
Có một cách hình dung về đội ngũ những người sáng tạo văn học, căn cứ vào mức độ gắn bó với nghề ta có thể chia làm hai loại: Một, những người nếu không viết họ vẫn sống được, họ có thể bỏ bút đi làm nghề khác, ừ thì cũng có một chút lưu luyến nào đó với nghề, nhưng mà văn chương chẳng phải là…tất cả, cuộc đời còn có những thú vị khác hơn; và hai, những người nếu không viết thì không thể sống nổi, hiểu theo nghĩa cụ thể, vật chất, và cả với nghĩa tinh thần của nó. Không sống nổi bởi vì, nếu không viết văn thì họ chẳng biết làm gì, họ không có cái khả năng mưu sinh bằng những nghề khác, họ không thạo đi giữa cuộc đời.
Không sống nổi bởi vì cái đam mê văn chương như là định mệnh, nó cứ ám anh suốt đời. Có lúc rơi vào chán nản, muốn vứt hết chữ nghĩa văn chương đi, nhưng rồi bất ngờ nó lại hiện về, nó rủ rê quyến rũ anh, anh lại vồ lấy bút, lại đêm đêm độc lực viết như thiêu thân, viết như hành xác, viết đến lao lực… Nhà văn Thâm Tâm thuộc trường hợp thứ hai, nghĩa là Thâm Tâm sinh ra để làm nghệ sĩ. Như người ta vẫn thường nói: Văn chương nó chọn anh, chứ không phải anh chọn văn chương. Vâng, văn chương đã chọn Thâm Tâm để cất cánh trở thành thơ ca và truyện ngắn, trong đó có những vần thơ bất hủ, và một số áng văn xuôi đẹp đẽ.
Gia cảnh Thâm Tâm rất cơ hàn, túng quẫn. Từ Hải Dương lên Hà Nội (1938), kéo theo cả nhà gồm cha mẹ già, hai người chị cùng bốn đứa em còn nhỏ và người vợ, có đến cả chục miệng ăn như tằm ăn rỗi. Ngần ấy người dồn ép vào sống trong một căn nhà thuê tháng rộng khoảng chừng hai chục mét vuông. Thâm Tâm nhận việc đóng sách cho nhà in Mai Lĩnh rồi mang về cho cả gia đình làm, còn riêng mình thì đi vẽ tranh minh hoạ cho các báo, làm thơ, viết truyện, viết kịch, viết tạp văn…gửi đăng các báo vừa để sinh nhai, vừa thoả cái mộng văn chương hằng ấp ủ. Có nghĩa là ông viết cật lực, chẳng kén chọn gì lắm về đề tài, thể loại, nơi in…
Nhà văn Vũ Bằng kể lại: Khi đương giữ chân thư ký toà soạn cho tờ Tiểu thuyết thứ bẩy quãng năm 1941- 1943, ông thấy gia cảnh bạn mình túng thiếu, nên thường ưu tiên cho đăng của Thâm Tâm hai bài trong một số (hoặc một truyện, một thơ, hoặc một truyện, một kịch với hai bút danh: Thâm Tâm và Tuấn Trình) để bạn mình có chút đỉnh nhuận bút. Bây giờ nếu ai có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với tờ Tiểu thuyết thứ bẩy vào quãng thời gian này sẽ thấy liên tục trên các số báo có tác phẩm của Thâm Tâm với hai bút danh như vậy. Ngoài ra ông còn viết cho Truyền bá, Phổ thông bán nguyệt san (cũng của nhà Tân Dân), Tiểu thuyết thứ năm của Lê Tràng Kiều (chủ bút) và một số báo khác. Tính sơ bộ trong tài liệu mà chúng tôi sưu tầm được, ông có hàng chục bài thơ, 70 cái truyện ngắn truyện dài, trên chục vở kịch, một số tạp văn… ra đời trong quãng thời gian này. Có thể khẳng định rằng cái động cơ thôi thúc Thâm Tâm viết được nhiều như vậy chủ yếu thuộc về lý do mưu sinh, viết văn để kiếm sống, để phụ giúp vào một gia đình mà lúc nào cũng có nguy cơ đứt bữa.
Có thể ai đó sẽ cho rằng cách giải thích này không được “thơ” cho lắm, nhưng quả thật như thế (Cơm áo không đùa với khách thơ)! Mà chẳng cứ gì Thâm Tâm. Nhiều nhà văn nhà thơ ưu tú của chúng ta thời đó vướng vào nghiệp văn chương, cũng đã từng lận đận mưu sinh bằng ngòi bút. Kể từ bậc “trưởng lão” Tản Đà, cho đến Ngô Tất Tố, Lê Văn Trương, Lan Khai, Thạch Lam, Nam Cao, Tô Hoài và rất nhiều nhà văn khác. Vũ Trọng Phụng chẳng đã từng vừa ôm ngực vừa ho vừa viết, viết đến lao lực rồi chết đó sao.
Mà đã viết mưu sinh thì không thể không chạy theo số lượng. Tác phẩm được in ấn càng nhiều, thì cái nồi cơm trong mỗi bữa lại càng đầy, trong bữa ăn mọi người đỡ phải trông nồi ý tứ nhường nhau, mới dám nhìn thẳng vào mặt nhau một cách tự nhiên, thành thực. Chẳng may trong nhà có ai ốm đau, con cái có đứa nào sài đẹn mới có cái để chạy thuốc men cho đỡ tủi.
Tuy nhiên, ở những nhà văn có tài, trong số các văn phẩm ít nhiều chạy theo số lượng ấy vẫn có những tác phẩm đỉnh cao như thường. Vâng, phải có tài, người có tài thì ngay cả khi viết trong một điều kiện ngặt nghèo nhất, hoặc viết chạy theo một mục đích sát sườn nhất thì các trang viết vẫn cứ có thể lấp lánh như thường.
Tống biệt hành của Thâm Tâm là một thi phẩm thuộc vào hàng đỉnh cao sáng giá như vậy. Xin kể lại một kỷ niệm thời còn học đại học vào quãng những năm sau ngày giải phóng miền Nam 1975, lúc bấy giờ hầu hết Thơ Mới đang còn bị định kiến, bị hiểu lầm. Cho nên trong giới sinh viên, ai biết được bài nào liền thì thụt đọc hoặc chép cho nhau, vì thế nên có tình trạng tam sao thất bản. Riêng với bài Tống biệt hành, lứa sinh viên bọn tôi chỉ biết có bốn câu đầu. Vì là thể hành, nên đoán chắc bài thơ sẽ còn dài nữa, nhưng chẳng mấy ai biết phần tiếp theo là như thế nào, mà hỏi thầy thì không dám. Thôi thì đành ngâm nga bốn câu thơ đầu:
Đưa người, ta không đưa qua sôngSao có tiếng sóng ở trong lòng?Bóng chiều không thắm không vàng vọtSao đầy hoàng hôn trong mắt trong?
Phải thừa nhận rằng bốn câu mở đầu này có một sức quyến rũ mê người. Và hầu hết trong số chúng tôi đều coi mấy câu thơ ấy viết về tình yêu, viết về cuộc tiễn biệt của trai gái yêu nhau nào đó. Bảo là nỗi buồn nặng trĩu trong lòng đôi người yêu nhau kẻ đi người ở có gì là sai đâu. Chúng tôi lại còn ngâm nga, thậm chí viết tặng vào sổ tay bạn gái như một gửi gắm vu vơ. Sau này, khi định kiến đối với Thơ Mới dần được gỡ bỏ, tư liệu về Thơ Mới được công bố công khai, rộng rãi, mới biết rằng không phải như thế. Hoá ra bài thơ là câu chuyện và tâm sự của hai người đàn ông tráng chí nặng tình tiễn biệt nhau, một ở lại một lên đường vì chí lớn.Thậm chí lại có tư liệu cho biết nhà thơ Thâm Tâm viết tặng cho một người bạn hoạt động bí mật trong tổ chức cách mạng nhân lần tiễn bạn đi chiến khu chiến đấu (1).
Tuy nhiên, không vì thế mà ý nghĩa bài thơ bị bó hẹp vào một cách giải thích cụ thể nào, hoặc vẻ đẹp của nó bị suy giảm. Bài thơ đã được đưa vào trong chương trình văn THPT. Bài thơ đã gây ra những thảo luận, tranh luận sôi nổi một dạo. Có những cách hiểu khác nhau ít nhiều, điều này càng chứng tỏ tầm vóc của thi phẩm. Một tác phẩm hay, nó không chịu nằm yên trong một cách hiểu duy nhất nào, mà nó luôn muốn vượt thoát để đến với tất thảy mọi người, thuộc về mọi người. Như hương của một loài hoa quý, nó dâng tặng mọi người, nhưng hễ ai có ý định “nhốt” mùi hương lại đều cảm thấy ít nhiều thất bại. Với bài thơ bất hủ này, nhà văn Vũ Bằng, một người bạn đàn anh của Thâm Tâm đã tặng Thâm Tâm một thi hiệu nghe lạ lạ và thú vị: Nhà phù thuỷ hô sóng vào lòng và gọi hoàng hôn lên mắt(2).
