bên sườn/ Theo bước chân nhau gạt cây băng tới/ Đất nước mình còn đạn thù cày xới/ Giục giã chúng con nhanh bước trong mưa”. Từ nỗi nhớ da diết, đến nỗi nhớ hiện hình như thế trên con đường hành quân, tác giả vừa được gặp lại quê hương và người mẹ trong phút chốc thì giờ đây nỗi nhớ lại phải tạm lắng lại cho những bước chân hành quân gấp gáp, đầy hăm hở quyết tâm. Và trong lúc gấp gáp ấy nhà thơ Nguyễn Trọng Định còn kịp nhắn gửi với mẹ “Mẹ hãy nhắn giùm con cô gái tuổi thơ: – Ta sẽ thắng như Sơn Tinh thủa trước/ Con sẽ về với bao nhiều hẹn ước/ Bên ấm vối nồng kể chuyện những chiến công”.
Cũng từ những cơn mưa chiến trường, nhà thơ Lê Anh Xuân (Nhớ cơn mưa quê hương), và nhà thơ Thâm Tâm (Chiều mưa đường số 5) cũng làm điểm tựa khơi gợi nỗi nhớ để đồng hiện hiện tại – quá khứ. Mưa trong cái nhìn của Thâm Tâm là mưa của “đồng rạ trắng” nơi đất tề lại được mưa và cảnh vật của núi rừng Việt Bắc làm tâm điểm. Tình quân dân gắn bó sâu sắc là ấn tượng khó phai trong lòng người lính và trở thành niềm tiếc nuối với mỗi chặng đường đi qua, mỗi con người đã gặp: “Ôi đâu rồi sơn nhân/ Đâu rồi anh du kích… Đâu rồi “nhình” với “a”…
Với Lê Anh Xuân thì mưa là những kí ức của âm thanh, hình ảnh mà từ tuổi ấu thơ mình đã khám phá: “Ôi cơn mưa quê hương/ đã ru hát hồn ta thủa bé/ Đã thấm nặng lòng ta những tình yêu chớm hé/ Nghe tiếng mưa rơi trên tài chuối, bẹ dừa/ Thấy mặt trời lên khi tạnh những cơn mưa/ Ta yêu quá như lần đầu mới biết/ Ta yêu mưa như yêu gì thân thiết”. Mưa như sự ký thác lưu giữ những thước phim tuổi thơ của những trò chơi, kỷ niệm. Nhưng chưa hết, từ cái hiện tượng bình thường của thiên nhiên ấy đã khiến cho tác giả suy ngẫm, liên tưởng. Từ lúc “phong ba dữ dội/ Mưa đổ ào như thác dồn trăm lối” được liên tưởng “Nghe như tiếng của cha ông dựng nước” hay “Mưa tạnh rồi, như mùa xuân nhẹ trổi”.
Cuối bài thơ Lê Anh Xuân tự đặt cho mình câu hỏi: “Đêm nay ta nằm nghe mưa rơi/ Nghe tiếng trời gầm xa lắc/ Cớ sao lòng lại xót đau?…” Bởi vì nỗi nhớ về quê hương và những người thân yêu máu thịt của mình là nỗi nhớ thiêng liêng mà mỗi con người đều có và được quyền có. Chúng ta tự hào, trân trọng bởi mình được sinh ra từ những con người mộc mạc và bình dị nhất đã làm nên lịch sử, được chôn nhau cắt rốn từ một vùng quê, một địa danh của tổ quốc.
Nếu đọc những bài thơ “Con đường ấy”, “Nước vối quê hương”, “Tình sông núi” khó có thể kết luận tác giả – những nhà thơ ấy là những người chiến sĩ trực tiếp cầm súng lao vào nơi khó khăn nhất của cuộc chiến tranh. Hơn ai hết, họ vẫn là con người với đầy đủ vui, buồn, nhớ, yêu thương và căm thù… Họ có đầy đủ dũng khí của một ngòi bút chiến sĩ và ngòi bút thi sĩ. Điều đó lý giải vì sao ngoài những bài thơ hừng hực như Nhớ máu, hiên ngang như Dáng đứng Việt Nam… nhà thơ lại có Tình sông núi và Nhớ mưa quê hương chất chứa biết bao tâm tình. Đọc những bài thơ như thế, độc giả và thế hệ thanh niên của thời đất nước hoà bình hiểu thêm và hiểu toàn diện hơn về người chiến sĩ một thời.
Giống như bao người chiến sĩ khoác ba lô trên vai và mong ngày được hát lên khúc khải hoàn, họ còn để lại những áng văn thơ giá trị cho cuộc đời. Và chính những tác phẩm ấy đã trở thành tượng đài kỳ vĩ sống mãi trong lòng công chúng, bất tử với thời gian.
Song Nguyễn

