Con người lãng mạn trong Tống biệt hành – Trần Hà Nam

Không gian bi tráng. Ly biệt sầu thương. Nỗi buồn thăm thẳm cứ lấn át dần hùng tâm tráng chí người đi bằng cảm giác mất mát, đổ vỡ, hụt hẫng dâng đầy trong những dòng thơ của Tống biệt hành.
Tống biệt hành không nằm trong không khí của những cuộc ra đi của Tây Tiến, Đất Nước của giai đoạn kháng chiến chống Pháp, nên tư cách tráng sĩ của ly khách hiện ra trong bài thơ thuần túy chỉ là hình ảnh con người lãng mạn cá nhân mà thôi. Dẫu rằng trong thực tế, người bạn của Thâm Tâm có thể lên chiến khu, nhưng từ nguyên mẫu đến nhân vật trữ tình trong thơ thường vẫn có khoảng cách nhất định. Huống chi cách xây dựng hình ảnh, khắc họa tâm trạng nhân vật ở đây hoàn toàn thuộc về thủ pháp lãng mạn. Có mượn thơ xưa cái không khí “đưa qua sông” cũng là để phân biệt với người của thời hiện đại không đưa qua sông. Có mượn bóng chiều cũng để nhấn mạnh ngoại cảnh không phải là tác nhân tạo nên nỗi buồn biệt ly, vì bóng chiều không thắm không vàng vọt, không buồn không vui.. Những từ đưa người, ly khách, người buồn, người đi … có thể nhận ra suốt trục dọc của bài thơ và nhấn nhá nhiều lần như một điệp khúc buồn. Sự thay đổi của thời đại và sự khác biệt trong tư tưởng đã làm nên hình bóng con người hiệp sĩ nhưng kiểu người ấy khác hẳn Kinh Kha ngày xưa ra đi diệt trừ bạo chúa. Bởi đọc kỹ những câu thơ Thâm Tâm, ta không biết được người ấy đi đâu, muốn làm gì cụ thể. Tất cả chỉ là để thỏa mãn khát khao :
Chí nhớn chưa về bàn tay không
                             Thì không bao giờ nói trở lại
Nhưng vì một lý tưởng cá nhân để sẵn sàng đánh đổi tất cả, dứt bỏ sợi dây ràng buộc của tình mẫu tử, chị em, anh em, bạn bè… có tàn nhẫn quá chăng? Đứng về lý, tác giả là người đồng tình cùng ly khách, trong những lời cảm khái. Nhưng nếu chỉ có vậy, người ra đi sẽ có bộ dạng của một kép hát trên sân khấu. Thâm Tâm đã nghiêng về mặt tình cảm, hòa nhập với tâm trạng người trong cuộc để diễn tả những khoảnh khắc của chiều hôm trước, sáng hôm nay và của cả buổi chiều hiện tại với nỗi buồn đứt ruột cố nén trong lòng kẻ ra đi. Để biết rằng người ấy không phải là kẻ một dửng dưng . Khổ kết nghẹn ngào như một lời trăng trối gửi về mẹ, chị, em với những hình ảnh so sánh chiếc lá bay, hạt bụi, hơi rượu say đầy những ám ảnh thân phận. Và đó cũng là cách cắt nghĩa cho thái độ dửng dưng đến lạnh lùng trước đó.
Bốn năm sau khi viết Tống biệt hành, Thâm Tâm đã viết Vọng nhân hành (1944) có những câu:
Sông Hồng chẳng phải xưa sông Dịch
Ta ghét hoài câu “nhất khứ hề…”