Cũng lại Vũ Bằng, ông bảo Thâm Tâm là một người ốm yếu mà can đảm((3) 3), ý muốn nói thân hình Thâm Tâm thì nhỏ bé, da hơi đen, hơi gầy, ít nói, mà làm thơ viết văn thì hay nói đến cái tráng chí, cái hùng khí của con người. Quả thật, trong thơ của Thâm Tâm, thấy ông nói rất nhiều về niềm sầu hận, có khi trực tiếp, có khi xa gần gián tiếp:
Tan tiệc quần anh, người nuốt giậnThằng bó văn chương đôi gối hậnChán ngắt gia tình sầu ngất ngấtGià teo thân thế hận mang mangTro tàn có đốt không hồng nữaThắt lạnh bên lòng nỗi hận thươngLòng ai bầm tím, ai buồn tốiCũng tại rừng đời lạc lối ra
Sầu hận là một trạng thái tâm lý chỉ có đến giai đoạn cuối của phong trào Thơ Mới mới xuất hiện, nghĩa là vào quãng từ 1940 trở đi. Trước đó chỉ có thấy sầu mộng (Lưu Trọng Lư, Thế Lữ…), sầu đơn, sầu tủi, u sầu (Xuân Diệu, Nguyễn Bính…). Những nỗi sầu đó về cơ bản vẫn không nằm ngoài một chữ tình. Vượt ra khỏi chữ tình một chút, với Huy Cận, lại là vũ trụ sầu. Đến thời này, sự bế tắc của đời sống cá nhân nghệ sĩ đã lên đến tột đỉnh. Vũ Hoàng Chương phải kêu lên: Lũ chúng ta lạc loài dăm bảy đứa- Bị quê hương ruồng bỏ, giống nòi khinh. Trần Huyền Trân thì: Kinh thành mây đỏ như son- Cái lồng eo hẹp giam con chim trời. Đến Nguyễn Bính, cũng đã chán cảnh “giang hồ vặt”: Đất khách cùng đường ta khóc ta. Ngay cả Xuân Diệu của những năm 42-43 khi đang lưu lạc ở Mỹ Tho cũng đã bắt đầu thấy nhắc đến hai chữ “sầu hận”: Ngủ đi, ngủ đi, sầu hận muôn năm (Riêng tây)…
Nếu như các trạng thái sầu trên kia có nguyên do trực tiếp từ tâm tình cá nhân thì đến sầu hận, nguyên do lại bắt nguồn từ thời thế, từ những vang động xã hội. Một câu hỏi trực diện đặt ra cho bất cứ người nghệ sĩ nào lúc này là: Đi về đâu? Câu hỏi đó lập tức bắt người nghệ sĩ phải đối mặt với thời cuộc. Đi tìm giải pháp cho cách thế tồn tại của cuộc đời, mỗi người lựa chọn theo những cách khác nhau. Có người vùi mình vào những hưởng thụ cá nhân, nên bế tắc lại càng bế tắc. Có người nỗ lực tìm đường đổi thay số phận, không chịu bị cuộc sống đè bẹp. Trong những nỗ lực cảm động đó, có Thâm Tâm. Thơ ca cũng như văn xuôi của Thâm Tâm có khá nhiều tác phẩm trình bày hình ảnh người ra đi. Người ra đi này thường được đặt trong tình huống tống biệt, chia ly. Thông thường người ra đi là một người mang sầu hận, ôm chí lớn, và bữa rượu tiễn biệt đều có những nhân vật mang dáng dấp trượng phu hoặc chiến binh thời trung đại. Uống rượu thì phải ném vỡ tan chén rượu, phải tỏ chí ngang tàng, lắm khi nói lời thề thốt:
Thở phù hơi rượu đua tranhQuăng tay chén khói tan thành trời mưa
Ly khách! Ly khách! Con đường nhỏChí lớn chưa về bàn tay không
Có người rắp tâm ôm chí lớn nhưng không thành, quyết nuôi chí phục thù. Hình ảnh Huyền Sinh trong truyện ngắn Lá quạt hoa quỳ là một người như vậy. Chí lớn không có cơ thực hiện, người yêu bị Quỷ vương chiếm đoạt, chàng tưởng như lâm vào tuyệt vọng. Chàng giả điên để chờ thời. Người điên này chiều chiều thả vào trời đất tiếng sáo ai oán của mình. Thế rồi một hôm, một người có dáng trượng phu đến gặp rủ đi. Từ bấy chàng điên mất tích. Chàng đã lên đường. Đó là một hình ảnh ẩn dụ, nhuốm mầu bi tráng.
Tất cả những điều đó nói với chúng ta rằng Thâm Tâm thuộc trong số không nhiều các nhà văn có khí cốt mạnh mẽ lúc bấy giờ. Họ không thích kêu rên, than khóc. Cũng không muốn chết chìm vào trong những khoái thú cá nhân. Họ muốn đổi thay, muốn lên đường. Dòng huyết mạch chảy mạnh mẽ trong cơ thể họ. Quả tim trẻ tuổi đang đập rộn trong lồng ngực họ. Thơ của Thâm Tâm, Trần Huyền Trân có cái ngang tàng, khoẻ khoắn, dám đi “ngược gió” giữa đời. Sự thực là sầu hận và chí lớn đã tạo nên cái “chút bâng khuâng khó hiểu của thời đại” trong Tống biệt hành như Hoài Thanh đã từng cảm nhận. Tôi nghĩ rằng nếu nói lúc viết Tống biệt hành (1940-1941) Thâm Tâm đã đứng vào hàng ngũ hoạt động cách mạng thì e hơi sớm, nhưng bảo là Thâm Tâm đã cảm nhận được không khí sục sôi đang diễn ra từng ngày từng giờ của thời đại do những người cách mạng khởi xướng và lãnh đạo và đồng tình với nó thì chắc chắn là đã có. Cho nên, như một tất yếu, sau Cách mạng tháng Tám, Thâm Tâm rất sớm đi theo kháng chiến, đứng vào hàng ngũ những người cách mạng đánh đuổi kẻ thù xâm lược.
Nhưng nếu chỉ nói như thế không thôi, thì Thâm Tâm không đi xa hơn là mấy so với các nhà thơ trung đại. Cái điều làm cho Thâm Tâm trở thành điệu hồn Thơ Mới, Tống biệt hành trở thành thi phẩm Thơ Mới là ở chỗ: Nhà thơ đã thể hiện được một cách sâu sắc và thành thực đến cảm động cái mối giằng xé giữa con người tráng chí (con người tỏ mình trước cuộc đời) với con người tình nghĩa (con người vừa mang bổn phận hiếu đễ với gia đình, vừa thuận theo cái tình cảm tự nhiên mà ai cũng có với người thân, với bạn bè). Mối giằng xé này đã làm vọt ra những câu thơ đứng vào hàng tuyệt bút. Hãy thử lắng nghe xem đằng sau cái vẻ rất Kinh Kha kia là niềm day dứt, nỗi xót thương của một người nặng tình biết bao nhiêu, tưởng như những giọt nước mắt cố nén nay chực vỡ oà:
Người đi? Ừ nhỉ người đi thực!Mẹ thà coi như chiếc lá bay,Chị thà coi như là hạt bụi,Em thà coi như hơi rượu say.
Bài thơ đã chạm vào nỗi lòng muôn thưở của kiếp người, thứ tấm lòng thuộc về nhân loại. Chính vì thế, bài thơ đã đi vào bất tử. Không có cái tôi Thơ Mới, các nhà thơ của chúng ta làm sao có thể đập vỡ được cái vỏ ước lệ thuộc về cái ta trung đại để bước vào cái tôi nhân văn phổ quát.
Như ta đã biết, sau này Thâm Tâm đi theo kháng chiến. Ông là thư ký Toà soạn báo Vệ quốc quân (tiền thân của báo Quân đội nhân dân ngày nay) có trụ sở đóng tại vùng căn cứ kháng chiến thuộc tỉnh Cao Bằng. Theo các tài liệu trong hồi ức của bạn bè đồng chí, Thâm Tâm là một người làm báo tận tuỵ, rất có trách nhiệm trước công việc, trước bạn đọc. Chỉ một cái địa danh in sai trên bản in thử mà ông đã băng rừng gần chục cây số qua suối lũ, hổ rừng đe doạ để sửa((4) 4). Ông mất vì bệnh sốt rét rừng. Cũng là do làm việc quá sức, ăn uống kham khổ, lại khí hậu khắc nghiệt mà ra cả. Đồng đội ông kể lại rằng khi phát hiện ra Thâm Tâm bị ốm thì đã vội cáng nhà thơ về trạm xá của đơn vị cách chừng một ngày đường đi bộ để điều trị, tiếc thay trên đường nhà thơ đã lặng lẽ tắt thở, không kịp trăng trối điều gì. Lúc ấy vào rạng sáng một ngày thu sương trên núi rừng Việt Bắc – 18.8.1950.
Người viết bài này đã cùng thân nhân gia đình Thâm Tâm và một số nhà văn nhà thơ khác của tỉnh Cao Bằng cất công đi tìm mộ nhà thơ Thâm Tâm. Thật kỳ công. Khung cảnh nơi đây đã khác hẳn. Năm mươi năm vật đổi sao dời. Khi xác định được đúng ngôi mộ rồi, thì hài cốt nhà thơ đã dược bốc dỡ, di dời về nghĩa trang huyện Quảng Hoà. Nhưng tiếc thay, về tới đây, khi chưa kịp gắn bia mộ, sơ đồ mộ chí còn trong túi hồ sơ, thì chẳng may trong vụ tháng 2-1979, hồ sơ bị những kẻ ngoại bang đốt sạch. Vậy là ngôi mộ Thâm Tâm hiện giờ không rõ đích xác ngôi mộ nào, nhưng chỉ biết chắc chắn là đã có mặt trong các hàng mộ liệt sĩ vô danh tại Nghĩa trang Quảng Hoà. Tên Anh đã hoà cùng tên Đất Nước.
