Thâm Tâm một thời và mãi mãi – Văn Giá

Có một cách hình dung về đội ngũ những người sáng tạo văn học, căn cứ vào mức độ gắn bó với nghề ta có thể chia làm hai loại: Một, những người nếu không viết họ vẫn sống được, họ có thể bỏ bút đi làm nghề khác, ừ thì cũng có một chút lưu luyến nào đó với nghề, nhưng mà văn chương chẳng phải là…tất cả, cuộc đời còn có những thú vị khác hơn; và hai, những người nếu không viết thì không thể sống nổi, hiểu theo nghĩa cụ thể, vật chất, và cả với nghĩa tinh thần của nó. Không sống nổi bởi vì, nếu không viết văn thì họ chẳng biết làm gì, họ không có cái khả năng mưu sinh bằng những nghề khác, họ không thạo đi giữa cuộc đời.

Không sống nổi bởi vì cái đam mê văn chương như là định mệnh, nó cứ ám anh suốt đời. Có lúc rơi vào chán nản, muốn vứt hết chữ nghĩa văn chương đi, nhưng rồi bất ngờ nó lại hiện về, nó rủ rê quyến rũ anh, anh lại vồ lấy bút, lại đêm đêm độc lực viết như thiêu thân, viết như hành xác, viết đến lao lực… Nhà văn Thâm Tâm thuộc trường hợp thứ hai, nghĩa là Thâm Tâm sinh ra để làm nghệ sĩ. Như người ta vẫn thường nói: Văn chương nó chọn anh, chứ không phải anh chọn văn chương. Vâng, văn chương đã chọn Thâm Tâm để cất cánh trở thành thơ ca và truyện ngắn, trong đó có những vần thơ bất hủ, và một số áng văn xuôi đẹp đẽ.

Gia cảnh Thâm Tâm rất cơ hàn, túng quẫn. Từ Hải Dương lên Hà Nội (1938), kéo theo cả nhà gồm cha mẹ già, hai người chị cùng bốn đứa em còn nhỏ và người vợ, có đến cả chục miệng ăn như tằm ăn rỗi. Ngần ấy người dồn ép vào sống trong một căn nhà thuê tháng rộng khoảng chừng hai chục mét vuông. Thâm Tâm nhận việc đóng sách cho nhà in Mai Lĩnh rồi mang về cho cả gia đình làm, còn riêng mình thì đi vẽ tranh minh hoạ cho các báo, làm thơ, viết truyện, viết kịch, viết tạp văn…gửi đăng các báo vừa để sinh nhai, vừa thoả cái mộng văn chương hằng ấp ủ. Có nghĩa là ông viết cật lực, chẳng kén chọn gì lắm về đề tài, thể loại, nơi in…

Nhà văn Vũ Bằng kể lại: Khi đương giữ chân thư ký toà soạn cho tờ Tiểu thuyết thứ bẩy quãng năm 1941- 1943, ông thấy gia cảnh bạn mình túng thiếu, nên thường ưu tiên cho đăng của Thâm Tâm hai bài trong một số (hoặc một truyện, một thơ, hoặc một truyện, một kịch với hai bút danh: Thâm Tâm và Tuấn Trình) để bạn mình có chút đỉnh nhuận bút. Bây giờ nếu ai có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với tờ Tiểu thuyết thứ bẩy vào quãng thời gian này sẽ thấy liên tục trên các số báo có tác phẩm của Thâm Tâm với hai bút danh như vậy. Ngoài ra ông còn viết cho Truyền bá, Phổ thông bán nguyệt san (cũng của nhà Tân Dân), Tiểu thuyết thứ năm của Lê Tràng Kiều (chủ bút) và một số báo khác. Tính sơ bộ trong tài liệu mà chúng tôi sưu tầm được, ông có hàng chục bài thơ, 70 cái truyện ngắn truyện dài, trên chục vở kịch, một số tạp văn… ra đời trong quãng thời gian này. Có thể khẳng định rằng cái động cơ thôi thúc Thâm Tâm viết được nhiều như vậy chủ yếu thuộc về lý do mưu sinh, viết văn để kiếm sống, để phụ giúp vào một gia đình mà lúc nào cũng có nguy cơ đứt bữa.

Có thể ai đó sẽ cho rằng cách giải thích này không được “thơ” cho lắm, nhưng quả thật như thế (Cơm áo không đùa với khách thơ)! Mà chẳng cứ gì Thâm Tâm. Nhiều nhà văn nhà thơ ưu tú của chúng ta thời đó vướng vào nghiệp văn chương, cũng đã từng lận đận mưu sinh bằng ngòi bút. Kể từ bậc “trưởng lão” Tản Đà, cho đến Ngô Tất Tố, Lê Văn Trương, Lan Khai, Thạch Lam, Nam Cao, Tô Hoài và rất nhiều nhà văn khác. Vũ Trọng Phụng chẳng đã từng vừa ôm ngực vừa ho vừa viết, viết đến lao lực rồi chết đó sao.

Mà đã viết mưu sinh thì không thể không chạy theo số lượng. Tác phẩm được in ấn càng nhiều, thì cái nồi cơm trong mỗi bữa lại càng đầy, trong bữa ăn mọi người đỡ phải trông nồi ý tứ nhường nhau, mới dám nhìn thẳng vào mặt nhau một cách tự nhiên, thành thực. Chẳng may trong nhà có ai ốm đau, con cái có đứa nào sài đẹn mới có cái để chạy thuốc men cho đỡ tủi.

Tuy nhiên, ở những nhà văn có tài, trong số các văn phẩm ít nhiều chạy theo số lượng ấy vẫn có những tác phẩm đỉnh cao như thường. Vâng, phải có tài, người có tài thì ngay cả khi viết trong một điều kiện ngặt nghèo nhất, hoặc viết chạy theo một mục đích sát sườn nhất thì các trang viết vẫn cứ có thể lấp lánh như thường.

Tống biệt hành của Thâm Tâm là một thi phẩm thuộc vào hàng đỉnh cao sáng giá như vậy. Xin kể lại một kỷ niệm thời còn học đại học vào quãng những năm sau ngày giải phóng miền Nam 1975, lúc bấy giờ hầu hết Thơ Mới đang còn bị định kiến, bị hiểu lầm. Cho nên trong giới sinh viên, ai biết được bài nào liền thì thụt đọc hoặc chép cho nhau, vì thế nên có tình trạng tam sao thất bản. Riêng với bài Tống biệt hành, lứa sinh viên bọn tôi chỉ biết có bốn câu đầu. Vì là thể hành, nên đoán chắc bài thơ sẽ còn dài nữa, nhưng chẳng mấy ai biết phần tiếp theo là như thế nào, mà hỏi thầy thì không dám. Thôi thì đành ngâm nga bốn câu thơ đầu:

Đưa người, ta không đưa qua sông
Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
Bóng chiều không thắm không vàng vọt
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?

Phải thừa nhận rằng bốn câu mở đầu này có một sức quyến rũ mê người. Và hầu hết trong số chúng tôi đều coi mấy câu thơ ấy viết về tình yêu, viết về cuộc tiễn biệt của trai gái yêu nhau nào đó. Bảo là nỗi buồn nặng trĩu trong lòng đôi người yêu nhau kẻ đi người ở có gì là sai đâu. Chúng tôi lại còn ngâm nga, thậm chí viết tặng vào sổ tay bạn gái như một gửi gắm vu vơ. Sau này, khi định kiến đối với Thơ Mới dần được gỡ bỏ, tư liệu về Thơ Mới được công bố công khai, rộng rãi, mới biết rằng không phải như thế. Hoá ra bài thơ là câu chuyện và tâm sự của hai người đàn ông tráng chí nặng tình tiễn biệt nhau, một ở lại một lên đường vì chí lớn.Thậm chí lại có tư liệu cho biết nhà thơ Thâm Tâm viết tặng cho một người bạn hoạt động bí mật trong tổ chức cách mạng nhân lần tiễn bạn đi chiến khu chiến đấu (1).

Tuy nhiên, không vì thế mà ý nghĩa bài thơ bị bó hẹp vào một cách giải thích cụ thể nào, hoặc vẻ đẹp của nó bị suy giảm. Bài thơ đã được đưa vào trong chương trình văn THPT. Bài thơ đã gây ra những thảo luận, tranh luận sôi nổi một dạo. Có những cách hiểu khác nhau ít nhiều, điều này càng chứng tỏ tầm vóc của thi phẩm. Một tác phẩm hay, nó không chịu nằm yên trong một cách hiểu duy nhất nào, mà nó luôn muốn vượt thoát để đến với tất thảy mọi người, thuộc về mọi người. Như hương của một loài hoa quý, nó dâng tặng mọi người, nhưng hễ ai có ý định “nhốt” mùi hương lại đều cảm thấy ít nhiều thất bại. Với bài thơ bất hủ này, nhà văn Vũ Bằng, một người bạn đàn anh của Thâm Tâm đã tặng Thâm Tâm một thi hiệu nghe lạ lạ và thú vị: Nhà phù thuỷ hô sóng vào lòng và gọi hoàng hôn lên mắt(2).

Cũng lại Vũ Bằng, ông bảo Thâm Tâm là một người ốm yếu mà can đảm((3) 3), ý muốn nói thân hình Thâm Tâm thì nhỏ bé, da hơi đen, hơi gầy, ít nói, mà làm thơ viết văn thì hay nói đến cái tráng chí, cái hùng khí của con người. Quả thật, trong thơ của Thâm Tâm, thấy ông nói rất nhiều về niềm sầu hận, có khi trực tiếp, có khi xa gần gián tiếp:

Tan tiệc quần anh, người nuốt giận
Thằng bó văn chương đôi gối hận
Chán ngắt gia tình sầu ngất ngất
Già teo thân thế hận mang mang
Tro tàn có đốt không hồng nữa
Thắt lạnh bên lòng nỗi hận thương
Lòng ai bầm tím, ai buồn tối
Cũng tại rừng đời lạc lối ra

Sầu hận là một trạng thái tâm lý chỉ có đến giai đoạn cuối của phong trào Thơ Mới mới xuất hiện, nghĩa là vào quãng từ 1940 trở đi. Trước đó chỉ có thấy sầu mộng (Lưu Trọng Lư, Thế Lữ…), sầu đơn, sầu tủi, u sầu (Xuân Diệu, Nguyễn Bính…). Những nỗi sầu đó về cơ bản vẫn không nằm ngoài một chữ tình. Vượt ra khỏi chữ tình một chút, với Huy Cận, lại là vũ trụ sầu. Đến thời này, sự bế tắc của đời sống cá nhân nghệ sĩ đã lên đến tột đỉnh. Vũ Hoàng Chương phải kêu lên: Lũ chúng ta lạc loài dăm bảy đứa- Bị quê hương ruồng bỏ, giống nòi khinh. Trần Huyền Trân thì: Kinh thành mây đỏ như son- Cái lồng eo hẹp giam con chim trời. Đến Nguyễn Bính, cũng đã chán cảnh “giang hồ vặt”: Đất khách cùng đường ta khóc ta. Ngay cả Xuân Diệu của những năm 42-43 khi đang lưu lạc ở Mỹ Tho cũng đã bắt đầu thấy nhắc đến hai chữ “sầu hận”: Ngủ đi, ngủ đi, sầu hận muôn năm (Riêng tây)…

Nếu như các trạng thái sầu trên kia có nguyên do trực tiếp từ tâm tình cá nhân thì đến sầu hận, nguyên do lại bắt nguồn từ thời thế, từ những vang động xã hội. Một câu hỏi trực diện đặt ra cho bất cứ người nghệ sĩ nào lúc này là: Đi về đâu? Câu hỏi đó lập tức bắt người nghệ sĩ phải đối mặt với thời cuộc. Đi tìm giải pháp cho cách thế tồn tại của cuộc đời, mỗi người lựa chọn theo những cách khác nhau. Có người vùi mình vào những hưởng thụ cá nhân, nên bế tắc lại càng bế tắc. Có người nỗ lực tìm đường đổi thay số phận, không chịu bị cuộc sống đè bẹp. Trong những nỗ lực cảm động đó, có Thâm Tâm. Thơ ca cũng như văn xuôi của Thâm Tâm có khá nhiều tác phẩm trình bày hình ảnh người ra đi. Người ra đi này thường được đặt trong tình huống tống biệt, chia ly. Thông thường người ra đi là một người mang sầu hận, ôm chí lớn, và bữa rượu tiễn biệt đều có những nhân vật mang dáng dấp trượng phu hoặc chiến binh thời trung đại. Uống rượu thì phải ném vỡ tan chén rượu, phải tỏ chí ngang tàng, lắm khi nói lời thề thốt:

Thở phù hơi rượu đua tranh
Quăng tay chén khói tan thành trời mưa
Ly khách! Ly khách! Con đường nhỏ
Chí lớn chưa về bàn tay không

Có người rắp tâm ôm chí lớn nhưng không thành, quyết nuôi chí phục thù. Hình ảnh Huyền Sinh trong truyện ngắn Lá quạt hoa quỳ là một người như vậy. Chí lớn không có cơ thực hiện, người yêu bị Quỷ vương chiếm đoạt, chàng tưởng như lâm vào tuyệt vọng. Chàng giả điên để chờ thời. Người điên này chiều chiều thả vào trời đất tiếng sáo ai oán của mình. Thế rồi một hôm, một người có dáng trượng phu đến gặp rủ đi. Từ bấy chàng điên mất tích. Chàng đã lên đường. Đó là một hình ảnh ẩn dụ, nhuốm mầu bi tráng.

Tất cả những điều đó nói với chúng ta rằng Thâm Tâm thuộc trong số không nhiều các nhà văn có khí cốt mạnh mẽ lúc bấy giờ. Họ không thích kêu rên, than khóc. Cũng không muốn chết chìm vào trong những khoái thú cá nhân. Họ muốn đổi thay, muốn lên đường. Dòng huyết mạch chảy mạnh mẽ trong cơ thể họ. Quả tim trẻ tuổi đang đập rộn trong lồng ngực họ. Thơ của Thâm Tâm, Trần Huyền Trân có cái ngang tàng, khoẻ khoắn, dám đi “ngược gió” giữa đời. Sự thực là sầu hận và chí lớn đã tạo nên cái “chút bâng khuâng khó hiểu của thời đại” trong Tống biệt hành như Hoài Thanh đã từng cảm nhận. Tôi nghĩ rằng nếu nói lúc viết Tống biệt hành (1940-1941) Thâm Tâm đã đứng vào hàng ngũ hoạt động cách mạng thì e hơi sớm, nhưng bảo là Thâm Tâm đã cảm nhận được không khí sục sôi đang diễn ra từng ngày từng giờ của thời đại do những người cách mạng khởi xướng và lãnh đạo và đồng tình với nó thì chắc chắn là đã có. Cho nên, như một tất yếu, sau Cách mạng tháng Tám, Thâm Tâm rất sớm đi theo kháng chiến, đứng vào hàng ngũ những người cách mạng đánh đuổi kẻ thù xâm lược.