Có lẽ phải bắt đầu từ tâm thế thời đại ấy, chúng ta mới cắt nghĩa được phần nào tứ thơ của Tống biệt hành. Vào những năm bốn mươi của thế kỷ XX, trên thi đàn lãng mạn Việt Nam, Thâm Tâm, Trần Huyền Trân, Nguyễn Bính có một hơi thơ giống nhau : “Nằm đây thép rỉ son mòn – Cái đi mất mát, cái còn lần khân” (Độc hành ca – Trần Huyền Trân); “Ta đi nhưng biết về đâu chứ – Đã nổi phong yên lộng bốn trời – Thà cứ ở đây ngồi giữa chợ – Uống say mà gọi thế nhân ơi” (Hành phương Nam – Nguyễn Bính). Phải chăng, khi cuộc sống thực trở nên bức bối ngột ngạt, các nhà thơ thời ấy khao khát một cuộc ra đi? Nhưng phần lớn những khúc hành, ca chỉ là một sự giải tỏa tâm trạng bức bối, trong khi cuộc sống thực của các nhà thơ cứ quẩn quanh trong khuôn đời chật hẹp. Tinh thần ấy đã từng được nói lên rất rõ trong thơ Hàn Mặc Tử : “Đi, đi, đi mãi nơi vô định – Tìm cái phi thường, cái ước mơ”(Đời phiêu lãng). Nhân vật người đi trong Tống biệt hành dù có gợi lại không khí cổ xưa, dù cố gắng gượng chống chọi tiếng thổn thức sâu thẳm từ tâm hồn bằng dáng vẻ kiêu dũng bề ngoài, cũng vẫn chỉ là sản phẩm thuần túy lãng mạn. Người đọc thẩm thấu thêm chất “bâng khuâng khó hiểu của thời đại” (Hoài Thanh, Hoài Chân – Thi nhân Việt Nam) từ bài thơ của Thâm Tâm, để trân trọng những tấm lòng biết hướng về những điều cao cả, như một sự phản ứng lại xã hội tầm thường tù túng lúc bấy giờ. Vì vậy nỗi buồn của người đi (cũng là tâm trạng của chính Thâm Tâm) rất đáng quý.
Trần Hà Nam

(Giáo viên trường THPT chuyên Lê Quý Đôn, Qui Nhơn, Bình Định)

Người ra đi có trở lại – Nguyễn Mỹ Trang

Trên mục “tao đàn” của Hương đầu mùa (Vòm xanh lao xao) mở cuộc thi bình thơ với bài Tống biệt hành của Thâm Tâm. HDM kỳ này giới thiệu bài viết của bạn NGUYỄN MỸ TRANG – cháu nội nhà thơ Thâm Tâm. Bài đoạt giải ba cuộc thi. BÚT TÍM

Xuất hiện lần đầu tiên trên báo Tiểu thuyết thứ bảy năm 1940, có thể nói Tống biệt hành là một sáng tác thành công nhất của Thâm Tâm và có lẽ, nó đáng được xếp vào hàng những bài thơ mới hay nhất của nền thơ Việt Nam trước cách mạng.

Nửa thế kỷ qua, đã có biết bao bài phân tích, bình phẩm, biết bao khám phá đầy tinh tế, và cũng có biết bao ý kiến đánh giá rất khác nhau về Tống biệt hành. Phải chăng tất cả bắt nguồn từ cái lạ lùng riêng biệt của bài thơ và tác giả? Đúng như nhận xét của giáo sư Hoàng Ngọc Hiến, “Biệt ly là một chủ đề trung tâm trong sáng tác của Thâm Tâm”, nhưng điều đáng chú ý là ở chỗ, cuộc chia ly trong thơ ông không bi thương đầy nước mắt như cảnh lưu biệt của những kẻ tình nhân, cũng không rầm rộ, hừng hực hào khí như sự lên đường ra mặt trận của các chiến sĩ cách mạng đương thời. Tất cả chỉ là một tình cảm thâm trầm, lắng đọng nhẹ nhàng, một thứ tình cảm rất Thâm Tâm!

Đưa người ta không đưa sang sông
Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
Bóng chiều không thắm, không vàng vọt,
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?