Khi Thâm Tâm mất, hành trang chẳng có gì. Sau này gia đình nhà thơ được đơn vị trao lại một chiếc ba lô, trong đó còn một vài thứ gồm mấy trang ghi chép có tính chất nhật ký, cuốn Đại đội Kim Sơn của tác giả mới in, một bài tham luận tại Đại hội văn nghệ, sáu bức ảnh chụp hình nhà thơ và các bạn văn nghệ kháng chiến, một chiếc bút máy và một cái thìa nhỏ. Tất cả chỉ có thế. Bà quả phụ Thâm Tâm lâu nay vẫn đặt chiếc thìa nhỏ đó lên ban thờ linh hồn Thâm Tâm, như một kỷ vật thân thương duy nhất còn giữ được.
Tuy nhiên, còn có một thứ hành trang vô giá mà Thâm Tâm để lại đó là các áng văn thơ. Ông viết không phải là nhiều. Cũng không thể nói đó là một sự nghiệp đồ sộ. Nhưng lạ lùng thay, văn chương không phục tùng quy luật của số lượng, mà chỉ tuân theo quy luật về chất. Với Tống biệt hành, với vài ba truyện ngắn, thí dụ như Thuốc mê chẳng hạn, Thâm Tâm vĩnh viễn có chỗ đứng riêng trong nền văn chương dân tộc.
Núi rừng Việt Bắc, con người Việt Bắc cùng Đất Nước đã tiễn đưa Thâm Tâm vào cõi mây trời cách đây năm mươi năm có lẻ. Cuộc tống biệt này không có ngày đoàn tụ. Mỗi khi nhớ về ông, bỗng lại có sương khói hoàng hôn và những gợn sóng lòng ba động.
————————————————————————————
(1) Theo tài liệu của ông Hoài Việt, trong bài Thêm một chút tư liệu về bài Tống biệt hành, in trong Thâm Tâm và T.T.Kh, Nxb Văn học, 1997
(2), (3) Xem thêm trong bài Thâm Tâm: Nhà phù thuỷ hô sóng vào lòng và gọi hoàng hôn lên mắt, in trong Vũ Bằng- Mười chín chân dung nhà văn cùng thời (Văn Giá sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu), Nxb ĐHQG- Trung tâm Văn hoá và Ngôn ngữ Đông Tây, 2002.
(4) Xem bài Những phút cuối cùng của Thâm Tâm của nhà báo Trúc Kỳ, in trong Thâm Tâm và T.T.Kh (Sđd).
Nguồn: Thâm Tâm một thời và mãi mãi
Đưa người ta không đưa qua sông
Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
Bóng chiều không thắm không vàng vọt
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?Đưa người, ta chỉ đưa người ấy
Một giã gia đình, một dửng dưng…
-Ly khách! Ly khách! Con đường nhỏ
Chí lớn chưa về bàn tay không
Thì không bao giờ nói trở lại!
Ba năm mẹ già cũng đừng mongTa biết người buồn chiều hôm trước
Bây giờ mùa hạ sen nở nốt
Một chị, hai chị cũng như sen
Khuyên nốt em trai dòng lệ sótTa biết người buồn sáng hôm nay
Trời chưa mùa thu, tươi lắm thay
Em nhỏ ngây thơ đôi mắt biếc
Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay…Người đi? Ừ nhỉ người đi thực!
Mẹ thà coi như chiếc lá bay
Chị thà coi như là hạt bụi
Em thà coi như hơi rượu say…
Thâm Tâm (1917-1950) sáng tác chưa nhiều, tuy nhiên, chỉ với “Chiều mưa đường số 5” và “Tống biệt hành”, tên tuổi ông cũng đã khắc sâu vào lịch sử văn chương nước nhà, như một nhà thơ nổi tiếng. Và có giọng điệu riêng, đầy ấn tượng!
Bài thơ “Tống biệt hành”, thực ra cũng chỉ mới được tôn vinh trở lại từ khi có tư tưởng đổi mới. Hơn thế, nó còn được đưa vào sách giáo khoa, được nghiên cứu, bình giải, như một bài thơ đặc sắc của thơ ca tiếng Việt thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Đó cũng là một sự công bằng lịch sử!
Tuy nhiên, “Tống biệt hành” của Thâm Tâm, quả là một bài thơ có nội hàm phong phú. Đã xảy ra rất nhiều tranh biện về bài thơ này, cả về giá trị nội dung và nghệ thuật. Nhìn chung, cũng chưa hẳn là “xuôi chèo mát mái”, chưa hẳn người đọc người nghe đã tâm phục khẩu phục! Điều ấy cho hay, “Tống biệt hành” là một bài thơ chứa nhiều uẩn súc trong các hình ảnh, hình tượng thơ, trong cấu trúc thẩm mỹ, trong bối cảnh sáng tác…
Ngay cái tên bài thơ, toàn là từ Hán Việt. Có người hiểu “Hành” ở đây là một thể thơ (Thể Hành). Nhưng nếu ghép đầy đủ cả ba từ Hán Việt này thành một cụm từ, thì đơn giản chỉ là “Tiễn biệt người ra đi”…Thế thôi!
Vậy thì ai tiễn ai? Căn cứ vào bề mặt câu chữ “Đưa người ta không đưa qua sông”…thì có vẻ như tác giả bài thơ (Ta), cùng với gia đình (mẹ, một chị, hai chị và em gái) tiễn một người nào đó ra đi, một người bạn chẳng hạn, như tiễn biệt một tráng sỹ đi làm một công việc đặc biệt gì đó, vì nghĩa lớn, cao cả, ví như việc tiễn chàng hiệp sỹ Kinh Kha đi tiêu diệt Tần Thuỷ Hoàng, đã diễn ra ở bên Tàu cách đây mấy nghìn năm.
Tôi cho rằng, nhân vật trữ tình “Ta” với “Người” ở đây có lẽ chỉ là một. Nghĩa là “ta” cùng với gia đình tiễn biệt chính “Ta”, chứ chẳng phải là tiễn đưa một ai khác! Hãy đọc lại đoạn thơ mở đầu thử xem: “Đưa người ta không đưa qua sông/ sao có tiếng sóng ở trong lòng? / Nắng chiều không thắm không vàng vọt / sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?”…
Tuy nhiên, để có một quyết tâm cao độ, dứt khoát như vậy, thật không đơn giản chút nào. Hãy nghe tác giả trình bày:
“Ta biết người buồn chiều hôm trước”, “Ta biết người buồn sáng hôm nay”. Thế nghĩa là buồn đã mấy ngày, trăn trở đã mấy ngày, chứ đâu phải đi vào chỗ hiểm nguy, vào chỗ có thể hy sinh mà bảo là tươi vui ngay cho được? Có lẽ người ra đi suy nghĩ lung lắm, phần thương mẹ già, em nhỏ, các chị gái chưa chồng, chiến tranh loạn lạc thế này, trai tráng ra đi hết cả, “bây giờ mùa hạ sen nở nốt”, biết đâu rồi “một chị hai chị cũng như sen”, nở rồi cũng sẽ tàn? Có thể các chị “khuyên nốt em trai” bằng những dòng lệ xót xa thương cảm, còn sót lại, sau khi đã chảy nhiều rồi. Còn cô em gái bé bỏng ngây thơ, thương anh, cũng chỉ biết “gói tròn thương tiếc”, gói lại những giọt nước mắt xót thương anh trong chính chiếc khăn tay bé nhỏ của mình…
Cuối cùng, những buồn thương, những xót xa trong buổi tiễn đưa người ra đi rồi cũng tạm lắng dịu. Tác giả dường như vừa chợt tỉnh cơn mơ: “Người đi? ừ nhỉ người đi thực!”. Thế là đi thật rồi, chia ly thật rồi! Bao vật vã giằng xé, lại dồn nén, rồi bật ra những lời tâm sự chí tình. “Ly khách” dường như đang nói lời tâm huyết với mẹ, với chị và với em, xem như lời dặn dò sâu nặng: Với mẹ, thì xin mẹ hãy coi con như một chiếc lá, một chiếc lá xanh, một “chiếc lá bay”…Với chị, xin hãy cứ coi thằng em trai này như một hạt bụi trên đời, thân cát bụi lại trở về cát bụi, thế thôi. Còn với đứa em bé nhỏ “mắt ngây thơ”, tình cảm anh em, hãy xem đó chỉ là một thoáng tươi đẹp trong đời, “như hơi rượu say”, rồi sẽ dần nguôi quên…
“Tống biệt hành” của Thâm Tâm, như tôi thiển nghĩ, chỉ là bài thơ kiểu tự tình, tự đối diện với chính mình, tự phân thân như một thủ pháp nghệ thuật. Các hình ảnh, hình tượng thơ và cấu trúc hình thức, phải chăng, chỉ là cách biểu hiện độc đáo của tâm trạng, trong một bối cảnh đặc biệt nào đó của nhân vật trữ tình? Có thể là chính tác giả, cùng với những xúc cảm chân thành, khi quyết định bước chân vào trường tranh đấu đầy hiểm nguy, linh cảm sẽ có thể hy sinh. Một phần, cũng có thể tác giả trình bày như một ký thác tâm tư tình cảm của những người lính “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” chẳng hạn… Cũng chẳng nên rạch ròi quá làm gì, bởi thơ là nghệ thuật tuyệt diệu của trí tưởng tượng, phập phồng thực ảo, huyền bí sâu xa. Người đọc cảm nhận ở “Tống biệt hành” một tấm chân tình, một nỗi niềm trung thực, sáng trong, nhuốm màu bi tráng của một thời khốc liệt và oanh liệt của dân tộc đã qua.