Nhưng nếu chỉ nói như thế không thôi, thì Thâm Tâm không đi xa hơn là mấy so với các nhà thơ trung đại. Cái điều làm cho Thâm Tâm trở thành điệu hồn Thơ Mới, Tống biệt hành trở thành thi phẩm Thơ Mới là ở chỗ: Nhà thơ đã thể hiện được một cách sâu sắc và thành thực đến cảm động cái mối giằng xé giữa con người tráng chí (con người tỏ mình trước cuộc đời) với con người tình nghĩa (con người vừa mang bổn phận hiếu đễ với gia đình, vừa thuận theo cái tình cảm tự nhiên mà ai cũng có với người thân, với bạn bè). Mối giằng xé này đã làm vọt ra những câu thơ đứng vào hàng tuyệt bút. Hãy thử lắng nghe xem đằng sau cái vẻ rất Kinh Kha kia là niềm day dứt, nỗi xót thương của một người nặng tình biết bao nhiêu, tưởng như những giọt nước mắt cố nén nay chực vỡ oà:

Người đi? Ừ nhỉ người đi thực!
Mẹ thà coi như chiếc lá bay,
Chị thà coi như là hạt bụi,
Em thà coi như hơi rượu say.

Bài thơ đã chạm vào nỗi lòng muôn thưở của kiếp người, thứ tấm lòng thuộc về nhân loại. Chính vì thế, bài thơ đã đi vào bất tử. Không có cái tôi Thơ Mới, các nhà thơ của chúng ta làm sao có thể đập vỡ được cái vỏ ước lệ thuộc về cái ta trung đại để bước vào cái tôi nhân văn phổ quát.

Như ta đã biết, sau này Thâm Tâm đi theo kháng chiến. Ông là thư ký Toà soạn báo Vệ quốc quân (tiền thân của báo Quân đội nhân dân ngày nay) có trụ sở đóng tại vùng căn cứ kháng chiến thuộc tỉnh Cao Bằng. Theo các tài liệu trong hồi ức của bạn bè đồng chí, Thâm Tâm là một người làm báo tận tuỵ, rất có trách nhiệm trước công việc, trước bạn đọc. Chỉ một cái địa danh in sai trên bản in thử mà ông đã băng rừng gần chục cây số qua suối lũ, hổ rừng đe doạ để sửa((4) 4). Ông mất vì bệnh sốt rét rừng. Cũng là do làm việc quá sức, ăn uống kham khổ, lại khí hậu khắc nghiệt mà ra cả. Đồng đội ông kể lại rằng khi phát hiện ra Thâm Tâm bị ốm thì đã vội cáng nhà thơ về trạm xá của đơn vị cách chừng một ngày đường đi bộ để điều trị, tiếc thay trên đường nhà thơ đã lặng lẽ tắt thở, không kịp trăng trối điều gì. Lúc ấy vào rạng sáng một ngày thu sương trên núi rừng Việt Bắc – 18.8.1950.

Người viết bài này đã cùng thân nhân gia đình Thâm Tâm và một số nhà văn nhà thơ khác của tỉnh Cao Bằng cất công đi tìm mộ nhà thơ Thâm Tâm. Thật kỳ công. Khung cảnh nơi đây đã khác hẳn. Năm mươi năm vật đổi sao dời. Khi xác định được đúng ngôi mộ rồi, thì hài cốt nhà thơ đã dược bốc dỡ, di dời về nghĩa trang huyện Quảng Hoà. Nhưng tiếc thay, về tới đây, khi chưa kịp gắn bia mộ, sơ đồ mộ chí còn trong túi hồ sơ, thì chẳng may trong vụ tháng 2-1979, hồ sơ bị những kẻ ngoại bang đốt sạch. Vậy là ngôi mộ Thâm Tâm hiện giờ không rõ đích xác ngôi mộ nào, nhưng chỉ biết chắc chắn là đã có mặt trong các hàng mộ liệt sĩ vô danh tại Nghĩa trang Quảng Hoà. Tên Anh đã hoà cùng tên Đất Nước.

Khi Thâm Tâm mất, hành trang chẳng có gì. Sau này gia đình nhà thơ được đơn vị trao lại một chiếc ba lô, trong đó còn một vài thứ gồm mấy trang ghi chép có tính chất nhật ký, cuốn Đại đội Kim Sơn của tác giả mới in, một bài tham luận tại Đại hội văn nghệ, sáu bức ảnh chụp hình nhà thơ và các bạn văn nghệ kháng chiến, một chiếc bút máy và một cái thìa nhỏ. Tất cả chỉ có thế. Bà quả phụ Thâm Tâm lâu nay vẫn đặt chiếc thìa nhỏ đó lên ban thờ linh hồn Thâm Tâm, như một kỷ vật thân thương duy nhất còn giữ được.

Tuy nhiên, còn có một thứ hành trang vô giá mà Thâm Tâm để lại đó là các áng văn thơ. Ông viết không phải là nhiều. Cũng không thể nói đó là một sự nghiệp đồ sộ. Nhưng lạ lùng thay, văn chương không phục tùng quy luật của số lượng, mà chỉ tuân theo quy luật về chất. Với Tống biệt hành, với vài ba truyện ngắn, thí dụ như Thuốc mê chẳng hạn, Thâm Tâm vĩnh viễn có chỗ đứng riêng trong nền văn chương dân tộc.

Núi rừng Việt Bắc, con người Việt Bắc cùng Đất Nước đã tiễn đưa Thâm Tâm vào cõi mây trời cách đây năm mươi năm có lẻ. Cuộc tống biệt này không có ngày đoàn tụ. Mỗi khi nhớ về ông, bỗng lại có sương khói hoàng hôn và những gợn sóng lòng ba động.

————————————————————————————

(1) Theo tài liệu của ông Hoài Việt, trong bài Thêm một chút tư liệu về bài Tống biệt hành, in trong Thâm Tâm và T.T.Kh, Nxb Văn học, 1997

(2), (3) Xem thêm trong bài Thâm Tâm: Nhà phù thuỷ hô sóng vào lòng và gọi hoàng hôn lên mắt, in trong Vũ Bằng- Mười chín chân dung nhà văn cùng thời (Văn Giá sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu), Nxb ĐHQG- Trung tâm Văn hoá và Ngôn ngữ Đông Tây, 2002.

(4) Xem bài Những phút cuối cùng của Thâm Tâm của nhà báo Trúc Kỳ, in trong Thâm Tâm và T.T.Kh (Sđd).

Nguồn: Thâm Tâm một thời và mãi mãi

Thâm Tâm tự tống biệt mình (Về bài thơ TỐNG BIỆT HÀNH của Thâm Tâm) – Vũ Bình Lục

“Tống biệt hành” của Thâm Tâm, như tôi thiển nghĩ, chỉ là bài thơ kiểu tự tình, tự đối diện với chính mình, tự phân thân như một thủ pháp nghệ thuật. Các hình ảnh, hình tượng thơ và cấu trúc hình thức, phải chăng, chỉ là cách biểu hiện độc đáo của tâm trạng, trong một bối cảnh đặc biệt nào đó của nhân vật trữ tình? Có thể là chính tác giả, cùng với những xúc cảm chân thành, khi quyết định bước chân vào trường tranh đấu đầy hiểm nguy, linh cảm sẽ có thể hy sinh. Một phần, cũng có thể tác giả trình bày như một ký thác tâm tư tình cảm của những người lính “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” chẳng hạn… Cũng chẳng nên rạch ròi quá làm gì, bởi thơ là nghệ thuật tuyệt diệu của trí tưởng tượng, phập phồng thực ảo, huyền bí sâu xa. Người đọc cảm nhận ở “Tống biệt hành” một tấm chân tình, một nỗi niềm trung thực, sáng trong, nhuốm màu bi tráng của một thời khốc liệt và oanh liệt của dân tộc đã qua.

Đưa người ta không đưa qua sông
Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
Bóng chiều không thắm không vàng vọt
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?

Đưa người, ta chỉ đưa người ấy
Một giã gia đình, một dửng dưng…
-Ly khách! Ly khách! Con đường nhỏ
Chí lớn chưa về bàn tay không
Thì không bao giờ nói trở lại!
Ba năm mẹ già cũng đừng mong

Ta biết người buồn chiều hôm trước
Bây giờ mùa hạ sen nở nốt
Một chị, hai chị cũng như sen
Khuyên nốt em trai dòng lệ sót

Ta biết người buồn sáng hôm nay
Trời chưa mùa thu, tươi lắm thay
Em nhỏ ngây thơ đôi mắt biếc
Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay…

Người đi? Ừ nhỉ người đi thực!
Mẹ thà coi như chiếc lá bay
Chị thà coi như là hạt bụi
Em thà coi như hơi rượu say…

Thâm Tâm (1917-1950) sáng tác chưa nhiều, tuy nhiên, chỉ với “Chiều mưa đường số 5” và “Tống biệt hành”, tên tuổi ông cũng đã khắc sâu vào lịch sử văn chương nước nhà, như một nhà thơ nổi tiếng. Và có giọng điệu riêng, đầy ấn tượng!

Bài thơ “Tống biệt hành”, thực ra cũng chỉ mới được tôn vinh trở lại từ khi có tư tưởng đổi mới. Hơn thế, nó còn được đưa vào sách giáo khoa, được nghiên cứu, bình giải, như một bài thơ đặc sắc của thơ ca tiếng Việt thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Đó cũng là một sự công bằng lịch sử!

Tuy nhiên, “Tống biệt hành” của Thâm Tâm, quả là một bài thơ có nội hàm phong phú. Đã xảy ra rất nhiều tranh biện về bài thơ này, cả về giá trị nội dung và nghệ thuật. Nhìn chung, cũng chưa hẳn là “xuôi chèo mát mái”, chưa hẳn người đọc người nghe đã tâm phục khẩu phục! Điều ấy cho hay, “Tống biệt hành” là một bài thơ chứa nhiều uẩn súc trong các hình ảnh, hình tượng thơ, trong cấu trúc thẩm mỹ, trong bối cảnh sáng tác…

Ngay cái tên bài thơ, toàn là từ Hán Việt. Có người hiểu “Hành” ở đây là một thể thơ (Thể Hành). Nhưng nếu ghép đầy đủ cả ba từ Hán Việt này thành một cụm từ, thì đơn giản chỉ là “Tiễn biệt người ra đi”…Thế thôi!

Vậy thì ai tiễn ai? Căn cứ vào bề mặt câu chữ “Đưa người ta không đưa qua sông”…thì có vẻ như tác giả bài thơ (Ta), cùng với gia đình (mẹ, một chị, hai chị và em gái) tiễn một người nào đó ra đi, một người bạn chẳng hạn, như tiễn biệt một tráng sỹ đi làm một công việc đặc biệt gì đó, vì nghĩa lớn, cao cả, ví như việc tiễn chàng hiệp sỹ Kinh Kha đi tiêu diệt Tần Thuỷ Hoàng, đã diễn ra ở bên Tàu cách đây mấy nghìn năm.

Tôi cho rằng, nhân vật trữ tình “Ta” với “Người” ở đây có lẽ chỉ là một. Nghĩa là “ta” cùng với gia đình tiễn biệt chính “Ta”, chứ chẳng phải là tiễn đưa một ai khác! Hãy đọc lại đoạn thơ mở đầu thử xem: “Đưa người ta không đưa qua sông/ sao có tiếng sóng ở trong lòng? / Nắng chiều không thắm không vàng vọt / sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?”…

Hãy khoan nói về nghệ thuật sử dụng các vần “bằng”, “trắc”, về nhịp thơ… để tạo dựng âm thanh, tiết tấu, gợi mở tâm trạng, gợi mở không gian bi tráng của đoạn thơ mở đầu, chỉ nói về bối cảnh tiễn đưa. Rằng “ta” tiễn một người ra đi, chẳng qua sông sâu biển rộng gì sất, mà nghe rõ như có tiếng sóng đang vỗ ào ạt trong lòng. Đấy là hỏi chính mình, đồng thời khẳng định đó chính là cảm xúc của chính mình, cảm xúc của một cuộc ra đi, linh cảm hình như là chẳng có ngày trở lại. Thế nên, đó là một cảm xúc buồn, mơ hồ buồn. “Nắng chiều không thắm không vàng vọt / sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?” Nỗi buồn đã nhuốm vào cả thiên nhiên, đến như ráng chiều cũng giài giại đi, “không thắm không vàng vọt”, ấy thế mà người ra đi cũng nhuốm đầy hoàng hôn trong đôi mắt trong veo, ráo hoảnh của mình.
Đoạn thơ mở đầu đã thấy dự báo một cuộc chia ly vĩnh viễn, như một định mệnh. Xốn xang buồn, bi tráng, nhưng vẫn làm chủ được mình, bởi đã trải qua bao vật vã nghĩ suy, rồi mới đi đến một quyết định dứt khoát. Người đọc thấy nể trọng một nhân cách lớn, không dối mình, không dối người, không lãng mạn viển vông, cũng không lên gân to tát. Bởi đó chính là tiếng nói của trái tim, nhân bản! Hãy nghe người thơ chiến sỹ tâm sự:“Đưa người, ta chỉ đưa người ấy / một giã gia đình, một dửng dưng”…Thế là “ta” tiễn biệt chính “ta”, “ta chỉ đưa người ấy”, nên mới “một giã gia đình, một dửng dưng”. Một khi mục tiêu đã xác định, chí đã quyết, thì “chí lớn chưa về bàn tay không / thì không bao giờ nói trở lại”, thì “ba năm mẹ già cũng đừng mong”! Cảm giác như người ra đi đang bừng bừng nghĩa khí, bất giác thốt lên những lời ca tráng sỹ, như cố xua đi, gạt phăng đi những cảm xúc có phần yếu đuối đang len lỏi trong tâm hồn tuổi trẻ yêu đời. Đó cũng là một cảm xúc chân thành, không phải chỉ Thâm Tâm mới có.