Nhớ Chiều mưa đường số 5 – Trương Tham

Chiều mưa đường số 5
Chiều mưa đồng rạ trắng
Đất tề sông quạnh vắng
Ngồi kín dưới nhà gianh
Nghe gió lùa ắng lặng
Chiều mưa đường số 5
Đôi mắt sao đăm đăm
Chứa cả trời mây nặng
Miền Việt Bắc xa xăm ?
Ôi núi rừng thương nhớ
Rét mướt đã hai năm!
Chiều mưa ngàn hoa nở
Hoa phới bay mùa xuân
Bếp sàn gây ngọn lửa
Chén trà ngát tình dân
Chiều mưa lùa các cửa
Ngày bộ đội hành quân
Mẹ già không nói nữa
Nước mắt nhìn rân rân…
Ôi đâu rồi sơn nhân
Đâu rồi anh du kích
Chiều mưa manh áo rách
Vác súng vượt lên đèo
Giao thông qua mũi địch
Đâu rồi “nhình” với “a”
Tiếng cười reo khúc khích
Đón chiến sĩ quay về
Sau trận đi phục kích
Chiều mưa giã gạo mau
Chầy tập đoàn thình thịch
Ôi núi rừng thẳm sâu
Trung đội cũ về đâu
Biết chăng chiều mưa mau
Nơi đây chăn giá ngắt
Nhớ cái rét ban đầu
Thắm mối tình Việt Bắc

(Thâm Tâm)

Lời bình:
Chuyện nào rồi cũng kết thúc, nhưng sau khi kết thúc rồi còn gì gửi lại cho những năm tháng tiếp theo, đó mới là điều đáng nói. Gần sáu mươi năm trôi qua mà đọc lại Chiều mưa đường số 5 của Thâm Tâm vẫn thấy ấm áp bồi hồi. Một số tuyển thơ, một số người giới thiệu bài thơ cho rằng bài thơ được sáng tác 1946. Nhưng theo Nguyễn Tuấn Khoa (con trai của nhà thơ) thì bài thơ được viết năm 1948 trong một chuyến công tác vùng địch hậu Liên khu III. Trong bài thơ nhà thơ có viết: Ôi núi rừng thương nhớ / Rét mướt đã hai năm, cũng như nhiều chi tiết khác thì e rằng bài thơ được viết năm 1948 mới đúng.
Bài thơ phảng phất như thể ngũ ngôn cổ phong mà đặc sệt một không khí của thơ ca kháng Pháp. Từ đất tề sông quạnh vắng đến hình ảnh người du kích với manh áo rách vác súng vượt lên đèo… với tiếng chày tập đoàn giã gạo rập ràng trong chiều mưa nơi rừng núi… Những gì trong những hình ảnh bình dị ấy cứ tỏa lên làm sống dậy không khí của một thời. Đã có bao bài thơ viết về mưa nổi tiếng: Buồn đêm mưa của Huy Cận. Trời mưa ở Huế của Nguyễn Bính …
Thâm Tâm có cách viết riêng độc đáo của mình. Hình như khi nào chưa phát hiện được điều gì mới mẻ độc đáo nhà thơ không làm thơ. Cho nên thơ Thâm Tâm để lại không nhiều mà mỗi bài đều gửi lại những suy nghĩ tình cảm, giọng điệu khó quên. Từ một chiều mưa giá lạnh, hoang vắng đến rợn người trên đất tề đã làm thức dậy những ấn tượng về những chiều mưa nơi núi rừng Việt Bắc giữa tâm hồn nhà thơ. Một chiều mưa xuân: Chiều mưa ngàn hoa nở… Một chiều mưa mẹ già tiễn bộ đội hành quân: Chiều mưa lùa các cửa… Rồi Chiều mưa giã gạo mau … Những chiều mưa có khoảng cách về không gian, thời gian được gọi về kết lại thành một bài thơ hoàn chỉnh giống như những hạt ngọc mến thương kết lại với nhau thành xâu chuỗi. Mỗi chiều mưa là một nỗi nhớ thương về cảnh về người nơi chiến khu kháng chiến. Chiều mưa nào cũng có những phát hiện tinh vi. Trong chiều mưa xuân “ngàn hoa nở”, “hoa phới bay mùa xuân”. Hồn xuân từ ngàn hoa nhẹ nhàng bay lên lan tỏa cả núi rừng chỉ gửi lại chút hương tình nồng ấm nơi chén trà với ngọn lửa vừa “gây” trên bếp sàn. Bà mẹ tiễn bộ đội hành quân “chiều mưa lùa các cửa”, như sự trống vắng ở trong lòng. Rồi trong lặng lẽ hiện lên “nước mắt nhìn rân rân”. Có nỗi nhớ đằm xuống, có nỗi nhớ âm thầm cất lên thành lời: Đâu rồi anh du kích… Đâu rồi “nhình” với “a”… Đơn vị cũ về đâu…