Hà Nội 15-10-2010
Đưa người ta không đưa qua sông
Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
Bóng chiều không thắm, không vàng vọt
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?
Chim nhạn chim hồng rét mướt bay,Vuốt cọp, chân voi còn lận đận…”(Vọng nhân hành)
Tai hại bao nhiêu sự thực đời,Trừng lên, dập hết mộng. Như ngườiTưởng yên ổn sống trong khung cổ,Vụt tiếng kèn vang nhắc… hiện thời.(Mơ thuở thanh bình)
Sinh ta, cha ném bút rồi,Rừng nho tàn rụng cho đời sang xuân.Nuôi ta, mẹ héo từng năm,Vắt bầu sữa cạn, tê chân máu gầy.Dạy ta ba bảy ông thầy,Gươm dài sách rộng, biển đầy núi vơi.Nhà ta cầm đợ tay người,Kép bông đâu áo, ngọt bùi đâu cơm?(Tráng ca)
Ngươi chẳng thấyVì đời ta buồn như thế đấy,Cho nên tri kỷ tếch phương trờiChén rượu ngồi suông vắng cả người !(Can trường hành)
Chán ngán nhân tình sầu chất ngất(Ngậm ngùi cố sự)
Nước mạnh như thác một con thuyền,Ta lênh đênh hoài, sầu biết mấy !(Can trường hành)
Khói sương trời đã nhuốm sầu thời gian(Chào Hương sơn)
Bọn ta một lớp lìa nhà,Cháo hàng cơm chợ, ngồi ca lúa đồng.(Tráng ca)
Thằng thí cho nhàm sức võ sinh,Thằng bó văn chương đôi gối hận.Thằng thư trói buộc, thằng giả quê,Thằng phấn son nhơ… chuửa một về.(Vọng nhân hành)
Tôi sẽ đi và chưa biết đi đâu (Bùi Giáng)
Trời hỡi ! Mai này tôi phải đi,Thơ này rồi chẳng đọc ai nghe.Đời nhiều nhưng có dăm người bạnThì viễn ly không hứa hẹn về.(Ngược gió)
Tiệc này đêm cuối, mai chia ly,Anh cố lưu tôi có ích gì.Đời người say tỉnh được bao dịp?Xin cạn chén rượu để tôi đi.(Lưu biệt)
Sáng mai qua bến Ninh Cơ lạnh,Sẽ thấy se lòng trận gió tê.Giọng đàn lưu luyến làm chi nữa,Tôi quyết đi rồi, tôi phải đi.(Lưu biệt)
Hay đâu kẻ vũ đất Lương YênMột sớm nghe bùng cơn gió lênXách gói sang Nam không hẹn lại,Chỉ hiềm chẳng đụng đến cung tên !
(Can trường hành)
Đưa người ta không đưa qua sôngSao có tiếng sóng ở trong lòng?Bóng chiều không thắm, không vàng vọtSao đầy hoàng hôn trong mắt trong?
Chí lớn chưa về bàn tay khôngThì không bao giờ nói trở lại,Ba năm mẹ già cũng đừng mong.
Ta biết ngươi buồn chiều hôm trước,…. Ta biết ngươi buồn sáng hôm nay.
Người đi ! Ừ nhỉ, người đi thực !Mẹ thà coi như chiếc lá bay.Chị thà coi như là hạt bụi,Em thà coi như hơi rượu say !
Gặp Trinh trong bóng xuân đào,Đang khi quãng gió dạt dào chim ca.Má hồng, hồng đượm hương hoa,Rung rinh đọng giọt phấn nhòa sương rơi….(2)
(1) Trích trong “Hồi ức về Thâm Tâm”, tạp chí Văn học số 3-1991.
(2) Tư liệu của Phương Thảo.
(3) Tóm tắt bài “Những phút cuối cùng của Thâm Tâm” của Trúc Kỳ.
(4) Văn Giá – Về Việt Bắc tảo mộ nhà thơ Thâm Tâm.
Khi phân tích, bình giảng, tranh luận về Tống biệt hành của Thâm Tâm các bài viết thường quan tâm đặc biệt đến hình tượng người ra đi. Người ra đi là ai? Một chiến sĩ cách mạng? Một đấng trượng phu? Hay một chàng lãng tử? Người đưa tiễn đã được nhắc đến nhưng chưa được quan tâm đúng mức. Trong khi đó theo tôi mấu chốt bài thơ chính lại nằm ở người đưa tiễn. Ngay hình tượng người ra đi cũng chủ yếu được thể hiện qua lời của người đưa tiễn. Ở bài thơ này Thâm Tâm đã nhập thân vào người đưa tiễn. Người đưa tiễn vừa là nhân vật trữ tình vừa là đối tượng trữ tình. “TA” đang nói với “TA”. “TA” đang nói với chính lòng mình. Vấn đề đặt ra là “TA” có quan hệ thế nào với người ra đi? Đó là chìa khóa để giải mã những khoảng trống, những nét mờ trong những câu thơ, đoạn thơ gây nhiều tranh cãi.
Hãy thử đọc lại bốn câu mở đầu:
Đưa người ta không đưa qua sông
Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
Bóng chiều không thẳm, không vàng vọt,
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?
Đưa người, ta chỉ đưa người ấy
Một giã gia đình, một dửng dưng…
… Ta biết người buồn chiều hôm trước
…
… Ta biết người buồn sáng hôm nay…
Khổ kết bài thơ vẫn là lời độc thoại của người đưa tiễn:
Người đi? Ừ nhỉ, người đi thực?
Mẹ thà coi như chiếc lá bay,
Chị thà coi như là hạt bụi,
Em thà coi như hơi rượu say.
“Người ấy” đã ra đi mà nàng vẫn không tin. Nhưng sự thực vẫn là sự thực! Sự thực ấy làm lòng nàng quặn thắt. Câu thơ chứa đựng nỗi niềm đầy luyến tiếc, đầy day dứt của người đưa tiễn. Nàng mượn lời chàng để thể hiện cái quyết tâm sắt đá của chàng. Nếu hiểu: xin mẹ hãy coi con như chiếc lá, xin chị hãy coi em như hạt bụi, xin em hãy coi anh như hơi rượu thì vừa không phù hợp với cấu trúc câu thơ lẫn ý đồ của tác giả. Cần phải phân biệt sự khác nhau của hai cách diễn đạt… Nếu người ra đi coi mẹ như chiếc lá, coi chị như hạt bụi, coi em như hơi rượu thì đúng là không lôgíc, không đúng với bản chất của chàng. Nhưng ở đây Thâm Tâm viết: “Mẹ thà coi”… “Chị thà coi”… “Em thà coi”… “Thà coi” có nghĩa là không muốn như vậy, nhưng buộc phải làm như vậy. “Thà chết chứ không chịu làm nô lệ!”. Chết ai có muốn, nhưng sống trong nô lệ còn đau khổ hơn nên thà chết, thà hy sinh để giành cho được độc lập tự do! Chàng đâu có muốn xa mẹ, xa các chị, xa em, xa cái người đang yêu chàng tha thiết nhưng vì tiếng gọi của lý tưởng chàng đành hy sinh tất cả. Nên nhớ rằng đây không phải là lời của người ra đi mà là độc thoại nội tâm của người đưa tiễn. Nàng ý thức được sự hy sinh cao cả của chàng nên không hề trách móc, oán giận chàng. Tất cả những trạng thái tình cảm đó nàng dồn nén vào bên trong, nàng tự biết với lòng mình.
Không tìm hiểu mối quan hệ giữa người ra đi với người đưa tiễn, không đi sâu phân tích nội tâm của người đưa tiễn thì rất khó lí giải được một số câu thơ có vẻ “bí hiểm” trong Tống biệt hành.
1. Thử dịch (hay chuyển thể) bài thơ Tống Biệt Hành
Lâu nay, thơ dịch thường được hiểu là dịch từ ngôn ngữ này qua ngôn ngữ khác nhưng cách đây vài năm, nhà văn Võ Phiến hiểu theo nghĩa mới là dịch tức là chuyển từ thể thơ này qua thể thơ khác…. Trong một bài viết có đề cập bài Tống biệt hành của Thâm Tâm, nhà văn Võ Phiến cho là bài thơ này khó mà dịch ra thể Lục Bát, vốn là một thể thơ du dương êm dịu, nên không thể nào diễn tả hết giọng thơ rắn rỏi như thể thơ 7 chữ. Thơ dịch do đó cũng là một dạng thơ mà nhà thơ Huệ Thu gọi là thơ chuyển thể. Tôi xin tạm chuyển thể Tống Biệt Hành thất ngôn qua Lục Bát,dù thể thơ này đúng như nhận xét của nhà văn Võ Phiến, là khó nói lên được nỗi niềm dứt khoát, mạnh mẽ mà nhà thơ Thâm Tâm gửi gắm:
Tống Biệt Hành
Đưa người,ta không đưa qua sông
Sao có tiếng sóng ở trong lòng ?
Bóng chiều không thắm không vàng vọt
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong ?