Tuy nhiên, để có một quyết tâm cao độ, dứt khoát như vậy, thật không đơn giản chút nào. Hãy nghe tác giả trình bày:

“Ta biết người buồn chiều hôm trước”, “Ta biết người buồn sáng hôm nay”. Thế nghĩa là buồn đã mấy ngày, trăn trở đã mấy ngày, chứ đâu phải đi vào chỗ hiểm nguy, vào chỗ có thể hy sinh mà bảo là tươi vui ngay cho được? Có lẽ người ra đi suy nghĩ lung lắm, phần thương mẹ già, em nhỏ, các chị gái chưa chồng, chiến tranh loạn lạc thế này, trai tráng ra đi hết cả, “bây giờ mùa hạ sen nở nốt”, biết đâu rồi “một chị hai chị cũng như sen”, nở rồi cũng sẽ tàn? Có thể các chị “khuyên nốt em trai” bằng những dòng lệ xót xa thương cảm, còn sót lại, sau khi đã chảy nhiều rồi. Còn cô em gái bé bỏng ngây thơ, thương anh, cũng chỉ biết “gói tròn thương tiếc”, gói lại những giọt nước mắt xót thương anh trong chính chiếc khăn tay bé nhỏ của mình…

Cuối cùng, những buồn thương, những xót xa trong buổi tiễn đưa người ra đi rồi cũng tạm lắng dịu. Tác giả dường như vừa chợt tỉnh cơn mơ: “Người đi? ừ nhỉ người đi thực!”. Thế là đi thật rồi, chia ly thật rồi! Bao vật vã giằng xé, lại dồn nén, rồi bật ra những lời tâm sự chí tình. “Ly khách” dường như đang nói lời tâm huyết với mẹ, với chị và với em, xem như lời dặn dò sâu nặng: Với mẹ, thì xin mẹ hãy coi con như một chiếc lá, một chiếc lá xanh, một “chiếc lá bay”…Với chị, xin hãy cứ coi thằng em trai này như một hạt bụi trên đời, thân cát bụi lại trở về cát bụi, thế thôi. Còn với đứa em bé nhỏ “mắt ngây thơ”, tình cảm anh em, hãy xem đó chỉ là một thoáng tươi đẹp trong đời, “như hơi rượu say”, rồi sẽ dần nguôi quên…

“Tống biệt hành” của Thâm Tâm, như tôi thiển nghĩ, chỉ là bài thơ kiểu tự tình, tự đối diện với chính mình, tự phân thân như một thủ pháp nghệ thuật. Các hình ảnh, hình tượng thơ và cấu trúc hình thức, phải chăng, chỉ là cách biểu hiện độc đáo của tâm trạng, trong một bối cảnh đặc biệt nào đó của nhân vật trữ tình? Có thể là chính tác giả, cùng với những xúc cảm chân thành, khi quyết định bước chân vào trường tranh đấu đầy hiểm nguy, linh cảm sẽ có thể hy sinh. Một phần, cũng có thể tác giả trình bày như một ký thác tâm tư tình cảm của những người lính “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” chẳng hạn… Cũng chẳng nên rạch ròi quá làm gì, bởi thơ là nghệ thuật tuyệt diệu của trí tưởng tượng, phập phồng thực ảo, huyền bí sâu xa. Người đọc cảm nhận ở “Tống biệt hành” một tấm chân tình, một nỗi niềm trung thực, sáng trong, nhuốm màu bi tráng của một thời khốc liệt và oanh liệt của dân tộc đã qua.

Thâm Tâm (Liệt sỹ Nguyễn Tuấn Trình), chàng trai Xứ Đông tràn đầy nhiệt huyết đã ngã xuống khi tuổi đời đang sung sức. Vậy nên, “Tống biệt hành” có thể xem là một bài thơ dự báo định mệnh. Đó là một bài thơ rất lạ, đến nay còn lạ, khiến người đời sau phải rơi nước mắt, phải nghĩ ngợi mãi chưa thôi!

Hà Nội 15-10-2010

Thâm Tâm với danh tác “Tống biệt hành” – Huyền Viêm

Đưa người ta không đưa qua sông
Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
Bóng chiều không thắm, không vàng vọt
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?

Đó là bốn câu thơ mở đầu cho bài “Tống biệt hành”, bài thơ đã làm nên sự nghiệp văn chương của Thâm Tâm.
Thâm Tâm tên thật là Nguyễn Tuấn Trình, sinh ngày 12.5.1917 tại Hải Dương, xuất thân trong một gia đình nhà nho nghèo và đông con. Sau khi học hết bậc tiểu học, ông phải ở nhà giúp gia đình đóng sách và nấu bánh kẹo. Khoảng năm 1938, ông cùng gia đình lên Hà Nội sống bằng nghề vẽ tranh Bờ Hồ, làm đồ gốm và bắt đầu viết văn. Ông cộng tác với Tiểu Thuyết Thứ Bảy, Tiểu Thuyết Thứ Năm, Ngày nay, Bắc Hà.
Sau Cách mạng tháng tám, ông công tác ở Hội Văn hóa cứu quốc và làm biên tập viên cho tạp chí Tiên Phong. Khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, ông nhập ngũ, làm thư ký tòa soạn báo Vệ quốc quân (tiền thân của báo Quân đội nhân dân), cơ quan ngôn luận của Quân đội nhân dân Việt Nam. Ông vừa làm thơ, viết tin, soạn kịch, vừa trình bày và vẽ tranh châm biếm.
Năm 1950, Thâm Tâm đi chiến dịch Cao Lạng để làm báo ngoài tiền tuyến. Ngày 18 tháng 8, một cơn sốt rét ác tính đã cướp mất đời ông ở tuổi 33 tại xã Phi Hải, huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng.
Lúc đầu, vì dùng văn chương để làm kế mưu sinh nên Thâm Tâm viết nhiều thể loại. Về truyện, ông có tiểu thuyết Thuốc mê (1943), Đại đội Kim Sơn (1948). Về kịch có các vở Sương tháng tám (1939), 19 tháng 8 (viết chung với Trần Huyền Trân), Lối sống, Nga Thiên Hương, Đầu quân vào Nam (1945), Lá cờ máu (1946). Về tiểu luận có Văn thơ bộ đội (1949).
Nhưng chỉ có thơ mới làm cho Thâm Tâm nổi tiếng. Thơ của ông để lại không nhiều, khoảng 20 bài, trong đó có bài Tống biệt hành đã mang lại cho ông vòng nguyệt quế. Bài thơ này thành công nhất, được Hoài Thanh, Hoài Chân tuyển vào cuốn Thi nhân Việt Nam và người yêu thơ nào cũng biết.
Trước Cách mạng tháng tám, thơ Thâm Tâm rất buồn. Nhà thơ Vũ Cao – tác giả bài thơ Núi đôi – cũng có nhận xét như thế :
-“Trước cách mạng, tôi chỉ đọc Thâm Tâm vài truyện ngắn, vài bài thơ. Thơ anh rất buồn, cái buồn của những người bất đắc chí, chỉ biết đi là đi, chia biệt, mong nhớ, đượm cái khí thế “trượng phu” thời cổ, hào hùng thì ít, u hoài thì nhiều :
Chim nhạn chim hồng rét mướt bay,
Vuốt cọp, chân voi còn lận đận…”
(Vọng nhân hành)
Thâm Tâm buồn vì nhiều lẽ : vì “sinh bất phùng thời”, vì hoàn cảnh khó khăn, vì bạn bè ly tán…
Tai hại bao nhiêu sự thực đời,
Trừng lên, dập hết mộng. Như người
Tưởng yên ổn sống trong khung cổ,
Vụt tiếng kèn vang nhắc… hiện thời.
(Mơ thuở thanh bình)
Trong khi đó, cuộc sống của tác giả và gia đình gặp biết bao nỗi khó khăn :
Sinh ta, cha ném bút rồi,
Rừng nho tàn rụng cho đời sang xuân.
Nuôi ta, mẹ héo từng năm,
Vắt bầu sữa cạn, tê chân máu gầy.
Dạy ta ba bảy ông thầy,
Gươm dài sách rộng, biển đầy núi vơi.
Nhà ta cầm đợ tay người,
Kép bông đâu áo, ngọt bùi đâu cơm?
(Tráng ca)
Vì hoàn cảnh của đất nước, bạn bè của tác giả phải ra đi, mỗi người một phương trời, không hẹn ngày tái ngộ :
Ngươi chẳng thấy
Vì đời ta buồn như thế đấy,
Cho nên tri kỷ tếch phương trời
Chén rượu ngồi suông vắng cả người !
(Can trường hành)
Nỗi buồn của Thâm Tâm bàng bạc qua các trang thơ. Nghĩ đến chuyện cũ (cố sự) thì nỗi buồn cao vời vợi :
Chán ngán nhân tình sầu chất ngất
(Ngậm ngùi cố sự)
Nghĩ đến cuộc đời mình rày đây mai đó, chẳng biết sẽ trôi giạt về đâu nên lại càng buồn :
Nước mạnh như thác một con thuyền,
Ta lênh đênh hoài, sầu biết mấy !
(Can trường hành)
Vì buồn nên đi vãng cảnh cho đỡ buồn, nhưng cảnh Hương sơn cũng không thể làm vui một tấm lòng sầu não :
Khói sương trời đã nhuốm sầu thời gian
(Chào Hương sơn)
Sống dưới thời Pháp thuộc, làm dân một nước nô lệ, thơ Thâm Tâm biểu lộ nỗi bất bình với thời cuộc, nỗi u uất của thời đại và tâm trạng bế tắc không lối thoát. Nỗi đau của Thâm Tâm cũng là nỗi đau của những người cùng thế hệ :
Bọn ta một lớp lìa nhà,
Cháo hàng cơm chợ, ngồi ca lúa đồng.
(Tráng ca)
Muốn làm được việc lớn nhưng sức chưa đủ, thời chưa thuận và “vuốt cọp chân voi còn lận đận” nên:
Thằng thí cho nhàm sức võ sinh,
Thằng bó văn chương đôi gối hận.
Thằng thư trói buộc, thằng giả quê,
Thằng phấn son nhơ… chuửa một về.
(Vọng nhân hành)
Nói như Bùi văn Trọng Cường:“gam màu chủ đạo của hồn thơ Thâm Tâm là trầm và lạnh” quả không sai.
Buồn và bế tắc như vậy thì chỉ còn một lối thoát : ra đi. Vì thế trong thơ, Thâm Tâm luôn nhắc đến những từ như : ra đi, chia tay, lên đường, những trường đình, khói tàu, hiệu còi xoáy lộng, thét roi, phiếm du, xách gói sang Nam v.v… Nhưng đi đâu?
Tôi sẽ đi và chưa biết đi đâu (Bùi Giáng)
Thật vậy, đó là tâm trạng chung của thanh niên Việt Nam trước năm 1945. Họ muốn ra đi nhưng không có định hướng, chẳng biết đi đâu, về đâu, miễn là thoát ly khỏi cái bầu không khí ngột ngạt lúc bấy giờ.
Nhưng đi thì phải xa quê, xa bạn bè người thân, nỗi lưu luyến bùi ngùi làm se lòng người ly khách:
Trời hỡi ! Mai này tôi phải đi,
Thơ này rồi chẳng đọc ai nghe.
Đời nhiều nhưng có dăm người bạn
Thì viễn ly không hứa hẹn về.
(Ngược gió)
Nhưng chuyện ra đi vẫn thôi thúc hoài làm cho tác giả không yên nên mới quyết lòng dứt khoát:
Tiệc này đêm cuối, mai chia ly,
Anh cố lưu tôi có ích gì.
Đời người say tỉnh được bao dịp?
Xin cạn chén rượu để tôi đi.
(Lưu biệt)
Trong thơ Thâm Tâm, khung cảnh chia tay, lên đường như thế có thể thấy ở nhiều bài thơ:
Sáng mai qua bến Ninh Cơ lạnh,
Sẽ thấy se lòng trận gió tê.
Giọng đàn lưu luyến làm chi nữa,
Tôi quyết đi rồi, tôi phải đi.
(Lưu biệt)
Khi nghe cơn gió lên là lại muốn ra đi, không hẹn ngày về:
Hay đâu kẻ vũ đất Lương Yên
Một sớm nghe bùng cơn gió lên
Xách gói sang Nam không hẹn lại,
Chỉ hiềm chẳng đụng đến cung tên !
(Can trường hành)
Nhưng trong các văn thi phẩm của Thâm Tâm, chỉ có bài thơ “Tống biệt hành” là có thể đứng mãi được với đời. Bài thơ hay và lạ này “đượm chút bâng khuâng khó hiểu của thời đại” (Hoài Thanh). Đã có rất nhiều bài viết về Tống biệt hành (nên ở đây chúng tôi không đi sâu vào chi tiết), hầu hết đều khen nhưng vẫn có chỗ bất đồng ở ba câu cuối. Có người đã viết :“Nếu kể tên mười nhà thơ Việt Nam lớn nhất, không chắc có Thâm Tâm, nhưng chọn mười bài thơ mới hay nhất khó có thể bỏ qua Tống biệt hành”. Điều ấy đúng. Bài thơ mở đầu bằng bốn câu rất lạ:
Đưa người ta không đưa qua sông
Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
Bóng chiều không thắm, không vàng vọt
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?
Lạ là ở chỗ ý tương phản : không đưa qua sông sao lại có tiếng sóng? Bóng chiều không thắm cũng không vàng vọt sao trong mắt lại có bóng hoàng hôn? Lạ và hay cũng là ở đó.
Những câu tiếp theo nói về chí khí của người ra đi : nếu không thành công thì sẽ không có ngày “qui cố hương”:
Chí lớn chưa về bàn tay không
Thì không bao giờ nói trở lại,
Ba năm mẹ già cũng đừng mong.
Tuy vậy, người ra đi làm sao tránh khỏi nỗi buồn vì còn mẹ già, hai chị và em thơ, những người chân yếu tay mềm rất cần một đấng nam nhi để làm nơi nương tựa :
Ta biết ngươi buồn chiều hôm trước,
…. Ta biết ngươi buồn sáng hôm nay.
Và đoạn kết, lời lẽ cứng rắn, cương quyết, ly khách quyết lòng dứt áo ra đi :
Người đi ! Ừ nhỉ, người đi thực !
Mẹ thà coi như chiếc lá bay.
Chị thà coi như là hạt bụi,
Em thà coi như hơi rượu say !
Có hai ý kiến trái ngược nhau về khổ thơ này. Ý kiến thứ nhất cho rằng người ra đi coi mẹ như chiếc lá bay, coi chị như hạt bụi và coi em như hơi rượu say. Như thế có vẻ dửng dưng, tàn nhẫn quá.
Ý kiến thứ hai cho rằng : thà mẹ coi con (ly khách) như lá bay, chị coi em như hạt bụi và em gái coi anh như hơi rượu say. Ý là người ly khách muốn mẹ, chị và em coi mình như vậy để đỡ nhớ nhung, thương tiếc, bận lòng. Ý này dành cho người ra đi một sự thiệt thòi nhưng có thể chấp nhận được nên phần đông ngả về ý kiến này.
“Ta hãy chú ý cách ví von :“chiếc lá bay, hạt bụi, hơi rượu say”đều là những hình ảnh động (vì hạt bụi cũng bay, càng bay mạnh, còn rượu thì tất nhiên bốc hơi và biến đi đâu mất) như vậy sẽ không ứng với những người ở lại nhà, tiếp tục sống một cuộc đời tĩnh tại, tù túng. Nếu các hình ảnh ấy vận vào người ra đi, người sắp dấn thân vào một cuộc phiêu lưu vô định, dễ thường hợp hơn chăng?” (Đỗ Lai Thúy). Ý kiến này nghe ra rất có lý.
Vậy còn người ly khách trong bài là ai? Có hai nhân vật được nêu lên.
Theo ông Ngọc Giao, một nhà văn viết cho Tiểu Thuyết Thứ Bảy cùng với Thâm Tâm thì bài thơ “Tống biệt hành” bất tử của Thâm Tâm chính là tác giả gửi tâm sự vào đó trong bữa rượu tại nhà Lê Văn Trương chia tay một người bạn tên là Viễn sắp đi xa… Thâm Tâm ứng khẩu đọc bài thơ ấy trên chum rượu bên hồ. Cũng theo ông Ngọc Giao thì “anh chàng Viễn – một tay đồ tể khét tiếng ở lò sát sinh Lò Đúc – làm nghề chọc tiết lợn nhưng Viễn rất yêu mến, hiểu biết về văn học, hào hiệp như một hảo hán thời Đông Chu liệt quốc” (Hoài Việt) (1).
“Nhưng theo ông Phạm Quang Hòa, nguyên Giám đốc sở Thông Tin Liên khu X (Việt Bắc) thì Thâm Tâm viết bài thơ này là để tặng ông ngày ông tìm lên chiến khu. Trước lúc ra đi, ông có mời ba người bạn thân là Trần Huyền Trân, Nguyễn Bính và Thâm Tâm đến uống rượu tiễn. Mỗi người làm một bài thơ tặng ông. Thâm Tâm làm bài thơ Tống biệt hành, Nguyễn Bính có bài Chia tay, còn bài thơ của Trần Huyền Trân thì ông không nhớ.
Trong bài Tống biệt hành có một số người phụ nữ được nhắc đến, đó là hai người chị của ông (một chị dâu, một người bạn gái của chị dâu) và cô em gái chính là người yêu của ông lúc đó mới 16 tuổi” (Hoài Việt).
Ba người này khiến cho ta thấy có chỗ không ổn. Từ trước tới nay, đọc Tống biệt hành, ai cũng hiểu là hai chị và em gái nói trong bài đều là chị em ruột của người ly khách. Trường hợp của ông Phạm Quang Hòa thì một là chị dâu, một là bạn của chị dâu (xa lắc), một là người yêu (chưa cưới) thì đâu phải là người trong gia đình (trừ chị dâu), đâu phải là ruột thịt để mà có một mối tình thâm sâu như thế? Điều này rất đáng ngờ và ly khách vẫn mãi mãi là ẩn số như T.T.Kh. vậy. Nếu ta biết rõ một T.T.Kh. bằng xương bằng thịt có lẽ ta sẽ thất vọng biết bao !
Theo nhà thơ Vũ Cao thì Thâm Tâm có nước da đen sạm, người gầy gò, nét mặt lạnh lùng đến khắc khổ. Trong sinh hoạt thường ngày, ông là người kín đáo, ít nói. Chỉ đôi khi có món “cải thiện”, anh em tổ chức bữa ăn tươi, kiếm thêm chút rượu uống và chuyện trò vui vẻ thì ông mới góp đôi ba câu chuyện, nhưng cũng không dài. Thường những khi đó, ông hay lấy giấy bút ra ngồi im lặng ký họa khuôn mặt các cô gái, cô nào cũng béo và đề thơ kèm bên cạnh. Anh em đùa rằng : Anh gầy thế mà sao cô nào cũng béo? Thâm Tâm chỉ cười không nói (Từ Bích Hoàng).
Vậy con người lạnh lùng khắc khổ ấy có biết yêu không? Có đấy. Bài thơ đầu tiên của Thâm Tâm là một bài thơ tình nhan đề “Đây cảnh cũ, đâu người xưa?” (1941) do bà Oanh, chị của Thâm Tâm đọc lại. Bài thơ này ông ký bút hiệu Trăm Năm. Theo đó thì Thâm Tâm gửi gắm mối tình đầu cho một thiếu nữ tên Trinh :
Gặp Trinh trong bóng xuân đào,
Đang khi quãng gió dạt dào chim ca. 
Má hồng, hồng đượm hương hoa,
Rung rinh đọng giọt phấn nhòa sương rơi….(2)
Bài thơ cứ thế kéo dài đến 22 câu lục bát. Chắc chắn mối tình này không thành nhưng cũng không ai biết cô Trinh nói trong bài là ai. Năm 1939, Tiểu Thuyết Thứ Bảy đăng ba bài thơ Hai sắc hoa ti-gôn, Bài thơ thứ nhất và Bài thơ cuối cùng ký bút hiệu T.T.Kh. khiến dư luận xôn xao trong làng văn. Mọi người đồn đãi rằng T.T.Kh. là người yêu của Thâm Tâm. Nhưng bà Kim Chi, một người bạn cố tri của Thâm Tâm cho hay thơ T.T.Kh. là do Thâm Tâm làm. Rồi một người khác, trên đường hành quân cùng Thâm Tâm đã hỏi ông và người này cũng khẳng định mấy bài thơ ký T.T.Kh. là một cái tên không có thật. Nhà nghiên cứu văn học Hoài Anh, trong một bài báo, cũng cho là những bài thơ ký T.T.Kh. là thơ của Thâm Tâm (Hoài Việt). Như thế là đã rõ.
Thơ Thâm Tâm buổi đầu chịu ảnh hưởng của xu hướng lãng mạn trong phong trào thơ mới nên có tư tưởng thoát ly như Thế Lữ với Giây phút chạnh lòng hay Nguyễn Bính với Hành phương Nam. Thơ ông lại có vẻ bi tráng, mang hơi hướng cổ phong và hào hùng như các tráng sĩ thời xưa. Sau Cách mạng, thơ ông có chuyển hướng, sát thời cuộc hơn như bài “Chiều mưa đường số 5” được nhiều người khen ngợi.
***
Theo nhà báo lão thành Trúc Kỳ, người đồng đội của Thâm Tâm, cùng làm báo Vệ quốc quân ngày đó, thì năm 1950, khi ở Trung Quốc về, ông nhận được điện phải đến gấp cơ quan ở một bản nhỏ dưới chân đèo Mã Phục, gần thị trấn An Lại, cách thị xã Cao Bằng khoảng 18 cây số về phía Bắc. Ông được lệnh về thay Thâm Tâm đang bị ốm nặng.
Sáng hôm sau, ông lên đường đến chỗ Thâm Tâm, cách đó hơn 30 cây số nữa. Chiến dịch Cao Lạng đang được chuẩn bị rất khẩn trương. Thâm Tâm nằm giữa một cái lán, bốn bề trống huếch trống hoác, lộng gió như ở ngoài đồng. Thâm Tâm hoàn toàn khác hẳn. Ông sốt rất cao, đôi má lõm sâu, da mặt vàng khè, mắt càng vàng hơn dưới đôi quầng thâm xịt. Trúc Kỳ ôm choàng lấy Thâm Tâm mà khóc.
Thấy không thể để Thâm Tâm như vậy được, Trúc Kỳ liên hệ với địa phương xin hai dân quân tới cáng Thâm Tâm về An Lại để có phương tiện chữa chạy hơn. Đoàn rời bản Piềng lúc hơn 5 giờ chiều. Họ đi suốt đêm, gần sáng thì đến An Lại. Bỗng một người dân quân hốt hoảng gọi to :
– Mân thai gia lố ! (Nó đã chết rồi !).
Trúc Kỳ rụng rời tay chân. Biết làm thế nào bây giờ? Đồng bào thiểu số có tục không cho mang người chết vào nhà. Biết người bí thư chi bộ là người tiến bộ, ông Võ Bá Tải phụ trách Hành chánh Quản trị đến thăm dò ý kiến rồi tươi tỉnh chạy về nói :“Đồng chí bí thư đúng là người rất hiếm thấy. Đồng chí bảo cứ đưa anh Thâm Tâm vào nhà, đặt nằm trên sàn và buông màn xuống coi như đang ngủ, đến sáng rõ mới loan tin chết”.
Lát sau, người chủ nhà lặng lẽ hạ tất cả bộ cửa gỗ xuống rồi một mình hì hục đục đục cưa cưa : anh đóng cỗ áo quan cho Thâm Tâm !
Trúc Kỳ và các bạn mặc quần áo cho Thâm Tâm, nhìn mặt ông lần cuối, bó chặt ông bằng tấm chăn mới, khênh ông đặt vào quan tài rồi đậy nắp ván lên. Thân nhân không có ở đây, chỉ có đồng chí, bạn bè tiễn đưa ông đến nơi an nghỉ cuối cùng ở chân đèo Mã Phục (3).
Ngày 17-8-2000, gia đình anh Nguyễn Tuấn Khoa – con trai của nhà thơ Thâm Tâm – cùng với đoàn làm phim đài Truyền hình VN về thăm Cao Bằng, nơi đã an táng Thâm Tâm gần 50 năm về trước. Nhưng mộ của Thâm Tâm đã được UBND huyện Quảng Hòa qui tập về nghĩa trang liệt sĩ của huyện từ những năm sáu mươi. Nghĩa trang đã thay đổi địa điểm đến bốn lần. Ông chủ tịch huyện Quảng Hòa Nông Vĩnh Trung cho biết : lúc qui tập phần mộ các liệt sĩ về nghĩa trang thì cũng chỉ đánh số và vẽ lại sơ đồ. Nào ngờ tháng 2-1979, kho tài liệu lưu trữ của huyện đặt tại một hang đá đã bị đốt phá sạch, trong đó có sơ đồ mộ liệt sĩ. Bây giờ ở nghĩa trang, riêng khu mộ liệt sĩ chống Pháp gồm 151 ngôi, chỉ một ngôi duy nhất có tên, còn lại đồng loạt là ghi dòng chữ : Liệt sĩ chống Pháp. Phần mộ Thâm Tâm cũng “vô danh” trong số 150 ngôi còn lại.
Đoàn tìm đến nhà người bí thư năm xưa đã giấu vợ con cho phép đưa thi hài Thâm Tâm vào nhà và tháo cửa gỗ để đóng quan tài cho Thâm Tâm. Ông đã mất từ lâu, chỉ còn người cháu nội giúp phát hiện ra vùng đất trũng vốn là ngôi mộ của nhà thơ Thâm Tâm, nay cỏ mọc xanh um vẫn được bà con hương khói giữ gìn chu đáo.
Sau khi đặt mâm lễ hoa quả thắp hương xong, vợ chồng anh Nguyễn Tuấn Khoa xin phép bà con dân bản lấy một nắm đất gói vào vuông vải điều để mang về thờ. Bầu không khí lặng lẽ, trang nghiêm và cảm động (4).