Một bến sông, một buổi hoàng hôn, một người đi, một kẻ ở lại… dường như Thâm Tâm đã là họa sĩ vẽ nên bức tranh chia ly vào lòng người. Hô sóng vào lòng, gọi hoàng hôn lên mắt, Thâm Tâm lại thoắt trở thành nhà phù thủy thổi hồn vào bức tranh ấy. Trong lịch sử văn thơ, chắc chắn “sóng trong lòng” và “hoàng hôn trong mắt” đã xuất hiện ít nhiều đâu đó, nhưng ngoài Thâm Tâm, đã có ngòi bút nào viết nên những câu hỏi tu từ mang đầy tính lãng mạn tuyệt vời như thế hay chưa? Hỏi đấy, mà đâu cần trả lời, bởi hoàng hôn đong đầy “trong mắt trong” chính là nỗi rưng rưng, là niềm xúc động trong lòng người ra đi. Nhưng vì sao tất cả những cảm xúc nội tâm ấy lại được bao bọc bằng một cái vỏ có vẻ như ngang tàng, bất cần đời:

Đưa người, ta chỉ đưa người ấy
Một giã gia đình, một dửng dưng…

khiến cho không ít người đã lầm tưởng rằng người ra đi hoàn toàn “dửng dưng”, đối lập với sự xao xuyến, thảng thốt của kẻ đưa tiễn? Theo tôi, chẳng có lý do gì hơn ngoài cái “chí lớn” của người đi. Cái “chí lớn” ấy có thể khiến con người ta trở nên hùng dũng, dứt khoát đến mức:

Chí lớn chưa về bàn tay không
Thì không bao giờ nói trở lại
Ba năm mẹ già cũng đừng mong

có thể thổi bùng cái chí khí của người trai để “Mẹ thà coi như chiếc lá bay, chị thà coi như là hạt bụi, em thà coi như hơi rượu say”, nhưng lại không thể ngăn được người buồn từ “chiều hôm trước”, buồn tới cả “sáng hôm sau”. Những ý thơ tả tâm trạng người đi đã được đan lồng khéo léo vào cảnh vật, vào thời tiết, thiên nhiên khiến người đọc đôi khi cảm thấy như có một sự đột biến nhưng lại không hề làm rối ý bài thơ. Ai cũng biết rằng cuối hạ sen tàn, nhưng không hẳn là đã hết, ai chẳng hay rằng trời sắp sang thu nhưng vẫn còn “tươi lắm thay”. Bởi cho dù là chỉ còn lại thưa thớt, nhưng những đóa sen muộn mằn vẫn cứ nở và “một chị, hai chị” cũng muộn mằn như sen cuối hạ, những người chị đã khóc cạn nước mắt nhưng vẫn còn lại một “dòng lệ sót” khóc nốt trong ngày đưa tiễn em. Cái “dòng lệ sót” ấy chứa chan bao nỗi thương em, đong đầy bao nỗi nhọc nhằn đời chị, nhưng liệu nó có thể giữ chân người ra đi vì chí lớn hay không? Cũng một mạch thơ ấy, tiết trời sắp sang thu tươi sáng đã gợi sự liên tưởng tới “đôi mắt biếc” ngây thơ của đứa em, nhưng những thương nhớ “gói tròn” trong chiếc khăn tay nhỏ bé kia chẳng thể nào ngăn nổi “Người đi? Ừ nhỉ, người đi thực!”. Cả cuộc chia ly với bao nỗi niềm thương nhớ đã trải dài theo suốt bài thơ, để đến cái phút cuối này chợt giật mình bừng tỉnh, chợt ngỡ ngàng nuối tiếc. Phải chăng tận đáy lòng người đưa tiễn vẫn đọng lại một niềm hy vọng, cho dù ngàn lần mong manh, rằng người đi sẽ ở lại? Nhưng dù sao, cái giây phút thảng thốt cuối cùng này rồi cũng phải qua đi, nhường bước cho cái “chí lớn” bao trùm cả bài thơ. Ở đây, tôi không đồng ý với nhận định rằng: “ở lại thì bế tắc, nhưng ra đi chưa thấy  gì là tươi sáng” (Vũ Quần Phương – Thơ với lời bình, NXB Giáo dục, 1990), bởi người ra đi là người ôm mộng lớn, là người biết hy sinh những tình cảm riêng tư cho sự nghiệp. Hơn nữa, trong cả bài thơ, không có một ý nào khẳng định rằng sự ra đi này là “một đi không trở lại”, điều đó chỉ xảy ra khi “chí lớn chưa về bàn tay không” mà thôi!