Đưa người,ta chỉ đưa người ấy
Một giã gia đình, một dửng dưng…
-Ly khách ! Ly khách ! con đường nhỏ
Chí lớn chưa về bàn tay không
Thì không bao giờ nói trở lại
Ba năm, mẹ già cũng đừng mong
Ta biết ngươi buồn chiều hôm trước
Bây giờ mùa hạ sen nở nốt
Một chị, hai chị cũng như sen
Khuyên nốt em trai dòng lệ sót
Ta biết ngươi buồn sáng hôm nay
Trời chưa vào thu, tươi lắm thay
Em nhỏ ngây thơ đôi mắt biếc
Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay…
Người đi ? Ừ nhỉ, người đi thực !
Mẹ thà coi như chiếc lá bay
Chi thà coi như là hạt bụi
Em thà coi như hơi rượu say.
Thâm Tâm
Bài chuyển thể :
Đưa người, chẳng đưa qua sông
sao lòng ta sóng bềnh bồng mênh mang ?
chiều không thắm, chẳng võ vàng
sao đầy trong mắt bóng hoàng hôn rơi ?
đưa người, chỉ người ấy thôi
gia đình giã biệt, không lời dửng dưng
này ly khách đó con đường!
chưa về chí lớn tay không xá gì
thề không trở lại bao giờ
ba năm dù mẹ đợi chờ cũng không
biết ngươi hôm trước chiều buồn
chừ sen mùa hạ nở luôn ngay liền
một chị hai chị như sen
còn dòng lệ sót khuyên em lúc này
ngưoi buồn ta biết sáng nay
trời chưa thu vẫn thắm đầy tươi thay !
biếc đôi mắt em thơ ngây
nỗi niềm thương tiếc khăn tay gói tròn
người đi ? Ừ nhỉ ! Lên đường
mẹ thà như chiếc lá buông cành gầy
chị thà như hạt bụi bay
em thà như ruợu say say cay nồng !
Phan Đức
(DHN.)
Nhận và đọc bài thơ Tống Biệt Hành chuyển thể (dịch chữ của Võ Phiến) của thi hữu Phan Ðức, tôi chợt nhớ cách đây gần 17 năm tôi đã “dịch” bài này ra thể Lục Bát và Hát Nói … Nhân có bài của Phan Ðức, tôi cũng xin được chuyển bài này , và xin chuyển lại bài Tống Biệt Hành mà tôi đã đọc (có thêm một khổ) để trình quí thi hữu và thi khách của quán thơ:
Tống biệt hành
Đưa người, ta không đưa qua sông
Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
Bóng chiều không thắm, không vàng vọt
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong ?
Đưa người ta chỉ đưa người ấy
Một giã gia đình một dửng dưng…
-Li khách! Li khách! Con đường nhỏ
Chí nhớn chưa về bàn tay không
Thì không bao giờ nói trở lại!
Ba năm mẹ già cũng đừng mong!
Ta biết người buồn chiều hôm trước
Bây giờ mùa hạ sen nở nốt
Một chị, hai chị cũng như sen
Khuyên nốt em trai dòng lệ sót
Ta biết người buồn sáng hôm nay:
Giời chưa mùa thu, tươi lắm thay
Em nhỏ ngây thơ đôi mắt biếc
Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay…
Người đi? Ừ nhỉ, người đi thực!
Mẹ thà coi như chiếc lá bay
Chị thà coi như là hạt bụi
Em thà coi như hơi rượu cay…
Mây thu đầu núi, giá lên trăng
Cơn lạnh chiều nao đổ bóng thầm
Ly khách ven trời nghe muốn khóc
Tiếng đời xô động tiếng hồn câm
THÂM TÂM 1940
*
Huệ Thu dịch :
bài viết riêng tặng Võ Phiến,
người có ý nghĩ rất ngộ nghĩnh về việc “dịch thơ”
Ðưa người cần chi qua sông
Cũng nghe tiếng sóng trong lòng dội lên
Bóng chiều như mặt thuyền quyên
mà nơi khóe mắt đọng nghiêng nắng tà
đưa người ta đưa người ta
đưa như một kẻ xa nhà dửng dưng
Người ơi ! Lối nhỏ chớ dừng
Chí cao chẳng ở tay không bao giờ
Ðừng nhìn lại xóm nhà xưa
ba năm Mẹ có đợi chờ , kệ thôi !
Buồn thì hôm trước buồn rồi
Bây giờ là Hạ sen ngời đóa hoa
Hãy chào chị hai, chị ba
Chào thằng em út và sa chút buồn
Buồn từ sáng sớm tinh sương
Run chăng gió Hạ qua hồn tưởng Thu !
Thấy mà trong mắt âm u
Khăn tay thấm lệ chút sầu đem theo
Người đi ! Ồ nhỉ ! Buồn hiu
Mẹ coi như chiếc lá vèo trong cây
Chị coi như bụi vừa bay
Em coi như chút rượu cay đắng lòng
Mây Thu, gió núi và trăng
Hình như trời lạnh lâm thâm bóng nhòa
Ðưa người ta đưa người ta
Xôn xao bước động ngỡ là tiếng than !
Huệ Thu
(trích Sương Chiều Thu Ðọng xuất bản 1991 tại Mỹ)
Chuyển qua Hát Nói :
Mưỡu
Người đi chẳng tiễn qua sông
Mà nghe tiếng sóng trong lòng là sao
Buổi chiều hôm đó thế nào
Hoàng hôn bỗng thấy đầy trào mắt ai
nói :
Ðưa người cách mạng *
Bỏ gia đình mà vẫn dửng dừng dưng
Khách khi đi nào biết đâu chừng
Chí chưa đạt thì đừng hồi hương
Ra đi thưa mẹ một con đường
Bảy thước thân trai không ngã rẽ
Người lữ khách sao buồn hôm trước nhỉ ?
Nghĩ mùa hè sen tàn rồi nở nốt
Một chị Hai em thêm đứt ruột
Lệ rớt còn đem tiễn em trai chăng ?
Người đi chàng trẻ Ngũ Lăng
Trên vai quẫy một vầng trăng vời vời **
Huệ Thu
sunnyvale 1992
* bài này Thâm Tâm viết tặng nhà thơ Lương Trúc , cụ Lương Trúc lúc đó bỏ nhà cửa vợ con theo cách mạng . (cụ đã mất mấy năm nay)
** bài hát nói câu kết là câu 6 chữ, nhưng tôi thêm một câu cho “tròn” ý mình!
Huệ Thu
Bác HTN nho HT chuyển :Bài “dịch” của Hà Thượng Nhân :
Bài Hát Tiễn Người
Ðưa người chẳng cứ qua sông
Vẫn nghe tiếng sóng trong lòng xôn xao
Bóng chiều không thấp không cao
Không vàng không thắm trôi vào mắt trong
Ðưa người người có biết không ?
Phẩy tay là chuyện dửng dưng thế tình
Ôi con đường nhỏ chạy quanh
Tay không, chí lớn, không thành, còn đi!
Trở về mà để làm chi
Ba năm mẹ cũng đừng vì con mong.
Người buồn hôm trước phải không
Sen tàn nở nốt mấy bông cuối mùa.
Hôm nay người lại buồn chưa?
Mùa Thu chưa tới, nắng thừa màu tươi
Em thơ mắt ngẩn ngơ cười
Gói tròn thương tiếc cho người chiếc khăn
Người đi, ừ gót phong trần
Mẹ thà coi giống một lần lá bay
Chị thà như hạt bụi này
Em thà như chén rượu cay ai mời
Trăng Thu đầu núi sáng ngời
Ðã nghe cơn lạnh bời bời ruột gan
Ven trời ly khách tần ngần
Lệ nghe muốn chảy mà câm hồi nào?
Hà Thượng Nhân
Nguồn: http://www.trasonthidan.com
T.T.Kh. với những câu thơ xót xa cảm động:
Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời
Ái ân lạt lẽo của chồng tôi
Và từng thu chết, từng thu chết
Vẫn giấu trong tim một bóng người…
Tôi và anh: Bính và Hòa
Ở đây xa chị, xa nhà, xa em…
Và kết thúc bằng hai câu:
Đây là giọt lệ phân ly
Ngày mai tôi ở, anh đi, bao giờ?…
(Nhân dân chủ nhật số 23 tháng 7-1989)
“Tống biệt hành” là bài thơ nổi tiếng và được ưa thích nhất của Thâm Tâm. Có người không ngần ngại liệt nó vào một trong mười bài thơ tiền chiến hay nhất (1). Chục năm nay, “Tống Biệt Hành” cũng được xếp trong tuyển chọn năm mươi bài thơ trữ tình tiêu biểu của mười thế kỷ thơ ca Việt Nam (2).
Đề tài bài thơ là một trong hằng hà sa số những cuộc ly biệt được đưa vào “Thơ Mới” thời 1930 – 1945. Nhưng có lẽ trong văn học Việt Nam, trước và sau Thâm Tâm, không ai viết về chia ly đầy tính bi hùng, trữ tình và mãnh liệt đến như thế.
Đưa người, ta không đưa qua sông.
Anh Khóa ơi,
Em tiễn anh xuống tận bến tàu…
(“Anh Khóa”, Trần Tuấn Khải)
Biệt ly,
Sóng trên dòng sông,
Ôi còi tàu như xé đôi lòng,
Và mây trôi, nước trôi, ngày tháng trôi,
Càng lướt trôi.
(“Biệt ly”, Dzoãn Mẫn)
Nhưng lần này, tác giả không đưa bạn mình qua sông. Vào những năm cuối của thập kỷ ba mươi, khi Nguyễn Bính viết “Những bóng người trên sân ga”, nhiều cuộc đi xa đã khởi đầu trên một bến xe, một sân ga nào đó.