(1) Trích trong “Hồi ức về Thâm Tâm”, tạp chí Văn học số 3-1991.
(2) Tư liệu của Phương Thảo.
(3) Tóm tắt bài “Những phút cuối cùng của Thâm Tâm” của Trúc Kỳ.
(4) Văn Giá – Về Việt Bắc tảo mộ nhà thơ Thâm Tâm.

Người đưa tiễn trong Tống biệt hành – Mai Văn Hoan

Khi phân tích, bình giảng, tranh luận về Tống biệt hành của Thâm Tâm các bài viết thường quan tâm đặc biệt đến hình tượng người ra đi. Người ra đi là ai? Một chiến sĩ cách mạng? Một đấng trượng phu? Hay một chàng lãng tử? Người đưa tiễn đã được nhắc đến nhưng chưa được quan tâm đúng mức. Trong khi đó theo tôi mấu chốt bài thơ chính lại nằm ở người đưa tiễn. Ngay hình tượng người ra đi cũng chủ yếu được thể hiện qua lời của người đưa tiễn. Ở bài thơ này Thâm Tâm đã nhập thân vào người đưa tiễn. Người đưa tiễn vừa là nhân vật trữ tình vừa là đối tượng trữ tình. “TA” đang nói với “TA”. “TA” đang nói với chính lòng mình. Vấn đề đặt ra là “TA” có quan hệ thế nào với người ra đi? Đó là chìa khóa để giải mã những khoảng trống, những nét mờ trong những câu thơ, đoạn thơ gây nhiều tranh cãi.

Nếu đọc lướt qua Tống biệt hành rất dễ ngộ nhận “TA” là một đấng nam nhi, bởi cái chất giọng rắn rỏi, gân guốc mà Thâm Tâm tạo nên trong bài thơ. Đọc kĩ lại, tôi nhận thấy ngoài chất giọng rắn rỏi, gân guốc, Tống biệt hành còn ẩn chứa một chất giọng khác rất sâu lắng, rất trữ tình và đầy nữ tính. Kiểu xưng “TA” và gọi người ra đi là “NGƯỜI” đã phần nào giúp tôi đoán được mối quan hệ của họ. Tú Xương đã từng nhắn gửi với người mình yêu: “Ta nhớ người xa cách núi sông…”; Nguyễn Du cũng từng để nàng Kiều tự dằn vặt mình: “Vì ta khăng khít cho người dở dang…”. Qua giọng thơ trữ tình, qua cách xưng hô và chủ yếu là qua sự bộc bạch nội tâm trong Tống biệt hành, tôi tin chắc rằng Thâm Tâm đã nhập vai bạn gái của người ra đi. Nàng rất hiểu, rất yêu chàng trai nhưng tình yêu đang còn dồn nén trong lòng. Chính sự dồn nén ấy đã tạo ra chất giọng trữ tình, sâu lắng rất khó nhận diện trong suốt bài thơ.

Hãy thử đọc lại bốn câu mở đầu:

Đưa người ta không đưa qua sông
Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
Bóng chiều không thẳm, không vàng vọt,
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?

Đôi “mắt trong” chứa đầy “hoàng hôn” kia chỉ có thể là mắt của phái đẹp? Nếu nói đây là mắt của “em nhỏ ngây thơ” thì không hợp với hai câu trên. “Tiếng sóng lòng” và “hoàng hôn” chỉ có “TA” nghe, “TA” thấy, “TA” ngạc nhiên và “TA” tự đặt câu hỏi với chính mình. Có người bắt bẻ: Sao “TA” lại thấy hoàng hôn trong mắt “TA” được? Xin thưa: “Tiếng sóng” và “hoàng hôn” ở đây đâu nghe bằng tai đâu thấy bằng mắt. “Tiếng sóng” và “hoàng hôn” không ở ngoài vào mà từ trong ra. Đó chính là nỗi vấn vương, nỗi buồn mênh mông của người đưa tiễn. Nàng ngạc nhiên chính vì mãi đến lúc đưa tiễn nàng mới cảm hết nỗi trống vắng trong tâm hồn khi biết rằng người mà mình thầm yêu, trộm nhớ ra đi khi không hẹn ngày trở lại. Nàng tự thú với lòng:

Đưa người, ta chỉ đưa người ấy
Một giã gia đình, một dửng dưng…

“Ta chỉ đưa người ấy” là một cách nói tránh rất tế nhị, rất kín đáo. Điều nàng muốn khẳng định với mình là: ta yêu người ấy! Có điều giữa ta và chàng chưa ai dám thể hiện ra bên ngoài. Cả hai cố làm ra vẻ “dửng dưng”. Những người xung quanh không một ai biết “tiếng sóng” trong lòng và “hoàng hôn” trong mắt người đưa tiễn. Nàng mượn giọng của chàng nói với mẹ “Ba năm mẹ già cũng đừng mong”. Thực ra nàng đang nói với chính mình. Nàng đang linh cảm về nỗi đợi chờ khắc khoải của người thân cả của chính nàng. Ẩn sau câu thơ mạnh mẽ, dứt khoát kia là nỗi nhói đau của lòng người đưa tiễn. Nàng bộc lộ kín đáo quá nên ít người để ý. Nàng tiếp tục nói với mình:

… Ta biết người buồn chiều hôm trước

… Ta biết người buồn sáng hôm nay…

“Ta biết” chứ không phải “ta thấy”. Nỗi buồn kia chàng có để lộ ra bên ngoài đâu mà có thể thấy. “Ta biết” là vì ta quá hiểu chàng, quá hiểu nội tâm của chàng. Phải là người tri âm, tri kỷ mới biết một cách sâu sắc như vậy. Biết, nên không những nàng cảm thương cho mẹ, cho các chị, cho em chàng mà còn cho chính nàng.