Theo tôi, Tống biệt hành là một chiếc cầu nối giữa văn thơ lãng mạn và văn thơ cách mạng, vì thế, cho đến khổ cuối thì từng dòng thơ vẫn toát lên một âm điệu rắn rỏi, dù là sự rắn rỏi trong nỗi bùi ngùi lắng đọng bị kìm nén. Và người đi ngày ấy đã ra đi… Nhưng tôi đã thấy những người ra đi ấy trở về. Họ trở về trong mắt mẹ, trong mắt chị, trong mắt em và trong mắt ai người trông ngóng…

Nguyễn Mỹ Trang
(11B Chuyên Hóa, ĐHTH Hà Nội)
Hoa học trò – Hương đầu mùa sinh viên
Số tháng 2 – 1995, tr. 14-15

Nhà Thơ Thâm Tâm – Vũ Quần Phương

Tên thật là Nguyễn Tuấn Trình. Sinh 12-5-1917 tại Hải Dương. Mất ở Cao Bằng năm 1950. Thâm Tâm viết không nhiều, ông mất sớm, cả đời thơ chưa được hai mươi bài. Nhưng nếu chọn mười bài tiêu biểu của thời kỳ Thơ mới, chắc chắn có Tống biệt hành. Trong kháng chiến chống Pháp, khi nền thơ còn nhiều chập chững, bài thơ Chiều mưa đường số năm đã là bài thơ hay, vững vàng về cốt cách lẫn tình cảm.

Thơ Thâm Tâm mang cốt cách cổ điển, đẫm khí vị bi phẫn giang hồ của một thời đã xa trong lịch sử ở ta hay ở một chân trời khơi gợi những Tần Hán xa vời. Giọng thơ rắn rỏi, tức tưởi. Ông có ba bài viết theo thể hành bộc lộ rõ nhất giọng thơ này Can trường hành, Tống biệt hành, Vọng nhân hành. Hãy xem nhà thơ lãng mạn Việt Nam thời Thơ mới múa bút bên sông Hồng kiểu Kinh Kha múa gươm bên sông Dịch:

Sông Hồng chẳng phải xưa sông Dịch

Ta ghét hoài câu “nhất khứ hề”

Ngoài phố mưa bay: xuân bốc rượu

Tấc lòng mong mỏi cháy tê tê

Trong tình cảnh người mất nước, mất luôn tự do của chí làm trai, Thâm Tâm thường trực một ý chí phá bỏ thực tại bằng mộng giang hồ:

Đất trời rộng quá. Tôi không chịu

Cắm chặt sông đây một cánh bè,

Bằng cơn phẫn chí:

Đau tình không xót bằng đau nghĩa

Tay gầy cũng ném chén vô tri.

Khá nhiều lần Thâm Tâm ném chén trong tiệc rượu. Phẫn chí trong cơn say vì đã cố nén một cơn òa khóc trong lúc tỉnh.

Cuối thu mưa nát lòng dâu bể

Ngày muộn chuông đau chuyện đá vàng.

Thân kiếp chơi vơi trong cõi phi thời gian, dĩ vãng không có, hiện tại cũng không mà tương lai thì mịt mù sương khói.

Hôm qua không có, hôm nay mất

Ai rú trong trời tám hướng sương

Những câu thơ bi phẫn của Thâm Tâm hay lắm vì đó là tình cảm chín nhất của hồn ông. Bi phẫn một chủ thể tài tử:

Múa lưỡi đánh tan ba kẻ sỹ

Mềm môi nốc cạn một vò men

Bi phẫn nhiều khách thể xót đau:

Chim nhạn chim hồng rét mướt bay

Vuốt cọp chân voi còn lận đận

Thằng thí cho nhàm sức võ sinh

Thằng bó văn chương đôi gối hận

Thằng thư trói buộc, thằng giã quê

Thằng phấn son nhơ… chửa một về.