Tuy thế hình ảnh con đò, bến nước trong văn chương và cuộc đời đã hằn sâu trong tác giả tự bao giờ, khiến anh phải thốt lên:
Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
Cuối cùng thì giờ phút chia tay cũng phải đến. Người đi hùng dũng lắm, hăng hái và hăm hở lắm:
Ly khách! Ly khách! Con đường nhỏ,
Chí lớn chưa về bàn tay không,
Thì không bao giờ nói trở lại!
Phong tiêu tiêu hề, Dịch thủy hàn,
Tráng sĩ nhất khứ hề, bất phục hoàn.
(Gió hiu hiu chừ, sông Dịch lạnh ghê,
Tráng sĩ một đi chừ, không bao giờ về.)
Ta thấy anh đi khí thế thật đấy, nhưng sao cô đơn quá! Đi thì cứ đi, nhưng nào có rõ tương lai:
Ba năm, mẹ già cũng đừng mong.
Như một cơn mơ, lúc bừng tỉnh chẳng còn gì. Anh đã đi, đi thực. Làm người ở lại đắm trong nỗi thẫn thờ. Cuộc đời sao như tỉnh, như mơ! Đành phải chịu!
Tất cả dẫn đến một cao trào. Nhịp thơ trở nên gấp gáp, rắn rỏi, mãnh liệt, nhưng đượm vẻ chua chát và bi phẫn:
Mẹ thà coi như chiếc lá bay,
Chị thà coi như là hạtbụi
Em thà coi như hơi rượu say.
Cơn lạnh chiều nao đổ bóng thầm.
Thời gian qua đi. Bóng hoàng hôn không còn nữa. Cơn lạnh và bóng tối trùm lên mỗi bước anh đi. Lúc ấy, người lữ khách còn lại một mình. Âm thầm. Lặng lẽ. Cái đích vẫn xa vời. Và nhuệ khí xưa đâu còn nữa. Anh muốn bật khóc, muốn gào lên tức tưởi:Ly khách ven trời nghe muốn khóc,
Tiếng đời xô động, tiếng hờn câm…
Chẳng biết lúc ấy, anh trách ai? Trách mình, hay trách cuộc đời cay nghiệt?
Ông Hoài Thanh trong “Vài suy nghĩ về thơ” (3) đã thú nhận khi viết “Thi nhân Việt Nam”, ông rất khoái “Tống Biệt Hành”. Chẳng những vì “điệu thơ gấp gáp. Lời thơ gắt. Câu thơ rắn rỏi, gân guốc. Không mềm mại, uyển chuyển như phần nhiều thơ bây giờ” (4), mà chủ yếu bài thơ mang phong vị “bâng khuâng khó hiểu của thời đại”. (5)
Không rõ “Tống Biệt Hành” có gì “khó hiểu”? Nhưng rõ ràng khi đọc, tôi thấy thật “bâng khuâng”. Vẻ trầm hùng, cổ kính của bài thơ cùng những hình ảnh “mong manh, ghê rợn, như những nhát dao xiết vào tâm hồn, tưởng là rất nhẹ hóa ra lại rất nặng” (6) gây nên một ấn tượng thật mạnh và sâu đến người đọc.
Ít năm trước đây, nhà thơ Lương Trúc (7), một người bạn của Thâm Tâm, có tiết lộ rằng “Tống Biệt Hành” là bài thơ Thâm Tâm viết tặng ông khi ông đi hoạt động. Tạm cho là như vậy. Ở vào hoàn cảnh bấy giờ (1941), hành động cách mạng của những thanh niên độ tuổi hai mươi như họ, có thể coi là một sự dấn thân đầy mạo hiểm. Nó mang hình ảnh các tráng sĩ thời xưa, vào cuộc chiến “lạnh lùng theo trống dồn” (“Chiến sĩ vô danh”, Phạm Duy), với lòng hăng hái thiêng liêng “chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh” (“Tây Tiến”, Quang Dũng). Và cũng chẳng khác gì mấy hình ảnh thật đẹp và oai hùng của lứa văn nghệ sĩ đầu tham gia kháng chiến, nửa thập kỷ về sau:
Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội,
Những phố dài xao xác hơi may,
Người ra đi đầu không ngoảnh lại,
Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy.
(“Đất nước”, Nguyễn Đình Thi)
… Nhớ đêm ra đi đất trời bốc lửa
Cả đô thành nghi ngút cháy sau lưng
Những chàng trai chưa trắng nợ anh hùng
Hồn mười phương phất phơ cờ đỏ thắm
Rách tả tơi rồi đôi giày vạn dặm
Bụi trường chinh phai bạc áo hào hoa
Mái đầu xanh hẹn mãi tới khi già
Phơi nắng gió và hoa ngàn cỏ dại
Theo tiếng gọi của những người Hà Nội
Trở về
Trở về chiếm lại quê hương!
(“Ngày về”, Chính Hữu)
Cuộc đời Thâm Tâm thật ngắn ngủi. Ông viết chưa nhiều (8). Cái chết cướp ông đi ở tuổi 33. Ông đã lao vào cuộc chiến đấu của dân tộc một cách nhiệt thành. Từng là biên tập viên tạp chí “Tiên phong” (1945-1946) rồi thư ký tòa soạn báo “Vệ quốc quân”, ở Chiến dịch Biên giới (1950), Thâm Tâm bị sốt rét nặng trong lúc không có thuốc men. Vô phương cứu chữa, ông bị bỏ lại trong một căn nhà sàn tại bản Nà Po cùng một người liên lạc. Anh này là người duy nhất có mặt khi ông qua đời và xin được bà con dân bản một mảnh vải trắng để làm khăn tang (8).
Cái chết của Thâm Tâm thật bi thảm. Nhưng nó cũng thật đẹp và bi hùng ở khía cạnh một tráng sĩ nơi sa trường. Đẹp và bi hùng như “Tống Biệt Hành” của ông vậy!
Chú thích:
(*) Khổ cuối bài thơ thường không được biết đến. Theo “Văn hóa Việt Nam tổng hợp 1989-95” (Hà Nội, 1989), trong một bản in “Tiểu thuyết thứ Bảy” (1940) có đoạn này.
Giới thiệu tham khảo:
1. Vũ Quần Phương: Thâm Tâm và “Tống Biệt Hành” (“Quân đội Nhân dân”, 1990).
2. “Văn hóa Việt Nam tổng hợp 1989-95” (Hà Nội, 1989).
3, 4, 5. “Tuyển tập Hoài Thanh”, tập 2 (Hà Nội, 1983).
6. Vũ Cao: “Tản mạn dọc đường văn học” (“Văn nghệ Quân đội” tháng 6-1988).
7. Tên thật Phạm Quang Hòa, sinh năm 1915. Xin xem thêm bài của Hoàng Tiến: “T.T.Kh. là ai?” (“Nhân dân Chủ nhật” ngày 16-7-1989).
8. Sinh thời, thơ Thâm Tâm chưa được in thành tập. Mãi đến năm 1988, tập “Thơ Thâm Tâm” sưu tầm một số thi phẩm tiêu biểu của ông mới được ấn hành.
9. Theo Từ Bích Hoàng: “Cách mạng kháng chiến và đời sống văn học”, tập 1 (Nhà xuất bản Tác phẩm mới, Hà Nội 1985).
Đời người và đời thơ của Thâm Tâm đều ngắn ngủi .Ngày 18.8.1950 ,nhà thơ mất trên đường hành quân tham gia chiến dịch Cao Bắc Lạng . Năm ấy, ông mới ba mươi tuổi .Còn nếu tính từ năm 1938, khi Thâm Tâm cùng gia đình lên Hà Nội kiếm sống bằng nghề vẽ tranh ,viết văn , làm thơ thì “tuổi nghề” của ông vỏn vẹn chỉ 12 năm . Đã thế ,Thâm Tâm làm thơ ít,số bài thơ bây giờ tập hợp được chỉ độ vài ba chục .Nhưng thơ Thâm Tâm khiến người đời nhớ mãi . Đây là không kể chuyện Thâm Tâm với các bài thơ về hoa ti gôn, maàuhoa như tím vỡ, mọc vô vàn trên các bờ giậu nhưng khi có thơ ,loài hoa ấy ai cũng phải ngắm nhìn một cách đặc biệt.
Tống biệt hành là bài thơ đặc sắc nhất của Thâm Tâm ,cũng là bài thơ Mới có nhiều ý kiến ,bình giá khác nhau nhất và cơ hồ chưa phải đã kết thúc.
Bài thơ được sáng tác vào năm 1940 ,không biết đích xác là ngày nào.Năm sau, được đưa vào tuyển thơ Thi nhân Việt Nam ,với lời bình của Hoài Thanh:
Thơ thất ngôn của bây giờ thực có khác thơ thất ngôn cổ phong.Nhưng trong bài dưới đây lại thấy sống lại cái không khí riêng của nhiều bài thơ cổ, điệu thơ gấp, lời thơ gắt.Câu thơ rắn rỏi ,gân guốc .Không mềm mại ,uyển chuyển như phần nhiều thơ bây giờ .Nhưng vẫn đưowmj chút bâng khuâng khó hiểu của thời đại.
Ý kiến của Hoài Thanh thật xác đáng:Tống biệt hành vừa giống thơ cổ vừa không phải thơ cổ đượm chút bâng khuâng khó hiểu của thời đại. Đó cũng là lí do khiến từ bấy đến nay có biết bao ý kiến khác nhau về Tống biệt hành mà khổ nỗi lại là ý kiến của những người uyên thâm ,hoặc có quan hệ gần gũi với tác giả.