Khổ kết bài thơ vẫn là lời độc thoại của người đưa tiễn:

Người đi? Ừ nhỉ, người đi thực?
Mẹ thà coi như chiếc lá bay,
Chị thà coi như là hạt bụi,
Em thà coi như hơi rượu say.

“Người ấy” đã ra đi mà nàng vẫn không tin. Nhưng sự thực vẫn là sự thực! Sự thực ấy làm lòng nàng quặn thắt. Câu thơ chứa đựng nỗi niềm đầy luyến tiếc, đầy day dứt của người đưa tiễn. Nàng mượn lời chàng để thể hiện cái quyết tâm sắt đá của chàng. Nếu hiểu: xin mẹ hãy coi con như chiếc lá, xin chị hãy coi em như hạt bụi, xin em hãy coi anh như hơi rượu thì vừa không phù hợp với cấu trúc câu thơ lẫn ý đồ của tác giả. Cần phải phân biệt sự khác nhau của hai cách diễn đạt… Nếu người ra đi coi mẹ như chiếc lá, coi chị như hạt bụi, coi em như hơi rượu thì đúng là không lôgíc, không đúng với bản chất của chàng. Nhưng ở đây Thâm Tâm viết: “Mẹ thà coi”… “Chị thà coi”… “Em thà coi”… “Thà coi” có nghĩa là không muốn như vậy, nhưng buộc phải làm như vậy. “Thà chết chứ không chịu làm nô lệ!”. Chết ai có muốn, nhưng sống trong nô lệ còn đau khổ hơn nên thà chết, thà hy sinh để giành cho được độc lập tự do! Chàng đâu có muốn xa mẹ, xa các chị, xa em, xa cái người đang yêu chàng tha thiết nhưng vì tiếng gọi của lý tưởng chàng đành hy sinh tất cả. Nên nhớ rằng đây không phải là lời của người ra đi mà là độc thoại nội tâm của người đưa tiễn. Nàng ý thức được sự hy sinh cao cả của chàng nên không hề trách móc, oán giận chàng. Tất cả những trạng thái tình cảm đó nàng dồn nén vào bên trong, nàng tự biết với lòng mình.

Không tìm hiểu mối quan hệ giữa người ra đi với người đưa tiễn, không đi sâu phân tích nội tâm của người đưa tiễn thì rất khó lí giải được một số câu thơ có vẻ “bí hiểm” trong Tống biệt hành.

Mai Văn Hoan, Trường Quốc Học Huế

Chuyển thể bài thơ Tống biệt hành – Phan Ðức, Huệ Thu, Hà Thượng Nhân

1. Thử dịch (hay chuyển thể) bài thơ Tống Biệt Hành

Lâu nay, thơ dịch thường được hiểu là dịch từ ngôn ngữ này qua ngôn ngữ khác nhưng cách đây vài năm, nhà văn Võ Phiến hiểu theo nghĩa mới là dịch tức là chuyển từ thể thơ này qua thể thơ khác…. Trong một bài viết có đề cập bài Tống biệt hành của Thâm Tâm, nhà văn Võ Phiến cho là bài thơ này khó mà dịch ra thể Lục Bát, vốn là một thể thơ du dương êm dịu, nên không thể nào diễn tả hết giọng thơ rắn rỏi như thể thơ 7 chữ. Thơ dịch do đó cũng là một dạng thơ mà nhà thơ Huệ Thu gọi là thơ chuyển thể. Tôi xin tạm chuyển thể Tống Biệt Hành thất ngôn qua Lục Bát,dù thể thơ này đúng như nhận xét của nhà văn Võ Phiến, là khó nói lên được nỗi niềm dứt khoát, mạnh mẽ mà nhà thơ Thâm Tâm gửi gắm:

Tống Biệt Hành

Đưa người,ta không đưa qua sông
Sao có tiếng sóng ở trong lòng ?
Bóng chiều không thắm không vàng vọt
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong ?

Đưa người,ta chỉ đưa người ấy
Một giã gia đình, một dửng dưng…
-Ly khách ! Ly khách ! con đường nhỏ
Chí lớn chưa về bàn tay không
Thì không bao giờ nói trở lại
Ba năm, mẹ già cũng đừng mong

Ta biết ngươi buồn chiều hôm trước
Bây giờ mùa hạ sen nở nốt
Một chị, hai chị cũng như sen
Khuyên nốt em trai dòng lệ sót

Ta biết ngươi buồn sáng hôm nay
Trời chưa vào thu, tươi lắm thay
Em nhỏ ngây thơ đôi mắt biếc
Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay…

Người đi ? Ừ nhỉ, người đi thực !
Mẹ thà coi như chiếc lá bay
Chi thà coi như là hạt bụi
Em thà coi như hơi rượu say.

Thâm Tâm

Bài chuyển thể :

Đưa người, chẳng đưa qua sông
sao lòng ta sóng bềnh bồng mênh mang ?
chiều không thắm, chẳng võ vàng
sao đầy trong mắt bóng hoàng hôn rơi ?
đưa người, chỉ người ấy thôi
gia đình giã biệt, không lời dửng dưng

này ly khách đó con đường!
chưa về chí lớn tay không xá gì
thề không trở lại bao giờ
ba năm dù mẹ đợi chờ cũng không

biết ngươi hôm trước chiều buồn
chừ sen mùa hạ nở luôn ngay liền
một chị hai chị như sen
còn dòng lệ sót khuyên em lúc này

ngưoi buồn ta biết sáng nay
trời chưa thu vẫn thắm đầy tươi thay !
biếc đôi mắt em thơ ngây
nỗi niềm thương tiếc khăn tay gói tròn

người đi ? Ừ nhỉ ! Lên đường
mẹ thà như chiếc lá buông cành gầy
chị thà như hạt bụi bay
em thà như ruợu say say cay nồng !

Phan Đức

(DHN.)

Nhận và đọc bài thơ Tống Biệt Hành chuyển thể (dịch chữ của Võ Phiến) của thi hữu Phan Ðức, tôi chợt nhớ cách đây gần 17 năm tôi đã “dịch” bài này ra thể Lục Bát và Hát Nói … Nhân có bài của Phan Ðức, tôi cũng xin được chuyển bài này , và xin chuyển lại bài Tống Biệt Hành mà tôi đã đọc (có thêm một khổ) để trình quí thi hữu và thi khách của quán thơ:

Tống biệt hành

Đưa người, ta không đưa qua sông
Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
Bóng chiều không thắm, không vàng vọt
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong ?

Đưa người ta chỉ đưa người ấy
Một giã gia đình một dửng dưng…

-Li khách! Li khách! Con đường nhỏ
Chí nhớn chưa về bàn tay không
Thì không bao giờ nói trở lại!
Ba năm mẹ già cũng đừng mong!

Ta biết người buồn chiều hôm trước
Bây giờ mùa hạ sen nở nốt
Một chị, hai chị cũng như sen
Khuyên nốt em trai dòng lệ sót

Ta biết người buồn sáng hôm nay:
Giời chưa mùa thu, tươi lắm thay
Em nhỏ ngây thơ đôi mắt biếc
Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay…

Người đi? Ừ nhỉ, người đi thực!
Mẹ thà coi như chiếc lá bay
Chị thà coi như là hạt bụi
Em thà coi như hơi rượu cay…

Mây thu đầu núi, giá lên trăng
Cơn lạnh chiều nao đổ bóng thầm
Ly khách ven trời nghe muốn khóc
Tiếng đời xô động tiếng hồn câm

THÂM TÂM 1940

*
Huệ Thu dịch :
bài viết riêng tặng Võ Phiến,
người có ý nghĩ rất ngộ nghĩnh về việc “dịch thơ”

Ðưa người cần chi qua sông
Cũng nghe tiếng sóng trong lòng dội lên

Bóng chiều như mặt thuyền quyên
mà nơi khóe mắt đọng nghiêng nắng tà
đưa người ta đưa người ta
đưa như một kẻ xa nhà dửng dưng

Người ơi ! Lối nhỏ chớ dừng
Chí cao chẳng ở tay không bao giờ
Ðừng nhìn lại xóm nhà xưa
ba năm Mẹ có đợi chờ , kệ thôi !

Buồn thì hôm trước buồn rồi
Bây giờ là Hạ sen ngời đóa hoa
Hãy chào chị hai, chị ba
Chào thằng em út và sa chút buồn

Buồn từ sáng sớm tinh sương
Run chăng gió Hạ qua hồn tưởng Thu !
Thấy mà trong mắt âm u
Khăn tay thấm lệ chút sầu đem theo

Người đi ! Ồ nhỉ ! Buồn hiu
Mẹ coi như chiếc lá vèo trong cây
Chị coi như bụi vừa bay
Em coi như chút rượu cay đắng lòng

Mây Thu, gió núi và trăng
Hình như trời lạnh lâm thâm bóng nhòa
Ðưa người ta đưa người ta
Xôn xao bước động ngỡ là tiếng than !

Huệ Thu

(trích Sương Chiều Thu Ðọng xuất bản 1991 tại Mỹ)

Chuyển qua Hát Nói :

Mưỡu

Người đi chẳng tiễn qua sông
Mà nghe tiếng sóng trong lòng là sao
Buổi chiều hôm đó thế nào
Hoàng hôn bỗng thấy đầy trào mắt ai

nói :

Ðưa người cách mạng *
Bỏ gia đình mà vẫn dửng dừng dưng
Khách khi đi nào biết đâu chừng
Chí chưa đạt thì đừng hồi hương

Ra đi thưa mẹ một con đường
Bảy thước thân trai không ngã rẽ

Người lữ khách sao buồn hôm trước nhỉ ?
Nghĩ mùa hè sen tàn rồi nở nốt
Một chị Hai em thêm đứt ruột
Lệ rớt còn đem tiễn em trai chăng ?
Người đi chàng trẻ Ngũ Lăng
Trên vai quẫy một vầng trăng vời vời **

Huệ Thu
sunnyvale 1992

* bài này Thâm Tâm viết tặng nhà thơ Lương Trúc , cụ Lương Trúc lúc đó bỏ nhà cửa vợ con theo cách mạng . (cụ đã mất mấy năm nay)
** bài hát nói câu kết là câu 6 chữ, nhưng tôi thêm một câu cho “tròn” ý mình!

Huệ Thu

Bác HTN nho HT chuyển :Bài “dịch” của Hà Thượng Nhân :

Bài Hát Tiễn Người

Ðưa người chẳng cứ qua sông
Vẫn nghe tiếng sóng trong lòng xôn xao
Bóng chiều không thấp không cao
Không vàng không thắm trôi vào mắt trong

Ðưa người người có biết không ?
Phẩy tay là chuyện dửng dưng thế tình
Ôi con đường nhỏ chạy quanh
Tay không, chí lớn, không thành, còn đi!

Trở về mà để làm chi
Ba năm mẹ cũng đừng vì con mong.
Người buồn hôm trước phải không
Sen tàn nở nốt mấy bông cuối mùa.

Hôm nay người lại buồn chưa?
Mùa Thu chưa tới, nắng thừa màu tươi
Em thơ mắt ngẩn ngơ cười
Gói tròn thương tiếc cho người chiếc khăn

Người đi, ừ gót phong trần
Mẹ thà coi giống một lần lá bay
Chị thà như hạt bụi này
Em thà như chén rượu cay ai mời

Trăng Thu đầu núi sáng ngời
Ðã nghe cơn lạnh bời bời ruột gan
Ven trời ly khách tần ngần
Lệ nghe muốn chảy mà câm hồi nào?

Hà Thượng Nhân

Nguồn: http://www.trasonthidan.com

T.T.Kh là ai? – Hoàng Tiến

T.T.Kh. với những câu thơ xót xa cảm động:

Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời
Ái ân lạt lẽo của chồng tôi
Và từng thu chết, từng thu chết
Vẫn giấu trong tim một bóng người…

Vậy T.T.Kh. là ai? Nam hay nữ? Bút danh này chỉ thấy ghi ở ba bài thơ đăng trong Tiểu thuyết thứ bảy và một bài trên báo Phụ nữ, rồi thôi, không thấy xuất hiện nữa.
Ông Hoài Thanh, năm 1941, có soạn cuốn Thi nhân Việt Nam cũng trích dẫn T.T.Kh. với lời ghi chú: “Sau khi bài thơ kia đăng rồi, xóm nhà văn bỗng xôn xao, có đến mấy người nhất quyết T.T.Kh. chính là người yêu của mình. Và người ta đã phê bình rất náo nhiệt. Có kẻ không ngần ngại cho những bài ấy là những áng thơ kiệt tác…”.
Hôm nay, xin công bố với bạn đọc, một thông tin chúng tôi được biết về T.T.Kh. Người kể còn sống, mà T.T.Kh. cách đây bốn năm vẫn còn gặp. Chúng tôi thấy, cần phải công bố ngay vì nó có lợi cho việc làm văn học sử sau này.
Số là vào dịp hội đền Bà Tấm năm nay (Kỷ Tỵ, 1989), chúng tôi rủ nhau sang Phú Thụy dự hội. Cùng đi có nhà thơ Lương Trúc, năm nay đã 74 tuổi (tên thật là Phạm Quang Hòa), bạn thân với các nhà thơ Thâm Tâm, Nguyễn Bính và Trần Huyền Trân. Chính bài Tống biệt hành Thâm Tâm viết tặng Phạm Quang Hòa. Nguyễn Bính cũng có bài thơ tặng Phạm Quang Hòa mở đầu bằng hai câu:

Tôi và anh: Bính và Hòa
Ở đây xa chị, xa nhà, xa em…

Và kết thúc bằng hai câu:

Đây là giọt lệ phân ly
Ngày mai tôi ở, anh đi, bao giờ?…

Nhà thơ Lương Trúc là người cung cấp tư liệu, và tất nhiên ông sẽ sẵn sàng chịu trách nhiệm về họ tên tác giả Hai sắc Hoa ti-gôn được công bố dưới đây. Cùng nghe hôm đó với tôi có nhà thơ Trần Lê Văn và nhà thơ Tú Sót.
T.T.Kh. tên thật là Trần Thị Khánh, người yêu của Thâm Tâm. Hai người yêu nhau, nhưng biết không lấy được nhau, hẹn giữ kín mối tình, để đỡ phiền đến gia đình của nhau sau này. Cô Khánh đọc Tiểu thuyết thứ bảy in truyện ngắn Hoa ti-gôn của Thanh Châu (số tháng 9-1937) xúc động, tự thổ lộ câu chuyện riêng bằng bài thơ Hai sắc hoa ti-gôn và gửi đăng Tiểu thuyết thứ bảy.
Bài thơ in ra đã gây xôn xao trong làng văn chương như ông Hoài Thanh ghi nhận. Tiếp đó để giải thích lý do viết bài Hai sắc hoa ti-gôn, T.T.Kh. gửi đến Tiểu thuyết thứ bảy một bài nữa, với tiêu đề là Bài thơ thứ nhất và viết riêng gửi tặng Thâm Tâm bài thơ Đan áo.
Lại càng xôn xao, nhiều người cho là nam giới giả danh, nhiều người nhận là người yêu của mình, trong số này có nhà thơ Nguyễn Bính.
Thâm Tâm hồi ấy còn trẻ, với tính hiếu thắng của tuổi trẻ, ông đã gửi báo Phụ nữ đăng bài thơ Đan áo để minh chứng với thiên hạ rằng T.T.Kh. chính là người yêu của mình. Tất nhiên không có sự đồng ý của T.T.Kh.
Và thế là T.T.Kh. giận, cô viết bài thơ lấy tiêu đề Bài thơ cuối cùng gửi đăng ở Tiểu thuyết thứ bảy, vừa hờn vừa giận đầy yêu thương, và cũng từ đấy T.T.Kh. “tắt lịm” trên thi đàn.
Sau này, Thâm Tâm có viết một bài thơ dài để trả lời T.T.Kh. bài Các anh, (tập thơ mới của Thâm Tâm, nhà xuất bản Văn học 1987, có in bài Các anh nhưng đây chỉ mới trích một phần).
Lời bàn: có người viết hàng trăm bài thơ, in hơn chục tập thơ, mà không gây được một vang hưởng nào trong nghệ thuật thơ. T.T.Kh. viết bốn bài thơ, có bài đã gây được vang hưởng.
Thơ hay đâu có cần nhiều.
Phê-lích Ác-ve (Félix Arvers, 1806-1850) chỉ nhờ bài Tình tuyệt vọng mà tên tuổi được ghi trong văn học sử Pháp. Mới hay trong “lãnh địa” nghệ thuật, số lượng chỉ là cái không đáng kể. T.T.Kh. cần phải được xem xét và đánh giá như một tác giả của dòng thơ lãng mạn trước Cách mạng tháng Tám. Điều đó không có gì là quá đáng.
Được biết T.T.Kh. về sống ở Thanh Hóa đã bốn năm nay, không biết bây giờ bà con hay mất, nhưng cứ xin phép cho chúng tôi được công bố điều bí mật trên vì nghĩ rằng:
Thời gian qua đi đã dài, nhà thơ Thâm Tâm đã mất, ông nhà cũng đã quy tiên. Vả lại, cũng vì công việc của văn học sử, nếu đã tìm ra được tác giả của một tác phẩm nổi tiếng thì dù đắn đo đến đâu rồi cũng phải công bố.