Mỗi câu hỏi là một ấn tượng, một nỗi mến thương thắm thiết trong lòng. Từng câu hỏi làm hiện lên những con người thân thương mà hình bóng như được tạc vào trong những chiều mưa. Là người du kích Chiều mưa manh áo rách/ Vác súng vượt lên đèo/ Giao thông qua mũi địch, đầy ấn tượng về những gian khổ, mà anh dũng quật cường. Phía sau câu hỏi bật lên tiếng cười trong trẻo đón bộ đội trở về trong chiến thắng. Nhìn thấy mưa rơi xuống trong chiều, nghe tiếng chày giã gạo mau… nhà thơ như dành cả tâm hồn để cảm nhận mến thương cuộc sống. Những chiều mưa được kết lại làm hiện lên bức tranh đời thường trong cuộc sống kháng chiến ở chiến khu Việt Bắc bấy giờ. Gian khổ, rét mướt, nhưng ấm cúng nặng tình nặng nghĩa. Tất cả đã trở thành ấn tượng mến thương không phai trong tâm hồn nhà thơ. Với Chiều mưa đường số 5 thơ Thâm Tâm đã thực sự bước vào thế giới thơ ca của một thời đại mới: Thơ ca kháng chiến chống Pháp. Cũng như những bài thơ thất ngôn ngũ ngôn nổi tiếng của mình, nhà thơ có lối gieo vần rất riêng góp phần tạo nên giai điệu riêng của thơ Thâm Tâm, nhà thơ thường sử dụng những thanh trắc cao hoặc những thanh trắc không cao không thấp tiếp nối với những phù bình thanh. Cứ như thế nối tiếp trong suốt bài thơ. Rồi bất chợt một thanh trắc thấp như rơi xuống cắm sâu vào cảm giác khó quên. Lối gieo vần ấy khi như đưa vút lên, khi gợi ra cảm giác chơi vơi bồng bềnh, khi thì như giọt sương gieo nặng xuống tâm tư, để lại một dư ba khó tả. Như gặp lại một vầng trăng cũ, mà ánh trăng vẫn rạng rỡ, ấm cúng lạ lùng bởi cái tình, cái nghĩa sâu đậm dành cho cuộc sống con người.

Chiều mưa đường số 5 là một bài thơ hay của nền thơ kháng chiến chống Pháp. Năm 1940, Thâm Tâm viết Tống biệt hành, tiễn một người bạn quyết tâm giã biệt gia đình ra đi vì chí lớn trong đời… Mấy năm sau nhà thơ lại lên đường đi vào cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc. Không hiểu người bạn của nhà thơ đưa tiễn ngày ấy có trở về hay không? Còn nhà thơ mãi mãi nằm lại trên một nẻo đường kháng chiến. Ông qua đời ở Việt Bắc, mảnh đất mà ông từng ấp iu thương nhớ những chiều mưa. Nhà thơ đã đi và đã đến.

Quy Nhơn tháng 8/2006

Đưa người ta không đưa qua sông – Mai Văn Hoan

.Đưa người ta không đưa qua sông. Sao có tiếng sóng ở trong lòng?…
TỐNG BIỆT HÀNH
Đưa người ta không đưa qua sông
Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
Bóng chiều không thắm, không vàng vọt
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?