Rồi cả chủ thể lẫn khách thể đều bi phẫn, ấy là Tống biệt hành:

Người đi, ừ nhỉ người đi thực

Mẹ thà coi như chiếc lá bay

Chị thà coi như là hạt bụi

Em thà coi như hơi rượu say.

Trong cả nền thơ thời ấy không ai có giọng bi phẫn “chín” như Thâm Tâm, kể cả Nguyễn Bính, Trần Huyền Trân, hai bạn thơ “áo bào gốc liễu” đồng điệu với ông. Cái “chín” ấy trước hết là ở cái giọng, gồm cả âm lẫn điệu của câu thơ, sau nữa là ở một loạt hình ảnh, hình ảnh thường có tính biểu tượng cao, gợi nhiều liên tưởng lãng mạn, và cuối cùng là ở ngôn ngữ, ngôn ngữ có hơi cổ xưa và nhiều tương phản, cực đoan. Hãy nghe:

Ngậm lời tráng khí, chim bằng ốm

Chuyện lúc thương tâm, gái điếm già

Gió thốc hàng hiên, lười viễn mộng

Mưa rào mặt cát, gợi ly ca

Phiếm du mấy chốc đời như mộng

Ném chén cười cho đã mắt ta

Nhiều lần Thâm Tâm cười ngạo “cái chí lớn” của mình Chí lớn không đầy một tấc gang.

Cười ngạo để giấu nỗi sầu thất bại:

Say ngùi ta đốt tương tư thảo

Bóng khói qua mây lại nhớ mình

Ngay cái mộng ra đi vào năm 1944, thì chí dù đã quyết mà lòng cứ lạnh tê. Ước ao trận gió nổi lên để giũ đi tất cả, nhưng vẫn phải mượn hơi rượu cho khí thế. Khoan nói đến nhận thức chính trị và tình hình thời cuộc, chỉ biết cái tạng cảm xúc của Thâm Tâm là vậy. Nó là cảm xúc lãng mạn. Nó có nguồn gốc từ hiện thực đời sống nhưng khi phát triển nó tựa nhiều lên tưởng tượng, nó cần hư ảo và hoang đường. Đọc loại thơ này đừng sóng nó vào hiện thực sự kiện, đừng lấy sự kiện cụ thể để cắt nghĩa cảm xúc. Làm thế là chặt cánh bay của thơ, hơn thế lại là thơ lãng mạn.

Phải chăng vì tính chất bi phẫn khao khát đổi thay, khao khát cất cánh ấy mà gặp cách mạng, Thâm Tâm sớm đứng vào hàng ngũ, thơ ông từ lãng mạn chuyển sang cách mạng khá êm thấm. Bài thơ Chiều mưa đường số Năm là một ví dụ. Vẫn một giọng thơ nội tâm đắm đuối, bài thơ mưa nhưng gợi được cảm giác ấm trong lòng người, giọng bi phẫn đã thành giọng yêu thương. Bài thơ viết năm 1946, năm 1950, Thâm Tâm mắc bệnh trên đường đi chiến dịch rồi mất. Người đọc không được thấy hết sự phong phú của hồn thơ ông trong chặng mới. Ở giai đoạn trước, ông nhập cuộc muộn, ở giai đoạn sau, ông lại ra đi quá sớm.

Ngót hai chục bài thơ cho một đời thơ tài năng như vậy, có một chất cảm xúc lạ, và riêng như vậy, quả chưa phát tiết được bao nhiêu. Phần tiềm lực còn nhiều quá, thật tiếc!

18-1-2001
VŨ QUẦN PHƯƠNG

Nhà phù thủy hô sóng vào lòng và gọi hoàng hôn lên mắt – Thiên Tướng (Vũ Bằng)

Nào ai có ngờ đâu buổi tiễn đưa hôm ấy lại thành ra thiên thu vĩnh biệt.