(Nhân dân chủ nhật số 23 tháng 7-1989)

Bình thơ Tống biệt hành – Hoài Linh

“Tống biệt hành” là bài thơ nổi tiếng và được ưa thích nhất của Thâm Tâm. Có người không ngần ngại liệt nó vào một trong mười bài thơ tiền chiến hay nhất (1). Chục năm nay, “Tống Biệt Hành” cũng được xếp trong tuyển chọn năm mươi bài thơ trữ tình tiêu biểu của mười thế kỷ thơ ca Việt Nam (2).

Đề tài bài thơ là một trong hằng hà sa số những cuộc ly biệt được đưa vào “Thơ Mới” thời 1930 – 1945. Nhưng có lẽ trong văn học Việt Nam, trước và sau Thâm Tâm, không ai viết về chia ly đầy tính bi hùng, trữ tình và mãnh liệt đến như thế.

Đưa người, ta không đưa qua sông.

Từ bao đời nay, con sông, bến nước vẫn là địa điểm của những cuộc tiễn biệt. Chẳng những vì xưa kia, phương tiện giao thông chủ yếu của người dân quê là chiếc thuyền. Con sông còn như một ranh giới, một vành đai bao phủ và che chở mỗi vùng làng mạc. Mỗi người, khi qua sông, cũng là lúc rời bỏ quê hương cùng gia đình và người thân của họ. Chẳng phải là ngẫu nhiên khi dòng sông, con tàu đi vào tiềm thức mỗi người như một biểu tượng của giã biệt, xa cách. Trong thơ ca cũng vậy:

Anh Khóa ơi,
Em tiễn anh xuống tận bến tàu…

(“Anh Khóa”, Trần Tuấn Khải)

Biệt ly,
Sóng trên dòng sông,
Ôi còi tàu như xé đôi lòng,
Và mây trôi, nước
trôi, ngày tháng trôi,
Càng lướt trôi.
(“Biệt ly”, Dzoãn Mẫn)

Nhưng lần này, tác giả không đưa bạn mình qua sông. Vào những năm cuối của thập kỷ ba mươi, khi Nguyễn Bính viết “Những bóng người trên sân ga”, nhiều cuộc đi xa đã khởi đầu trên một bến xe, một sân ga nào đó.

Tuy thế hình ảnh con đò, bến nước trong văn chương và cuộc đời đã hằn sâu trong tác giả tự bao giờ, khiến anh phải thốt lên:

Sao có tiếng sóng ở trong lòng?

Hỏi đấy, nhưng chỉ để bộc lộ nỗi lòng buồn bã pha chút vị ngây ngất của anh. Tiếng sóng ấy chưa đến độ như “tiếng đời xô động, tiếng hờn câm” ở đoạn kết, nhưng đã tựa như tiếng đàn khuấy động những cung bậc bi phẫn giữa người đi và kẻ ở.
Đã hay rằng “người” buồn đấy, còn “cảnh” ra sao? Buổi chiều ấy, dù “không thắm, không vàng vọt”, nhưng “đầy hoàng hôn trong mắt trong”, và có thể rất đẹp đấy. Nhưng nó vẫn đượm vẻ gì man mác vô định. Có điều, vào lúc ấy, nào ai còn để ý đến cảnh vật bên ngoài. Họ mải “giã gia đình” và “dửng dưng”. Đối với tác giả, chỉ còn người đi là tồn tại, anh chỉ “đưa người ấy”, ngoài ra mọi thứ khác nào có nghĩa gì.

Cuối cùng thì giờ phút chia tay cũng phải đến. Người đi hùng dũng lắm, hăng hái và hăm hở lắm:

Ly khách! Ly khách! Con đường nhỏ,
Chí lớn chưa về bàn tay không,
Thì không bao giờ nói trở lại!

Anh thề thốt thật ghê! Người đọc không biết anh đi đâu, anh làm gì. Chắc sự nghiệp của anh lớn lắm. Có gì làm ta nhớ lại chàng Kinh Kha vào Tần qua sông Dịch lạnh tê tái, khảng khái làm hớp rượu, rồi bước thẳng không quay đầu lại:

Phong tiêu tiêu hề, Dịch thủy hàn,
Tráng sĩ nhất khứ hề, bất phục hoàn.
(Gió hiu hiu chừ, sông Dịch lạnh ghê,
Tráng sĩ một đi chừ, không bao giờ về.)

Ta thấy anh đi khí thế thật đấy, nhưng sao cô đơn quá! Đi thì cứ đi, nhưng nào có rõ tương lai:

Ba năm, mẹ già cũng đừng mong.

Anh lên gân vậy thôi, chứ thực ra, anh thương mẹ lắm. Và khi đi, nào phải anh không day dứt. Anh còn chị, còn em. Những người chị “như sen” và người em “ngây thơ đôi mắt biếc”, đâu muốn anh đi. Hẳn nhà anh nheo nhóc và cực nhọc lắm, anh đi rồi, ai lo?
Tất nhiên, chí trai bốc đồng, anh tỏ ra quyết tâm lắm. Nhưng dễ thấy đó chỉ là vẻ bề ngoài. Kỳ thực, lòng anh thật mềm yếu. Anh đã buồn, chắc là từ lâu, chứ đâu phải chỉ từ “chiều hôm trước” với “sáng hôm nay”.

Và cảnh sắc bầu trời mùa hạ sang thu ấy thật đẹp. Anh nhất quyết phải từ giã gia đình, bạn bè trong khung cảnh ấy sao? Đích của anh nào có chắc chắn gì? Đâu phải anh không có những day dứt, ràng buộc bịn rịn?
Nhưng rồi anh vẫn dứt áo ra đi. Đi lúc nào mà người tiễn chẳng hay:Người đi! Ừ nhỉ? Người đi thực!

Như một cơn mơ, lúc bừng tỉnh chẳng còn gì. Anh đã đi, đi thực. Làm người ở lại đắm trong nỗi thẫn thờ. Cuộc đời sao như tỉnh, như mơ! Đành phải chịu!

Tất cả dẫn đến một cao trào. Nhịp thơ trở nên gấp gáp, rắn rỏi, mãnh liệt, nhưng đượm vẻ chua chát và bi phẫn:

Mẹ thà coi như chiếc lá bay,
Chị thà coi như là hạtbụi
Em thà coi như hơi rượu say.

Anh muốn quên lãng đi mọi thứ. Quên đi cho hết nỗi sầu. Như người lữ khách trong “Chiều” của Hồ Dếnh. Nhưng thử hỏi: có quên được không?
Mây thu đầu núi, gió lên trăng,
Cơn lạnh chiều nao đổ bóng thầm.

Thời gian qua đi. Bóng hoàng hôn không còn nữa. Cơn lạnh và bóng tối trùm lên mỗi bước anh đi. Lúc ấy, người lữ khách còn lại một mình. Âm thầm. Lặng lẽ. Cái đích vẫn xa vời. Và nhuệ khí xưa đâu còn nữa. Anh muốn bật khóc, muốn gào lên tức tưởi:Ly khách ven trời nghe muốn khóc,
Tiếng đời xô động, tiếng hờn câm…

Chẳng biết lúc ấy, anh trách ai? Trách mình, hay trách cuộc đời cay nghiệt?

Ông Hoài Thanh trong “Vài suy nghĩ về thơ” (3) đã thú nhận khi viết “Thi nhân Việt Nam”, ông rất khoái “Tống Biệt Hành”. Chẳng những vì “điệu thơ gấp gáp. Lời thơ gắt. Câu thơ rắn rỏi, gân guốc. Không mềm mại, uyển chuyển như phần nhiều thơ bây giờ” (4), mà chủ yếu bài thơ mang phong vị “bâng khuâng khó hiểu của thời đại”. (5)

Không rõ “Tống Biệt Hành” có gì “khó hiểu”? Nhưng rõ ràng khi đọc, tôi thấy thật “bâng khuâng”. Vẻ trầm hùng, cổ kính của bài thơ cùng những hình ảnh “mong manh, ghê rợn, như những nhát dao xiết vào tâm hồn, tưởng là rất nhẹ hóa ra lại rất nặng” (6) gây nên một ấn tượng thật mạnh và sâu đến người đọc.

Ít năm trước đây, nhà thơ Lương Trúc (7), một người bạn của Thâm Tâm, có tiết lộ rằng “Tống Biệt Hành” là bài thơ Thâm Tâm viết tặng ông khi ông đi hoạt động. Tạm cho là như vậy. Ở vào hoàn cảnh bấy giờ (1941), hành động cách mạng của những thanh niên độ tuổi hai mươi như họ, có thể coi là một sự dấn thân đầy mạo hiểm. Nó mang hình ảnh các tráng sĩ thời xưa, vào cuộc chiến “lạnh lùng theo trống dồn” (“Chiến sĩ vô danh”, Phạm Duy), với lòng hăng hái thiêng liêng “chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh” (“Tây Tiến”, Quang Dũng). Và cũng chẳng khác gì mấy hình ảnh thật đẹp và oai hùng của lứa văn nghệ sĩ đầu tham gia kháng chiến, nửa thập kỷ về sau:

Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội,
Những phố dài xao xác hơi may,
Người ra đi đầu không ngoảnh lại,
Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy.

(“Đất nước”, Nguyễn Đình Thi)

… Nhớ đêm ra đi đất trời bốc lửa
Cả đô thành nghi ngút cháy sau lưng
Những chàng trai chưa trắng nợ anh hùng
Hồn mười phương phất phơ cờ đỏ thắm
Rách tả tơi rồi đôi giày vạn dặm
Bụi trường chinh phai bạc áo hào hoa
Mái đầu xanh hẹn mãi tới khi già
Phơi nắng gió và hoa ngàn cỏ dại
Theo tiếng gọi của những người Hà Nội
Trở về
Trở về chiếm lại quê hương!

(“Ngày về”, Chính Hữu)

*

Cuộc đời Thâm Tâm thật ngắn ngủi. Ông viết chưa nhiều (8). Cái chết cướp ông đi ở tuổi 33. Ông đã lao vào cuộc chiến đấu của dân tộc một cách nhiệt thành. Từng là biên tập viên tạp chí “Tiên phong” (1945-1946) rồi thư ký tòa soạn báo “Vệ quốc quân”, ở Chiến dịch Biên giới (1950), Thâm Tâm bị sốt rét nặng trong lúc không có thuốc men. Vô phương cứu chữa, ông bị bỏ lại trong một căn nhà sàn tại bản Nà Po cùng một người liên lạc. Anh này là người duy nhất có mặt khi ông qua đời và xin được bà con dân bản một mảnh vải trắng để làm khăn tang (8).

Cái chết của Thâm Tâm thật bi thảm. Nhưng nó cũng thật đẹp và bi hùng ở khía cạnh một tráng sĩ nơi sa trường. Đẹp và bi hùng như “Tống Biệt Hành” của ông vậy!

Hoài Linh

Chú thích:
(*) Khổ cuối bài thơ thường không được biết đến. Theo “Văn hóa Việt Nam tổng hợp 1989-95” (Hà Nội, 1989), trong một bản in “Tiểu thuyết thứ Bảy” (1940) có đoạn này.
Giới thiệu tham khảo:
1. Vũ Quần Phương: Thâm Tâm và “Tống Biệt Hành” (“Quân đội Nhân dân”, 1990).
2. “Văn hóa Việt Nam tổng hợp 1989-95” (Hà Nội, 1989).
3, 4, 5. “Tuyển tập Hoài Thanh”, tập 2 (Hà Nội, 1983).
6. Vũ Cao: “Tản mạn dọc đường văn học” (“Văn nghệ Quân đội” tháng 6-1988).
7. Tên thật Phạm Quang Hòa, sinh năm 1915. Xin xem thêm bài của Hoàng Tiến: “T.T.Kh. là ai?” (“Nhân dân Chủ nhật” ngày 16-7-1989).
8. Sinh thời, thơ Thâm Tâm chưa được in thành tập. Mãi đến năm 1988, tập “Thơ Thâm Tâm” sưu tầm một số thi phẩm tiêu biểu của ông mới được ấn hành.
9. Theo Từ Bích Hoàng: “Cách mạng kháng chiến và đời sống văn học”, tập 1 (Nhà xuất bản Tác phẩm mới, Hà Nội 1985).

Bình giảng bài thơ Tống biệt hành – Bài làm tham khảo:

    Đời người và đời thơ của Thâm Tâm đều ngắn ngủi .Ngày 18.8.1950 ,nhà thơ mất trên đường hành quân tham gia chiến dịch Cao Bắc Lạng . Năm ấy,  ông mới ba mươi tuổi .Còn nếu tính từ năm 1938, khi Thâm Tâm cùng gia đình lên Hà Nội kiếm sống bằng nghề vẽ tranh ,viết văn , làm thơ thì “tuổi nghề” của ông vỏn vẹn chỉ 12 năm . Đã thế ,Thâm Tâm làm thơ ít,số bài thơ bây giờ tập hợp được chỉ độ vài ba chục .Nhưng thơ Thâm Tâm khiến người đời nhớ mãi . Đây là không kể chuyện Thâm Tâm với các bài thơ về hoa ti gôn, maàuhoa như tím vỡ, mọc vô vàn trên các bờ giậu nhưng khi có thơ ,loài hoa ấy ai cũng phải ngắm nhìn một cách đặc biệt.