Tên bài thơ:
Tên bài thơ không có gì là khó hiểu ,rõ ràng đằng khác :tiễn đưa nhau khi li biệt .Chỗ dễ gây khó hiểu duy nhất ở đây là chữ hành.Hành vừa có nghĩa là đi ,dời đi,lại có nghĩa là khúc hát ,bài ca.Bởi vậy ,khi dịch nghĩa tên một số bài thơ Đường,người ta thường giữ nguyên chữ ấy như Trường Can hành ( Thôi Hiệu ) ,Lũng Tây hành ( Trần Đào )…mặc dù Trường Can ,Lũng Tây đều là địa danh .Xa hơn nữa ,người ta thấy ,hành là thể thơ vốn thịnh hành ở Trung Quốc thời Hán Nguỵ ,Lục Triều,có cội nguồn từ trong Nhạc phủ ,tức những bài thơ có thể phổ nhạc ,nhưng chỉ để dùng trong cung cấm.Do đó,Trường Can hành là một khúc Nhạc phủ ,song cũng là tên một bài thơ của Đỗ Phủ .Nội dung hai bài hoàn toàn khác nhau.Khi thoát khỏi cung cấm, thể thơ hành trở nên phóng túng về hình thức để thể hiện rõ tình ý của người viết .Các bài thơ hành đời Đường viết về nhiều đề tài :tình yêu nam nữ ,về chiến tranh ,loạn lạc ,chia li…Thời Đương , các bài thơ hành thường viết theo thể thất ngôn ( Tì bà hành -Bạch Cư Dị ,Trương Can hành-Lí Bạch ), hoặc ngũ ngôn ( Trường Can hành –Thôi Hiệu ) , nhưng cũng có trường hợp dài ,ngắn tuỳ ý ( Binh xa hành-Đỗ Phủ ).
Sau đời Đường ,trong văn học các nước phương Đông ,thơ hành không thiếu . Ở Việt Nam ,có bài khá nổi tiếng như Sở kiến hành của Nguyễn Du.Tuy nhiên ,nhìn chung ,số lượng vẫn khá ít ối với những bài thơ khác.Bẵng đi thời gian khá dài , ở nước ta những năm cuối của phong trào Thơ mới bỗng xuất hiện nhiều bào hành của các nhà thơ Thâm Tâm ( Tống biệt hành , Can trường hành,Vong nhân hành ).Nhiều bài thơ của các ông dù không có chữ hành ở tựa đề nhưng vẫn cùng chung một giọng điệu.Cả ba vốn là bạn bè thân thiết nên có người gọi đây là trường phái thơ hành, bên cạnh các trường phái thơ Loạn ,thơ Say,thơ Đạo …thời ấy.
Sau năm 1954, ở miền Nam ,cũng có một vài nhà thơ trẻ làm thơ hành như Hoàng Lộc ,Duynh Trầm Ca…Thơ của họ ,tuy nội dung có khác , nhưng gần gũi với các bậc “tiền bối” ở cái giọng kiêu bạc ,khinh đời:
– Chẳng lẽ giận đời đi uống rượu
Mà say chưa chắc đã quyên đời
Và chưa chắc ấm sầu xa xứ
Đỏ mặt hoàng hôn cũng hổ người
(Hoàng Lộc)
Rượu cuối năm gió lọt lòng ly
Vọng tiếng hú ma Hời buồn quê cũ
Đêm viễn xứ vang vang pháo nổ
Giao thừa giao thừa heef ta lăn quay
Rượu hết làm sao chết giữa cơn say…
(Đuynh Trầm Ca)
Nói mông lung như vậy đẻ thấy không thể đơn giản khẳng định Tống biệt hành của Thâm Tâm là bài thơ theo thể hành thời trước ,bởi nào ai chỉ ra thi pháp của thể thơ ấy như kiểu thơ luật Đường hay văn biền ngẫu …Có giống chãng chỉ là nhà thơ mượn chữ hành thường tỏ ra khá phóng túng ,như muốn nói cho bằng hết ý mình ,mà đó thường là những điều khó nói,khó được chấp nhận .Ví như bài Lũng Tây hành của Trần Đào là một mặt trái của chuyện đời:
Quên mình ,thề giết Hung Nô
Năm ngoái tướng sĩ bụi Hồ vùi thân.
Bên sông Vô Định xương tàn,
Vẫn người trong giấc mộng xuân khuê phòng.
(Trần Trọng San dịch)
Hay Nguyễn Bính ,nhà thơ đồng quê nhưng với Hành phương Nam lại tỏ ra khá ngang tàng ,kiêu bạc:
Rãy ruồng châu ngọc ,thù son phấn
Mắt đỏ lên rồi cứ chết ngay
Hỡi ơi nhiếp chính mà băm mặt
Giữa chợ ai khóc mà nhân thay
Rõ ràng ,thơ hành cua Thâm Tâm ,Nguyễn Bính ,Trần Huyền Trân là thơ hành của chính các ông ,nhưng nhà thơ Mới bởi vậy mới đượm chút bâng khuâng khó hiểu của thời đại.
Chuyện Tống Biệt
Tống biệt là chuyện muôn thuở , đề tài quen thuộc của văn chương. Nhưng với Thâm Tâm ,chuyện tống biệt chừng như khác . Đấy không phải là chuyện Lưu Trần và Nguyễn Triệu rời Thiên Thai có Suối tiễn oanh đưa tiễn ngậm ngùi ( Tản Đà -Tống biệt ).Cũng không phải là sự ra đi vì Non sông đã chết thêm nhục ,Hiền thánh còn đâu học cũng hoài ( Phan Bội Châu – Lưu biệt xuất dương ) ,hay ra đi mà lòng hẹn quyết : Đấng trượng phu tuỳ ngộ nhi nan…Non sông ấy chờ ta thêu đặc dệt.Kìa tụ tán chẳng qua là tiêu biểu ( Huỳnh Thúc Kháng-Bài ca lưu biệt ) .Người ra đi ở tống biệt hành có phần gần gũi với khách chinh phu trong Tiếng gọi bên sông của Thêư Lữ:
Ta đi theo đuổi bước tương lai,
Đẻ lại bên sông kẻ ngậm ngùi
Chí nặng bốn phương trời nước rộng,
Từ nay thêm bận nỗi thương ai.
Những chỉ gần kmà không giống.Cách nhau độ năm ,mười năm mà đã thế ,làm sao bảo li khách có “họ hàng” với chàng Kinh Kha ở nước Yên cả ngàn năm trước?
Ra đi là một mô típ không chỉ trong văn chương mà trước hết là trong đời sống của không ít thanh niên Việt Nam thời kỳ 1930-1945. Đi đã trở thành nhu cầu .Vì lí do gì ư? Nhiều lắm ! Ngay ở một nhà thơ của Hoa niên vẫn không hiếm những câu:
Những ngày nghỉ học tôi hay tới
Đón chuyến tàu đi đến những ga
Tôi đứng bơ vơ xem tiễn biệt,
Lòng buồn đau xót nỗi chia xa.
( Tế Hanh -Những ngày nghỉ học )
Vì sao có chuyện kỳ cục ấy? Người trong cuộc giải thích :
Kẻ về không nói bước vương vương…
Thương nhớ lan xa mấy dặm trương.
Lẽo đẽo tôi về theo bước họ
Tâm hồn ngơ ngẩn nhó muôn phương.
Những năm 40 của thế kỷ trước , đi càng trở nên bức bách khi mà bao câu hỏi cứ xoáy mãi trong lòng họ:
Ôi ! Ta đã làm chi đời ta?
Ai đã làm chi lòng ta ?
……………………………………
Ta đã làm chi đời ta xưa?
Ta đã dùng chi đời ta chưa?
Thiên thu? ngờ sự nghiệp!
Chiều mưa rồi đêm mưa;
Gió lùa gian gác xép,
Đời tàn trong ngõ hẹp.
( Vũ Hoàng Chương – Đời tàn trong ngõ hẹp )
Với các nhà thơ trường phái thơ hành ,nỗi đời còn bức bách hơn .Trần Huyền Trân gào thét:
Thế rồi thí bỏ rủi may
Đưa giam cõi bụi , đứa đày rừng sâu
Vai cày chẳng kẻo làm trâu
Giong xe chẳng kẻo tóc râu làm bờm
Nẻo về chật chội áo cơm
Dặm đi lại đông từng cơm lá rừng…
(Độc hành ca )
Đi không đòng nghĩa với sung sướng .Nhưng là sự giải thoát với khỏi thực tại :Kinh thành mây đỏ như son,Cái lồng chật chội giam con chim trời ( Trần Huyền Trân-Vô đề ).Người đi có phần bất chấp :
Mơ gì Áp tiết thiên văn tự,
Giày cỏ gươm cùn ta đi đây.
(Nguyễn Bính –Hành phương Nam )
Sau này ,khi nhiều người thắc mắc về người đi trong bài thơ của mình ( cũng là một cuộc ra đi từ trước năm 1945 ) ,Nguyễn Đình Thi giải thích: Người ra đi này cũng không phải là tác giả hoặc một người cụ thể -người ấy ra đi ,có thể đi làm cách mạng ,hoặc vì một lẽ khác ,vì một bi kịch riêng…Dù sao đấy cũng là một người bỏ nơi ở ,bỏ nơi mình đang quen sống để ra đi ,người ấy có nhiều nông nổi ,nhiều tâm trạng… (Đỗ Tiến Bảng -Về bài thơ Đất Nước ,Văn nghệ ,số 53/1994 ).