Hồi đó, thường thường buổi tối chúng tôi vẫn ngồi uống rượu với nhau, nhắm khoai tây thái mỏng ở nhà Thủy Tạ Bờ Hồ.

Chúng tôi là lớp văn trẻ ở Hà thành, làm mấy tờ Trung Bắc Chủ Nhật, Tiểu Thuyết Thứ Bảy, Phổ Thông Bán Nguyệt San, Ích Hữu, Bắc Hà. Chúng tôi là Nguyễn Dân Giám, Trần Huyền Trân, Thượng Sỹ, Thanh Châu, Ngọc Giao, Nguyễn Trẩm Dự, Nguyễn Tuân, Nguyễn Khánh Đàm, Hiên Chy, Vũ Bằng… Chúng tôi gồm độ chừng mười đứa, sống bừa bãi, lãng mạn, thích văn nghệ hơn ăn, thích chơi đùa hơn sự nghiệp, mai đói không cần nhưng hôm nay có bao nhiêu thì gom lại ăn cho kỳ hết, uống cho kỳ hết, hút cho kỳ hết. Thâm Tâm là một “hội viên” của hội ái hữu do chúng tôi lập nên có vẻ siêng năng nhất, trung thành nhất.

Nghĩa là bất cứ hôm nào nhậu nhẹt, phiện phò cũng có mặt anh.

Đêm ấy, ngồi ở nhà Thủy Tạ, chúng tôi uống rất nhiều “punsô” – tức là một thứ cốc tai có rum, đường, chanh, hâm nóng lên để uống như kiểu uống rượu của anh hùng Lương Sơn Bạc trong Thủy hử. Đến khuya, gió lạnh, anh nào anh nấy say mèm. Thâm Tâm giơ tay lên mời anh em “cạn một hơi” rồi nói:

– Còn đêm nay nữa, mai đi. Bữa rượu này là bữa rượu tạm biệt anh em đấy ạ.

Rồi anh đứng lên, rút tay ở áo choàng ra, huơ lên trời như người múa kiếm trong kịch thơ Bóng giai nhân, ngâm mấy câu bi hùng:

Thế kỷ hai mươi

Đã chết cả loài dơi,

Bay sờ soạng trong hoàng hôn tàn tạ,

Ta nghe hát trong trời xanh, trên hoa lá

Trong tâm tư một khúc hát tinh khôi.

Thế kỷ hai mươi,

Ngươi mang trong lòng ngươi

Bao nhiêu mầm ung độc

Bao nhiêu nụ hồng đời,

Đau thương thế kỷ đà khô cháy

Hoa nở, mùa gây lại giống người.

Những lúc rượu vào, Thâm Tâm hay ngâm như thế. Cho là không lạ, tôi cũng chẳng lưu ý làm gì, không ngờ đến chiều hôm sau thì Thâm Tâm đi thật và đi mãi mãi. Từ lâu, tôi vẫn biết một số lớn anh em Tiểu Thuyết Thứ Bảy vẫn tích cực hoạt động ngầm diệt Nhật và chống Pháp, ngoài mặt thì viết văn bán chữ, nhưng trong thì dâng cả tâm hồn lẫn thể xác cho kháng chiến. Trong các bạn đó, tôi nhớ có Bùi Hiển, Lý Văn Sâm, Nguyễn Tất Thứ, Tô Hoài, Nguyên Hồng, Thâm Tâm, Trần Huyền Trân… nhưng nghĩ rằng có một lúc nào đó Thâm Tâm bỏ hẳn thành, ra bưng, thì quả không ngờ. Tôi có thể quan niệm một Thâm Tâm ngồi ở trong thành hoạt động bí mật, tôi có thể nghĩ đến một Thâm Tâm đi “làm việc ở xa” một đôi tháng lại về… nhưng đi hẳn… thật quả tôi không ngờ, vì nói riêng về vấn đề gia đình, cái gánh của anh mang ở trên vai thật nặng: cha mẹ già, lại thêm ba bốn em, vừa trai vừa gái – mà nhà thì ở thuê, ngoài việc viết mướn của anh ra, cả nhà chỉ còn trông vào việc nhận các sách in của nhà Mai Lĩnh để đóng với một giá tiền công gầy guộc.