Đưa người, ta chỉ đưa người ấy
Một giã gia đình, một dửng dưng…
Li khách! Li khách! Con đường nhỏ,
Chí nhớn chưa về bàn tay không,
Thì không bao giờ nói trở lại!
Ba năm mẹ già cũng đừng mong.

Ta biết người buồn chiều hôm trước
Bây giờ mùa hạ sen nở nốt,
Một chị, hai chị cũng như sen,
Khuyên nốt em trai dòng lệ sót.

Ta biết người buồn sáng hôm nay
Giời chưa mùa thu tươi lắm thay,
Em nhỏ ngây thơ đôi mắt biếc,
Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay…

Người đi? Ừ nhỉ, người đi thật!
Mẹ thà coi như chiếc lá bay,
Chị thà coi như là hạt bụi,
Em thà coi như hơi rượu say…
Thâm Tâm

Khi phân tích, bình giảng, tranh luận về Tống biệt hành của Thâm Tâm, các bài viết thường quan tâm đặc biệt đến hình tượng người ra đi. Người ra đi là ai? Một chiến sĩ cách mạng? Một đấng trượng phu? Hay một chàng lãng tử? Người đưa tiễn cũng được nhắc đến nhưng chưa được quan tâm đúng mức. Trong khi đó theo tôi mấu chốt bài thơ chính lại nằm ở người đưa tiễn. Ngay hình tượng người ra đi cũng chủ yếu được thể hiện qua lời của người đưa tiễn. Ở bài thơ này Thâm Tâm đã nhập thân vào người đưa tiễn. Người đưa tiễn vừa là nhân vật trữ tình vừa là đối tượng trữ tình. “TA” đang nói với “TA”. “TA” đang nói với chính lòng mình. Vấn đề đặt ra là “TA” có quan hệ thế nào với người ra đi? Đó là chìa khóa để giải mã những khoảng trống, những nét mờ trong những câu thơ, đoạn thơ gây nhiều tranh cãi.
Nếu đọc lướt qua Tống biệt hành rất dễ ngộ nhận “TA” là một đấng nam nhi, bởi cái chất giọng rắn rỏi, gân guốc mà Thâm Tâm tạo nên trong bài thơ. Đọc kĩ lại, tôi nhận thấy ngoài chất giọng rắn rỏi, gân guốc, Tống biệt hành còn ẩn chứa một chất giọng khác rất sâu lắng, rất trữ tình và đầy nữ tính. Kiểu xưng “TA” và gọi người ra đi là “NGƯỜI” đã phần nào giúp tôi đoán được mối quan hệ của họ. Tú Xương đã từng nhắn gửi với người mình yêu: “Ta nhớ người xa cách núi sông…”; Nguyễn Du cũng từng để nàng Kiều tự dằn vặt mình: “Vì ta khăng khít cho người dở dang…”. Qua giọng thơ trữ tình, qua cách xưng hô và chủ yếu là qua sự bộc bạch nội tâm trong Tống biệt hành, tôi tin chắc rằng Thâm Tâm đã nhập vai bạn gái của người ra đi. Nàng rất hiểu, rất yêu chàng trai nhưng tình yêu đang còn dồn nén trong lòng. Chính sự dồn nén ấy đã tạo ra chất giọng trữ tình, sâu lắng rất khó nhận diện trong suốt bài thơ.

Hãy thử đọc lại bốn câu mở đầu:

Đưa người ta không đưa qua sông
Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
Bóng chiều không thắm, không vàng vọt,
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?

Đôi “mắt trong” chứa đầy “hoàng hôn” kia chỉ có thể là mắt của phái đẹp! Nếu nói đây là mắt của “em nhỏ ngây thơ” thì không hợp với hai câu trên. “Tiếng sóng lòng” và “hoàng hôn” chỉ có “TA” nghe, “TA” thấy, “TA” ngạc nhiên và “TA” tự đặt câu hỏi với chính mình. Có người bắt bẻ: Sao “TA” lại thấy hoàng hôn trong mắt “TA” được? Xin thưa: “Tiếng sóng” và “hoàng hôn” ở đây đâu nghe bằng tai đâu thấy bằng mắt. “Tiếng sóng” và “hoàng hôn” không ở ngoài vào mà từ trong ra. Đó chính là nỗi vấn vương, nỗi buồn mênh mông của người đưa tiễn. Nàng ngạc nhiên chính vì mãi đến lúc đưa tiễn nàng mới cảm hết nỗi trống vắng trong tâm hồn khi biết rằng người mà mình thầm yêu, trộm nhớ ra đi khi không hẹn ngày trở lại.
Nàng tự thú với lòng:

Đưa người, ta chỉ đưa người ấy
Một giã gia đình, một dửng dưng…

“Ta chỉ đưa người ấy” là một cách nói tránh rất tế nhị, rất kín đáo. Điều nàng muốn khẳng định với mình là: ta yêu người ấy! Có điều giữa ta và chàng chưa ai dám thể hiện ra bên ngoài. Cả hai cố làm ra vẻ “dửng dưng”. Những người xung quanh không một ai biết “tiếng sóng” trong lòng và “hoàng hôn” trong mắt người đưa tiễn. Nàng mượn giọng của chàng nói với mẹ “Ba năm mẹ già cũng đừng mong”. Thực ra nàng đang nói với chính mình. Nàng đang linh cảm về nỗi đợi chờ khắc khoải của người thân và cả của chính nàng. Ẩn sau câu thơ mạnh mẽ, dứt khoát kia là nỗi nhói đau của lòng người đưa tiễn. Nàng bộc lộ kín đáo quá nên ít người để ý. Nàng tiếp tục nói với mình:

… Ta biết người buồn chiều hôm trước

… Ta biết người buồn sáng hôm nay…

“Ta biết” chứ không phải “ta thấy”. Nỗi buồn kia chàng có để lộ ra bên ngoài đâu mà có thể thấy. “Ta biết” là vì ta quá hiểu chàng, quá hiểu nội tâm của chàng. Phải là người tri âm, tri kỷ mới biết một cách sâu sắc như vậy. Biết, nên không những nàng cảm thương cho mẹ, cho các chị, cho em chàng mà còn cho chính nàng.
Khổ kết bài thơ vẫn là lời độc thoại của người đưa tiễn:

Người đi? Ừ nhỉ, người đi thực!
Mẹ thà coi như chiếc lá bay,
Chị thà coi như là hạt bụi,
Em thà coi như hơi rượu say.

“Người ấy” đã ra đi mà nàng vẫn không tin. Nhưng sự thực vẫn là sự thực! Sự thực ấy làm lòng nàng quặn thắt. Câu thơ chứa đựng nỗi niềm đầy luyến tiếc, đầy day dứt của người đưa tiễn. Nàng mượn lời chàng để thể hiện cái quyết tâm sắt đá của chàng. Nếu hiểu: xin mẹ hãy coi con như chiếc lá, xin chị hãy coi em như hạt bụi, xin em hãy coi anh như hơi rượu thì vừa không phù hợp với cấu trúc câu thơ lẫn ý đồ của tác giả. Cần phải phân biệt sự khác nhau của hai cách diễn đạt… Nếu người ra đi coi mẹ như chiếc lá, coi chị như hạt bụi, coi em như hơi rượu thì đúng là không lôgíc, không đúng với bản chất của chàng. Nhưng ở đây Thâm Tâm viết: “Mẹ thà coi”… “Chị thà coi”… “Em thà coi”… “Thà coi” có nghĩa là không muốn như vậy, nhưng buộc phải làm như vậy. “Thà chết chứ không chịu làm nô lệ!”. Chết ai có muốn, nhưng sống trong nô lệ còn đau khổ hơn nên thà chết, thà hy sinh để giành cho được độc lập tự do! Chàng đâu có muốn xa mẹ, xa các chị, xa em, xa cái người đang yêu chàng tha thiết nhưng vì tiếng gọi của lý tưởng chàng đành hy sinh tất cả. Nên nhớ rằng đây không phải là lời của người ra đi mà là độc thoại nội tâm của người đưa tiễn. Nàng ý thức được sự hy sinh cao cả của chàng nên không hề trách móc, oán giận chàng. Tất cả những trạng thái tình cảm đó nàng dồn nén vào bên trong, nàng tự biết với lòng mình.
Không tìm hiểu mối quan hệ giữa người ra đi với người đưa tiễn, không đi sâu phân tích nội tâm của người đưa tiễn thì rất khó lí giải được một số câu thơ có vẻ “bí hiểm” trong Tống biệt hành.

MAI VĂN HOAN