Trường hợp Thâm Tâm ,trong số những bài thơ ít ỏi trước năm 1945, chuyện ra đi không chỉ nói ở Tống biệt hành . Ở Tráng ca (1994) ,có Bọn ta một lớp lìa nhà . Ở Can trường hành ( 1944 ) ,có chàng là bậc trẻ không biết sợ…Vợ con thí tất cho thiên hạ…Ta lênh đênh hoài sâu biết mấy! Còn trước đó ,vào năm 1940 ,người ra đi với bao quyết tâm:
Trời hỡi ! Mai này tôi phải đi
Thơ này rồi chẳng đọc ai nghe
Đời nhiều nhưng có dăm người bạn
Thì viễn li không có đường về
……………………………………………
Ngày mai ngược gió tôi đi ngược
Ai có quan tâm gọi trở về
Trời hỡi ,ngày mai ngày mốt thôi
Ngày mai cay đắng nhất li bôi…
( Ngược gió )
Đến năm 1944 ,chuyện ra đi lại đặt ra ở một bài thơ mang tên Lưu biệt hẳn hoi mà người đi lại rất cụ thể :
Tiệc này đêm cuối mai chia li
Anh cố lưu tôi có ích gì
………………………………….
Đất trời rộng quá tôi không chịu
Cắm chặt sông đây một cánh bè
……………………………………………
Sáng mai qua bến Ninh Cơ lạnh
Sẽ thấy se lòng trận gió tê
Giọng đàn lưu luyến làm chi nữa
Tôi quyết đi rồi tôi phải đi .
Cách đây không lâu ,nhiều người đã tìm các tư liệu khá cụ thể về cuộc chia li và li khách ở bài thơ Tống biệt hành .Rất tiếc ,các tư liệu ấy ,có độ tin cậy cao ( một người bạn thân của Thâm Tâm ,một người là nhà văn cùng thời ) ,nhưng lại trái ngược nhau.Tôi đồ rằng ,sẽ còn những phát hiện như thế nữa .Song tất cả các phát hiện ấy càng khiến việc tiếp cận bài thơ thêm khó khăn .Giả dụ rằng,không có cuộc chia tay với những con người cụ thể kia thì thế nào vẫn có Tống biệt hành ,bởi muốn đi, quyết ra đi thật sự không ai khác là chính nhà thơ Thâm Tâm!
Sao nghe có tiếng sóng ở trong lòng?
Chuyện ra đi là thế ,nhưng người ta bàn luận nhiều về Tống biệt hành có lẽ vì đây là bài thơ hay nhất của Thâm Tâm .
Bài thơ mở đầu theo lối trực tiếp ,như một thông báo ,không nhiều lời:
Đưa người ,ta không đưa qua sông.
Song , đây lại là câu mở đầu ,khiíen người ta liên tưởng rất xa . Đây là chuyện Kinh Kha ,người nước Tề ,thời chiến quốc .Chàng vốn là kiếm khách nổi tiếng .Khi Tần sắp đem quân uy hiếp nước Yên ,thái tử Đan nhờ Kinh Kha có làm bài dịch thuỷ (Bài ca sông Dịch) ,tỏ rõ quyết tâm của mình:
Phong tiêu tiêu hề Dịch thuỷ hàn,
Tráng sĩ nhất khứ hề bất phục hoàn.
(Gió vi vu ,sông Dịch lạnh ,
Tráng sĩ một đi không trở về).
Việc hành thích Tần vương của Kinh Kha không thành .Chàng bị đam chết giữa cung điện Tần.Nhưng câu chuyện về Khinh Kha thíống mãi trong cuộc đời và văn chương . Đời Đường .Lạc Tần Vương có bài thơ Dịch thuỷ tống biệt nhắc chuyện Kinh Kha với bao cảm khái:
Tích thời nhân dĩ một,
Kim nhật thuỷ do hàn.
(Người xưa đã khuất rồi.
Nước sông còn lạnh buốt).
Tống biệt hành gợi nhớ chuyện Kinh Kha ,song lưu ý mọi người đây không phải là chuyện xưa : Đưa người ,ta không đưa qua sông .Cuộc đưa tiễn không biết diễn ra tại đâu ,nhưng buồn hiu hắt ,chất đầy tâm trạng :
Sao nghe có tiếng sóng ở trong lòng?
Bóng chiều không thắm ,không vàng vọt,
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?
Dường như ngoại cảnh không liên quan gì tới tâm trạng :không có bờ sông dậy sóng nhưng trong lòng lại nổi phong ba ;buổi chiều bình yên nhưng trong mắt đẫm ánh tà dương !Cách diễn tả thật lạ lùng.Thông thường ,người ta hay lấy cảnh vật để tả nỗi lòng ,theo kiểu Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ .Nhà thơ Mới Thâm Tâm thừa biết điều đó, nhưng đã làm theo chiều ngược lại.Trong bức tranh ngược sáng ây , tâm trạng nổi bật hẳn lên ,nỗi buồn ,sự tê tái mang vóc dáng ,hình thù hẳn hoi.
Người ta hay bàn cãi ,nỗi buồn của ai đây ?Theo lô gíc hình thức, chắc chắn đây là nỗi buồn của người đưa tiễn .Người ấy đang nói , đang kể chuyện rành rành ra đó .Bởi vậy ,mới có những câu thơ tiếp theo :
Đưa người ,ta chỉ đưa người ấy,
Một gã gia đình ,một dửng dưng…
Chẳng lẽ ở trên nói người rađi rất u buồn ,liền sau đó lại khẳng định: không ,người ấy rất dửng dưng ?Từ đầu đến câu thơ này,tất cả đều diễn tả tâm trạng của người đưa tiễn.Nhưng nhân vật trung tâm lại là người ra đi: vì người ấy mà tôi buồn ;vì người ấy mà tôi đau;chỉ có một người ấy thôi!Khổ nỗi ,người ấy lại nhất quyết ra đi,không gì có thể cưỡng lại đuợc:
– Li khách ! Li khách ! Con đường nhỏ,
Chí nhớn chưa về bàn tay không,
Thì không bao giờ nói trở lại!
Ba năm ,mẹ già cũng đừng mong.
Không ai biết lí do nào khiến người phải ra đi .Song , chắc đấy không là lí do đơn giản ,bình thường.Việc gì người ta phải đnáh đuổi ,kể cả nỗi lòng chờ mong của người mẹ thiêng liêng để ra đi ,nếu đó không là lí do thật cao cả? Câu thơ vẫn theo điệu kể ,nhưng chủ thể lời nói thì chuyển dịch dần từ người đưa tiễn sang người ra đi ,từng lời ,từng lời ,một,thật rắn rỏi , việc ra đi khó lòng thay đổi ý định ở người ra đi :
Ta biết người buồn chiều hôm trước :
Bây giờ mùa hạ sen nở nốt,
Một chị ,hai chị , cùng như sen,
Khuyên nốt em trai dòng lệ sót.
Ta biết người buồn sáng hôm nay:
Giời chưa mùa thu ,tươi lắm thay,
Em nhỏ ngây thơ , đôi mắt biếc,
Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay…
Chỗ dựa ấy là hoàn cảnh và tâm trạng của li kahchs .Về hoàn cảnh, người ấy có mẹ già và “một chị ,hai chị, cùng như sen” mùa hạ. Đông đấy ,nhưng vẫn lẻ loi , đơn chiếc .Người ấy có người “em nhỏ thơ ngây, đôi mắt biếc” đang rất nặng tình với mình ( ). Hoàn cảnh và tình cảm sâu nặng như thế ,ra đi lòng sao không trĩu nặng. Nhưng tình không lớn bằng nghĩa. Năm 1944, trong bài thơ Lưu biệt, Thâm Tâm thêm một lần nói rõ điều đó:
đời người say tỉnh được bao dịp
Xin cạn chén rượu đẻ tôi đi
Đau tình không xót bằng đau nghĩa
Tay gầy cũng nén chén vô tri
Mắt xanh cùng gửi ngoài mưa gió
Lòng không cùng sống với cầm thi…
Người ấy vẫn cứ đi .Chỗ dựa đẻ níu kéo hoá ra không cầm giữ được
Vì thế ,người trong cuộc ,dù biết rất rõ ,hiểu rất kỹ nhưng lòng vẫn bàng hoàng, ngơ ngác:
Người đi? Ừ nhỉ,người đi thực!
Mẹ già coi như chiếc lá bay,
Chị thà coi như là hạt bụi,
Em thà coi như hơi rượu say.
Khi bàng hoàng, ngơ ngác trước một cuộc chia li thì người ra đi mãi mãi in dấu trong tâm hồn người ở lại và cuộc chia li vẫn như đang diễn ra. Bài thơ Tống biệt hành của Thâm Tâm khiến người đời nhớ mãi vì lẽ đó.
Ta biết người buồn chiều hôm trước,
Bây giờ mùa hạ sen nở nốt,
Một chị, hai chị cũng như sen
Khuyên nốt em trai dòng lệ sót.
Ta biết người buồn sáng hôm nay
Giời chưa mùa thu, tươi lắm thay,
Em nhỏ ngây thơ đôi mắt biếc
Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay…
Người đi?ừ nhỉ, người đi thực!
Mẹ thà coi như chiếc lá bay,
Chị thà coi như là hạt bụi,
Em thà coi như hơi rượu say!
GS. Trần Đình Sử
(Báo Giáo dục và Thời đại, số 28 ngày 7/10/1992)