Tống biệt hành là bài thơ đặc sắc nhất của Thâm Tâm ,cũng là bài thơ Mới có nhiều ý kiến ,bình giá khác nhau nhất và cơ hồ chưa phải đã kết thúc.

Bài thơ được sáng tác vào năm 1940 ,không biết đích xác là ngày nào.Năm sau, được đưa vào tuyển thơ Thi nhân Việt Nam ,với lời bình của Hoài Thanh:

Thơ thất ngôn của bây giờ thực có khác thơ thất ngôn cổ phong.Nhưng trong bài dưới đây lại thấy sống lại cái không khí riêng của nhiều bài thơ cổ, điệu thơ gấp, lời thơ gắt.Câu thơ rắn rỏi ,gân guốc .Không mềm mại ,uyển chuyển như phần nhiều thơ bây giờ .Nhưng vẫn đưowmj chút bâng khuâng khó hiểu của thời đại.

Ý kiến của Hoài Thanh thật xác đáng:Tống biệt hành vừa giống thơ cổ vừa không phải thơ cổ đượm chút bâng khuâng khó hiểu của thời đại. Đó cũng là lí do khiến từ bấy đến nay có biết bao ý kiến khác nhau về Tống biệt hành mà khổ nỗi lại là ý kiến của những người uyên thâm ,hoặc có quan hệ gần gũi với tác giả.

Tên bài thơ:

Tên bài thơ không có gì là khó hiểu ,rõ ràng đằng khác :tiễn đưa nhau khi li biệt .Chỗ dễ gây khó hiểu duy nhất ở đây là chữ hành.Hành vừa có nghĩa là đi ,dời đi,lại có nghĩa là khúc hát ,bài ca.Bởi vậy ,khi dịch nghĩa tên một số bài thơ Đường,người ta thường giữ nguyên chữ ấy như Trường Can hành ( Thôi Hiệu ) ,Lũng Tây hành ( Trần Đào )…mặc dù Trường Can ,Lũng Tây đều là địa danh .Xa hơn nữa ,người ta thấy ,hành là thể thơ vốn thịnh hành ở Trung Quốc thời Hán Nguỵ ,Lục Triều,có cội nguồn từ trong Nhạc phủ ,tức những bài thơ có thể phổ nhạc ,nhưng chỉ để dùng trong cung cấm.Do đó,Trường Can hành là một khúc Nhạc phủ ,song cũng là tên một bài thơ của Đỗ Phủ .Nội dung hai bài hoàn toàn khác nhau.Khi thoát khỏi cung cấm, thể thơ hành trở nên phóng túng về hình thức để thể hiện rõ tình ý của người viết .Các bài thơ hành đời Đường viết về nhiều đề tài :tình yêu nam nữ ,về chiến tranh ,loạn lạc ,chia li…Thời Đương , các bài thơ hành thường viết theo thể thất ngôn ( Tì bà hành -Bạch Cư Dị ,Trương Can hành-Lí Bạch ), hoặc ngũ ngôn ( Trường Can hành –Thôi Hiệu ) , nhưng cũng có trường hợp dài ,ngắn tuỳ ý ( Binh xa hành-Đỗ Phủ ).

Sau đời Đường ,trong văn học các nước phương Đông ,thơ hành không thiếu . Ở Việt Nam ,có bài khá nổi tiếng như Sở kiến hành của Nguyễn Du.Tuy nhiên ,nhìn chung ,số lượng vẫn khá ít ối với những bài thơ khác.Bẵng đi thời gian khá dài , ở nước ta những năm cuối của phong trào Thơ mới bỗng xuất hiện nhiều bào hành của các nhà thơ Thâm Tâm ( Tống biệt hành , Can trường hành,Vong nhân hành ).Nhiều bài thơ của các ông dù không có chữ hành ở tựa đề nhưng vẫn cùng chung một giọng điệu.Cả ba vốn là bạn bè thân thiết nên có người gọi đây là trường phái thơ hành, bên cạnh các trường phái thơ Loạn ,thơ Say,thơ Đạo …thời ấy.

Sau năm 1954, ở miền Nam ,cũng có một vài nhà thơ trẻ làm thơ hành như Hoàng Lộc ,Duynh Trầm Ca…Thơ của họ ,tuy nội dung có khác , nhưng gần gũi với các bậc “tiền bối” ở cái giọng kiêu bạc ,khinh đời:

– Chẳng lẽ giận đời đi uống rượu
Mà say chưa chắc đã quyên đời
Và chưa chắc ấm sầu xa xứ
Đỏ mặt hoàng hôn cũng hổ người
(Hoàng Lộc)

Rượu cuối năm gió lọt lòng ly
Vọng tiếng hú ma Hời buồn quê cũ
Đêm viễn xứ vang vang pháo nổ
Giao thừa giao thừa heef ta lăn quay
Rượu hết làm sao chết giữa cơn say…
(Đuynh Trầm Ca)

Nói mông lung như vậy đẻ thấy không thể đơn giản khẳng định Tống biệt hành của Thâm Tâm là bài thơ theo thể hành thời trước ,bởi nào ai chỉ ra thi pháp của thể thơ ấy như kiểu thơ luật Đường hay văn biền ngẫu …Có giống chãng chỉ là nhà thơ mượn chữ hành thường tỏ ra khá phóng túng ,như muốn nói cho bằng hết ý mình ,mà đó thường là những điều khó nói,khó được chấp nhận .Ví như bài Lũng Tây hành của Trần Đào là một mặt trái của chuyện đời:
Quên mình ,thề giết Hung Nô
Năm ngoái tướng sĩ bụi Hồ vùi thân.
Bên sông Vô Định xương tàn,
Vẫn người trong giấc mộng xuân khuê phòng.
(Trần Trọng San dịch)

Hay Nguyễn Bính ,nhà thơ đồng quê nhưng với Hành phương Nam lại tỏ ra khá ngang tàng ,kiêu bạc:
Rãy ruồng châu ngọc ,thù son phấn
Mắt đỏ lên rồi cứ chết ngay
Hỡi ơi nhiếp chính mà băm mặt
Giữa chợ ai khóc mà nhân thay

Rõ ràng ,thơ hành cua Thâm Tâm ,Nguyễn Bính ,Trần Huyền Trân là thơ hành của chính các ông ,nhưng nhà thơ Mới bởi vậy mới đượm chút bâng khuâng khó hiểu của thời đại.

Chuyện Tống Biệt

Tống biệt là chuyện muôn thuở , đề tài quen thuộc của văn chương. Nhưng với Thâm Tâm ,chuyện tống biệt chừng như khác . Đấy không phải là chuyện Lưu Trần và Nguyễn Triệu rời Thiên Thai có Suối tiễn oanh đưa tiễn ngậm ngùi ( Tản Đà -Tống biệt ).Cũng không phải là sự ra đi vì Non sông đã chết thêm nhục ,Hiền thánh còn đâu học cũng hoài ( Phan Bội Châu – Lưu biệt xuất dương ) ,hay ra đi mà lòng hẹn quyết : Đấng trượng phu tuỳ ngộ nhi nan…Non sông ấy chờ ta thêu đặc dệt.Kìa tụ tán chẳng qua là tiêu biểu ( Huỳnh Thúc Kháng-Bài ca lưu biệt ) .Người ra đi ở tống biệt hành có phần gần gũi với khách chinh phu trong Tiếng gọi bên sông của Thêư Lữ:
Ta đi theo đuổi bước tương lai,
Đẻ lại bên sông kẻ ngậm ngùi
Chí nặng bốn phương trời nước rộng,
Từ nay thêm bận nỗi thương ai.

Những chỉ gần kmà không giống.Cách nhau độ năm ,mười năm mà đã thế ,làm sao bảo li khách có “họ hàng” với chàng Kinh Kha ở nước Yên cả ngàn năm trước?

Ra đi là một mô típ không chỉ trong văn chương mà trước hết là trong đời sống của không ít thanh niên Việt Nam thời kỳ 1930-1945. Đi đã trở thành nhu cầu .Vì lí do gì ư? Nhiều lắm ! Ngay ở một nhà thơ của Hoa niên vẫn không hiếm những câu:
Những ngày nghỉ học tôi hay tới
Đón chuyến tàu đi đến những ga
Tôi đứng bơ vơ xem tiễn biệt,
Lòng buồn đau xót nỗi chia xa.
( Tế Hanh -Những ngày nghỉ học )

Vì sao có chuyện kỳ cục ấy? Người trong cuộc giải thích :
Kẻ về không nói bước vương vương…
Thương nhớ lan xa mấy dặm trương.
Lẽo đẽo tôi về theo bước họ
Tâm hồn ngơ ngẩn nhó muôn phương.

Những năm 40 của thế kỷ trước , đi càng trở nên bức bách khi mà bao câu hỏi cứ xoáy mãi trong lòng họ:
Ôi ! Ta đã làm chi đời ta?
Ai đã làm chi lòng ta ?
……………………………………
Ta đã làm chi đời ta xưa?
Ta đã dùng chi đời ta chưa?
Thiên thu? ngờ sự nghiệp!
Chiều mưa rồi đêm mưa;
Gió lùa gian gác xép,
Đời tàn trong ngõ hẹp.
( Vũ Hoàng Chương – Đời tàn trong ngõ hẹp )

Với các nhà thơ trường phái thơ hành ,nỗi đời còn bức bách hơn .Trần Huyền Trân gào thét:
Thế rồi thí bỏ rủi may
Đưa giam cõi bụi , đứa đày rừng sâu
Vai cày chẳng kẻo làm trâu
Giong xe chẳng kẻo tóc râu làm bờm
Nẻo về chật chội áo cơm
Dặm đi lại đông từng cơm lá rừng…
(Độc hành ca )

Đi không đòng nghĩa với sung sướng .Nhưng là sự giải thoát với khỏi thực tại :Kinh thành mây đỏ như son,Cái lồng chật chội giam con chim trời ( Trần Huyền Trân-Vô đề ).Người đi có phần bất chấp :
Mơ gì Áp tiết thiên văn tự,
Giày cỏ gươm cùn ta đi đây.
(Nguyễn Bính –Hành phương Nam )

Sau này ,khi nhiều người thắc mắc về người đi trong bài thơ của mình ( cũng là một cuộc ra đi từ trước năm 1945 ) ,Nguyễn Đình Thi giải thích: Người ra đi này cũng không phải là tác giả hoặc một người cụ thể -người ấy ra đi ,có thể đi làm cách mạng ,hoặc vì một lẽ khác ,vì một bi kịch riêng…Dù sao đấy cũng là một người bỏ nơi ở ,bỏ nơi mình đang quen sống để ra đi ,người ấy có nhiều nông nổi ,nhiều tâm trạng… (Đỗ Tiến Bảng -Về bài thơ Đất Nước ,Văn nghệ ,số 53/1994 ).

Trường hợp Thâm Tâm ,trong số những bài thơ ít ỏi trước năm 1945, chuyện ra đi không chỉ nói ở Tống biệt hành . Ở Tráng ca (1994) ,có Bọn ta một lớp lìa nhà . Ở Can trường hành ( 1944 ) ,có chàng là bậc trẻ không biết sợ…Vợ con thí tất cho thiên hạ…Ta lênh đênh hoài sâu biết mấy! Còn trước đó ,vào năm 1940 ,người ra đi với bao quyết tâm:
Trời hỡi ! Mai này tôi phải đi
Thơ này rồi chẳng đọc ai nghe
Đời nhiều nhưng có dăm người bạn
Thì viễn li không có đường về
……………………………………………
Ngày mai ngược gió tôi đi ngược
Ai có quan tâm gọi trở về
Trời hỡi ,ngày mai ngày mốt thôi
Ngày mai cay đắng nhất li bôi…
( Ngược gió )

Đến năm 1944 ,chuyện ra đi lại đặt ra ở một bài thơ mang tên Lưu biệt hẳn hoi mà người đi lại rất cụ thể :
Tiệc này đêm cuối mai chia li
Anh cố lưu tôi có ích gì
………………………………….
Đất trời rộng quá tôi không chịu
Cắm chặt sông đây một cánh bè
……………………………………………
Sáng mai qua bến Ninh Cơ lạnh
Sẽ thấy se lòng trận gió tê
Giọng đàn lưu luyến làm chi nữa
Tôi quyết đi rồi tôi phải đi .

Cách đây không lâu ,nhiều người đã tìm các tư liệu khá cụ thể về cuộc chia li và li khách ở bài thơ Tống biệt hành .Rất tiếc ,các tư liệu ấy ,có độ tin cậy cao ( một người bạn thân của Thâm Tâm ,một người là nhà văn cùng thời ) ,nhưng lại trái ngược nhau.Tôi đồ rằng ,sẽ còn những phát hiện như thế nữa .Song tất cả các phát hiện ấy càng khiến việc tiếp cận bài thơ thêm khó khăn .Giả dụ rằng,không có cuộc chia tay với những con người cụ thể kia thì thế nào vẫn có Tống biệt hành ,bởi muốn đi, quyết ra đi thật sự không ai khác là chính nhà thơ Thâm Tâm!

Sao nghe có tiếng sóng ở trong lòng?
Chuyện ra đi là thế ,nhưng người ta bàn luận nhiều về Tống biệt hành có lẽ vì đây là bài thơ hay nhất của Thâm Tâm .

Bài thơ mở đầu theo lối trực tiếp ,như một thông báo ,không nhiều lời:
Đưa người ,ta không đưa qua sông.
Song , đây lại là câu mở đầu ,khiíen người ta liên tưởng rất xa . Đây là chuyện Kinh Kha ,người nước Tề ,thời chiến quốc .Chàng vốn là kiếm khách nổi tiếng .Khi Tần sắp đem quân uy hiếp nước Yên ,thái tử Đan nhờ Kinh Kha có làm bài dịch thuỷ (Bài ca sông Dịch) ,tỏ rõ quyết tâm của mình:
Phong tiêu tiêu hề Dịch thuỷ hàn,
Tráng sĩ nhất khứ hề bất phục hoàn.

(Gió vi vu ,sông Dịch lạnh ,
Tráng sĩ một đi không trở về).

Việc hành thích Tần vương của Kinh Kha không thành .Chàng bị đam chết giữa cung điện Tần.Nhưng câu chuyện về Khinh Kha thíống mãi trong cuộc đời và văn chương . Đời Đường .Lạc Tần Vương có bài thơ Dịch thuỷ tống biệt nhắc chuyện Kinh Kha với bao cảm khái:
Tích thời nhân dĩ một,
Kim nhật thuỷ do hàn.

(Người xưa đã khuất rồi.
Nước sông còn lạnh buốt).

Tống biệt hành gợi nhớ chuyện Kinh Kha ,song lưu ý mọi người đây không phải là chuyện xưa : Đưa người ,ta không đưa qua sông .Cuộc đưa tiễn không biết diễn ra tại đâu ,nhưng buồn hiu hắt ,chất đầy tâm trạng :
Sao nghe có tiếng sóng ở trong lòng?
Bóng chiều không thắm ,không vàng vọt,
Sao đầy  hoàng hôn trong mắt trong?

Dường như ngoại cảnh không liên quan gì tới tâm trạng :không có bờ sông dậy sóng nhưng trong lòng lại nổi phong ba ;buổi chiều bình yên nhưng trong mắt đẫm ánh tà dương !Cách diễn tả thật lạ lùng.Thông thường ,người ta hay lấy cảnh vật để tả nỗi lòng ,theo kiểu Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ .Nhà thơ Mới Thâm Tâm thừa biết điều đó, nhưng đã làm theo chiều ngược lại.Trong bức tranh ngược sáng ây , tâm trạng nổi bật hẳn lên ,nỗi buồn ,sự tê tái mang vóc dáng ,hình thù hẳn hoi.

Người ta hay bàn cãi ,nỗi buồn của ai đây ?Theo lô gíc hình thức, chắc chắn đây là nỗi buồn của người đưa tiễn .Người ấy đang nói , đang kể chuyện rành rành ra đó .Bởi vậy ,mới có những câu thơ tiếp theo :
Đưa người ,ta chỉ đưa người ấy,
Một gã gia đình ,một dửng dưng…

Chẳng lẽ ở trên nói người rađi rất u buồn ,liền sau đó lại khẳng định: không ,người ấy rất dửng dưng ?Từ đầu đến câu thơ này,tất cả đều diễn tả tâm trạng của người đưa tiễn.Nhưng nhân vật trung tâm lại là người ra đi: vì người ấy mà tôi buồn ;vì người ấy mà tôi đau;chỉ có một người ấy thôi!Khổ nỗi ,người ấy lại nhất quyết ra đi,không gì có thể cưỡng lại đuợc:
– Li khách ! Li khách ! Con đường nhỏ,
Chí nhớn chưa về bàn tay không,
Thì không bao giờ nói trở lại!
Ba năm ,mẹ già cũng đừng mong.
Không ai biết lí do nào khiến người phải ra đi .Song , chắc đấy không là lí do đơn giản ,bình thường.Việc gì người ta phải đnáh đuổi ,kể cả nỗi lòng chờ mong của người mẹ thiêng liêng để ra đi ,nếu đó không là lí do thật cao cả? Câu thơ vẫn theo điệu kể ,nhưng chủ thể lời nói thì chuyển dịch dần từ người đưa tiễn sang người ra đi ,từng lời ,từng lời ,một,thật rắn rỏi , việc ra đi khó lòng thay đổi ý định ở người ra đi :
Ta biết người buồn chiều hôm trước :
Bây giờ mùa hạ sen nở nốt,
Một chị ,hai chị , cùng như sen,
Khuyên nốt em trai dòng lệ sót.
Ta biết người buồn sáng hôm nay:
Giời chưa mùa thu ,tươi lắm thay,
Em nhỏ ngây thơ , đôi mắt biếc,
Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay…

Chỗ dựa ấy là hoàn cảnh và tâm trạng của li kahchs .Về hoàn cảnh, người ấy có mẹ già và “một chị ,hai chị, cùng như sen” mùa hạ. Đông đấy ,nhưng vẫn lẻ loi , đơn chiếc .Người ấy có người “em nhỏ thơ ngây, đôi mắt biếc” đang rất nặng tình với mình ( ). Hoàn cảnh và tình cảm sâu nặng như thế ,ra đi lòng sao không trĩu nặng. Nhưng tình không lớn bằng nghĩa. Năm 1944, trong bài thơ Lưu biệt, Thâm Tâm thêm một lần nói rõ điều đó:
đời người say tỉnh được bao dịp
Xin cạn chén rượu đẻ tôi đi
Đau tình không xót bằng đau nghĩa
Tay gầy cũng nén chén vô tri
Mắt xanh cùng gửi ngoài mưa gió
Lòng không cùng sống với cầm thi…

Người ấy vẫn cứ đi .Chỗ dựa đẻ níu kéo hoá ra không cầm giữ được
Vì thế ,người trong cuộc ,dù biết rất rõ ,hiểu rất kỹ nhưng lòng vẫn bàng hoàng, ngơ ngác:
Người đi? Ừ nhỉ,người đi thực!
Mẹ già coi như chiếc lá bay,
Chị thà coi như là hạt bụi,
Em thà coi như hơi rượu say.

Khi bàng hoàng, ngơ ngác trước một cuộc chia li thì người ra đi mãi mãi in dấu trong tâm hồn người ở lại và cuộc chia li vẫn như đang diễn ra. Bài thơ Tống biệt hành của Thâm Tâm khiến người đời nhớ mãi vì lẽ đó.

Người ra đi là ai? Đọc Tống biệt hành của Thâm Tâm – Trần Đình Sử

Tống biệt hành của Thâm Tâm mới được tuyển vào sách giáo khoa Văn 11 CCGD. Tuy là bài thơ rất nổi tiếng nhưng cho đến nay vẫn chưa có cách lí giải hợp lí, thuyết phục cả về nội dung lẫn ngôn ngữ, cấu tứ của nó. Trong một tài liệu mới in gần đây, có ý kiến cho rằng: “Ta có thể khẳng định: người ra đi ở đây chính là người chiến sĩ cách mạng, giã nhà lên đường đi chiến đấu” (có thể là lên chiến khu, khi đó đã thành lập ở Việt Bắc và trở thành một nơi bí mật và thiêng liêng, hấp dẫn đối với mọi người thời ấy). Trong một sách bình thơ khác, cũng mới in chưa lâu, thì lại có ý kiến trái hẳn: “Chí nhớn mà đường nhỏ, cuộc đi chưa thấy có căn cứ gì cho nghiệp lớn ngoài sự hăng hái tinh thần… ở lại thì bế tắc nhưng ra đi thì chưa thấy gì là tươi sáng, nó tự nhủ bằng cái vẻ bi hùng của Kinh Kha bên sông Dịch thì cũng chẳng lừa được chính mình. Mấy câu thơ kết, lòng người như sụp xuống, cả kẻ tiễn lẫn người đi, tuyệt vọng đến hư vô…”. Rõ ràng, người đi ở đây được hiểu thành một kẻ tầm thường có nét gần như một vai phản diện! Hai ý kiến này đều thiếu sức thuyết phục, nặng về suy diễn. Căn cứ vào cuộc đời và sáng tác thơ của Thâm Tâm, có thể đoán định người đi là người cách mạng, nhưng nhìn lại văn bản bài thơ thì đã có dấu hiệu gì để cho ta nhận chắc điều ấy? Còn ý kiến thứ hai thì chẳng thấy có căn cứ gì để phán đoán rằng người ra đi tự lừa dối mình mà không lừa được, lại còn “lòng người như sụp xuống, cả kẻ tiễn lẫn người đi, tuyệt vọng đến hư vô…” nữa! Rất có thể nhà phê bình thuận theo thói quen phê bình thơ lãng mạn lâu nay, đã hiểu chệch ngôn ngữ nghệ thuật của bài thơ.
Quả thật bài Tống biệt hành không dễ giảng. Từ ngữ trong câu dồn nén, có nhiều tỉnh lược, giữa các dòng thơ có nhiều khoảng trống, tạo thành một vẻ ám ảnh bí ẩn, không dễ gì thuyết minh cho thông. Chẳng hạn câu: “Đưa người, ta chỉ đưa người ấy – Một giã gia đình, một dửng dưng”, mới đọc qua tưởng là một kẻ giã gia đình, một kẻ dửng dưng, nhưng không phải. “Một” đây là khăng khăng, nhất quyết: nhất quyết bỏ nhà ra đi, nhất quyết không được xúc động. Lại như câu “Chí nhớn chưa về bàn tay không – Thì không bao giờ nói trở lại – Ba năm mẹ già cũng đừng mong”. Có nhiều chỗ tối nghĩa, phải thêm chữ vào mới hiểu được. Chẳng hạn, chí lớn: chưa về (nếu) bàn tay không. Chưa thành công thì đừng nói chuyện trở lại. Nhưng vẫn khó hiểu: tại sao lại “ba năm… cũng đừng mong”? Hay như câu “Khuyên nốt em trai dòng lệ sót” có thể gây cảm tưởng là đời chị nhục nhằn, khóc suốt tuổi thơ, còn thừa chút lệ đem khóc em nốt. Có bản chép là “dòng lệ xót” thì nghĩa lại khác nữa. Đúng như Vũ Quần Phương nhận xét: chữ nghĩa, câu thơ như không dính nhau.
Đối với bài thơ như bài này, theo chúng tôi, trước hết nên tìm hiểu cấu tứ bài thơ để hiểu nó nguyên phiến, toàn vẹn. Còn câu chữ bài thơ, nói như Triệu Chấp Tín đời Thanh, chỉ là cái râu, cái vẩy của con rồng đang bay hiện ra ngoài đám mây mà thôi, không thể đầy đủ được. Bài thơ này là lời của người đưa tiễn nói về người ra đi, còn người ra đi từ đầu chí cuối dường như không phát biểu điều gì. Nhưng người tiễn rất hiểu người đi và chỉ nhờ sự bộc lộ cảm xúc của người tiễn mà hình ảnh của người đi hiện lên mạnh mẽ, cao cả, một con người quyết dứt bỏ tình riêng ra đi vì chí lớn. Như vậy trong bài này trực tiếp chỉ xuíât hiện cảm xúc, suy nghĩ của người tiễn. Tình cảm người đi hiện ra gián tiếp. Mặc khác, tình cảm hai người này có khác nhau: một người buồn bã, đau đớn, nhưng vẫn dứt áo ra đi, một người muốn tiễn đưa một chinh phu truyền thống, nhưng thực tế chỉ có con người thời đại. Vì vậy, mọi sự đồng nhất tình cảm của hai người làm một để bình luận đều thiếu cơ sở. Rất có thể đây chỉ là một cuộc tiễn đưa được tưởng tượng, cả người đi lẫn người được tiễn thực ra đều là do Thâm Tâm hư cấu trên cái nền tình cảm của nhà thơ. Song trong bài thơ đã dựng lên hai hình tượng với chức năng biểu hiện khác nhau, thì ta nên hiểu bài thơ theo cấu trúc biểu hiện của nó. Bài thơ nhìn ngoài thì là thơ trữ tình, nhưng trữ tình không phải là mục đích. Nó chỉ là phương tiện để dựng lên hình ảnh ngựời ra đi. Thiếu sự phân biệt chính – phụ, trực tiếp – gián tiếp, chủ – khách thì khó mà tránh được nhầm lẫn.
Bốn câu đầu cực tả nỗi lòng xao xuyến, ảm đạm bất ngờ của người đưa tiễn – không có sóng mà có sóng, trời đang chiều mà mắt đã nhuốm hoàng hôn. Đây đúng là một tình cảm mới, bất ngờ, chưa dự kiến trước đối với người tiễn. “Đưa người, ta chỉ đưa người ấy”: một chinh phu đúng với dáng điệu chinh phu: “Một giã gia đình, một dửng dưng – Li khách! Li khách! con đường nhỏ – Chí nhớn chưa về bàn tay không – Thì không bao giờ nói trở lại! – Ba năm mẹ già cũng đừng mong”. Các chữ: “một”, “một”, “không”, “đừng” cực tả tính dứt khoát, cắt đứt mọi tình cảm thông thường của con người. Đoạn thơ thiên nói về ý tưởng ban đầu của người tiễn về người ra đi hơn là miêu tả thực tế của người ra đi trong cuộc tiễn đưa này.
Phần còn lại của bài thơ là sự hồi tưởng của người đưa tiễn để hiểu sâu hơn về người ra đi:

Ta biết người buồn chiều hôm trước,
Bây giờ mùa hạ sen nở nốt,
Một chị, hai chị cũng như sen
Khuyên nốt em trai dòng lệ sót.

Mùa hạ là mùa của sen. Hai người chị đẹp như sen mùa hạ, khóc hết nước mắt mà không giữ được em ở nhà. Vậy là hiểu thêm ý chí sắt đá của người đi, tuy có buồn nhưng không lay chuyển:

Ta biết người buồn sáng hôm nay
Giời chưa mùa thu, tươi lắm thay,
Em nhỏ ngây thơ đôi mắt biếc
Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay…

Trời đẹp, em thơ ngây, biết bao thương tiếc. Người ra đi không phải vì đói nghèo, vì bất hòa, mà thuần tuý chỉ vì chí lớn. Đó là con người nam nhi mà nhi nữ thường tình đã không còn sức trói buộc:

Người đi?ừ nhỉ, người đi thực!
Mẹ thà coi như chiếc lá bay,
Chị thà coi như là hạt bụi,
Em thà coi như hơi rượu say!

Người tiễn đã hiểu đến tận cùng người đi. Anh đã ra đi như một đấng trượng phu: chí lớn coi nặng như núi Thái; mẹ già, chị gái, em thơ đều coi nhẹ như lông hồng. Không một dấu hiệu nào cho ta thấy “ở lại thì bế tắc, nhưng ra đi chưa thấy gì tươi sáng cả”. Đó là sự lặp lại lối suy diễn về văn thơ lãng mạn một thời mà thôi. Xin đừng tìm ở bài thơ này sự ngợi ca một lí tưởng cụ thể nào đó, bởi đó không nhất thiết là điều phải nói trong thơ. Cũng đừng tìm ở đây sự tố cáo hiện thực nào đó. Bài thơ chỉ qua cuộc tống biệt mà thể hiện một sự lựa chọn bi kịch của con người không muốn sống tầm thường, đuổi theo chí lớn. Nhưng người đi không hề là cái máy thô sơ, mà là một con người: anh buồn chiều hôm trước, lại buồn sáng hôm nay, tràn trề thương tiếc. Anh hầu như không hề dửng dưng! Anh ra đi như một sự hi sinh chính những người ruột thịt của mình. Mỗi chữ “thà” trong câu thơ: “Mẹ thà coi như”, “Chị thà coi như”, “Em thà coi như”, đều biểu thị một sự lựa chọn. Một sự lựa chọn không dễ chút nào. Chọn bề nào cũng không tránh khỏi mất mát đau đớn. Lời thơ phải có chút lên gân để vươn lên bản thân mình. Nhưng dù thế nào, tình cảm thực của người ra đi vẫn được biểu hiện ra. Bài thơ vì vậy thấm đậm tình người, không hề một chiều, giản đơn.
Hành là thể thơ thịnh hành ở Trung Quốc vào thời Hán Ngụy, Lục Triều, có cội nguồn từ trong Nhạc phủ. Đặc điểm của nó là tự do, phóng túng, lớn, nhỏ, dài, ngắn đều không cố định. Lời thơ thường là lời nói làm cho cái chí trong bài hiện ra lồ lộ. Tống biệt hành của Thâm Tâm vận dụng các đặc điểm đó. Câu thơ bảy chữ tự do, đầy câu hỏi, câu nói, nhiều trùng điệp, vần trắc, vần bằng xen nhau tạo thành giọng thơ rắn rỏi, gân guốc, ngang tàng, vừa cổ điển, vừa hiện đại.

GS. Trần Đình Sử
(Báo Giáo dục và Thời đại, số 28 ngày 7/10/1992)