Lúc ấy, Thâm Tâm ở nhà Diêm. Cả một gia đình bảy tám người sống chen chúc trong một căn nhà chừng độ hai chục thước vuông, người nào người nấy trông buồn và xanh như thiếu máu. Thường thường, chúng tôi đến thăm thì không có ghế ngồi, anh em phải đứng, vì thế thấy bạn đến thì việc thứ nhất của Thâm Tâm là vơ vội lấy quần áo mặc vào để đi, bất cứ đi đâu cũng được, miễn là đừng có ở nhà.

Về sau này, lúc Nhật sắp đánh Pháp, anh lấy vợ, tính nết vẫn giữ nguyên như thế không thay đổi. Riêng tôi nghĩ thì cái gánh gia đình anh như thế, lại thêm một người vợ mới lấy về, dù sao cũng có một sức khả dĩ kìm anh lại, nhưng hết thảy chúng tôi đều lầm: Thâm Tâm, nhà văn sĩ kiêm thi sĩ, kiêm họa sĩ bé nhỏ đó “lì” và “kín” không thể nào tưởng được. Anh ta đã quyết định điều gì thì không bàn bạc với ai hết, cứ lừ lừ hành động một mình, tuy là vẫn bàn bạc công việc ngắn hạn, dài hạn với anh em để cùng làm, nhưng lát nữa thì bỏ cả đó mà đi luôn và không bao giờ buồn ngó lại.

Từ lúc chia tay nhau ở nhà Thủy Tạ cho đến lúc có tin mất ở bên kia sông Đuống, Thâm Tâm không hề gửi về cho anh em một chữ nào. Thanh Châu, khi ký kết xong Hiệp định Genève, còn biên cho tôi lại ba dòng chữ mến thương, Nguyễn Khánh Đàm còn gửi thư hỏi thăm về rượu, Phùng Bảo Thạch còn khuyên can, Tô Hoài viết thư sáu trang to “tổ bố”, chữ nhỏ li ti như con kiến giải thích tại sao không nên vào Nam với “đế quốc” và “thực dân”, và nhiều bạn khác như Nguyên Hồng, Trần Mai… lại còn sôi máu lên và không tiếc lời mạt sát… Duy chỉ có Thâm Tâm chẳng chửi mắng cũng chẳng thương, cứ ngậm miệng lại như con hến.

Thành thử trong suốt thời gian kháng chiến, tôi không biết tin tức gì về Thâm Tâm. Đến khi anh mất, tôi mới biết là sau khi ở Phú Thọ anh về khu Ba một dạo và vẫn làm văn nghệ, nhưng gia đình anh bây giờ ở đâu, còn bao nhiêu người sống, đã bao nhiêu người chết, người vợ cưới ngày kháng chiến, bây giờ ra thế nào và có cháu nào hay chưa, tuyệt nhiên chẳng có người nào ở đây biết cả.

Ốm đau sầu ít kẻ nâng niu

Cái tin đầu tiên báo Thâm Tâm đã qua đời ở bên kia sông Đuống, lúc tôi còn ở Hà Nội, cho biết anh đã bị bom của thực dân(1). Thôi thì ở trong thời chiến tranh chết vì bom, chết vì bệnh, chết tan xác, chết cháy ra than, chết dưới gầm cầu hay chết trên giường bịnh, chết gì cũng chỉ là chết mà thôi; nhưng riêng trường hợp của Thâm Tâm, tôi không ngờ anh lại sống được đến gần ngày ký Hiệp định Genève. Là vì ngay từ lúc “thiên hạ thái bình”, Nhật chưa tới, Thâm Tâm đã ốm yếu, gầy còm, mang đủ các thứ bịnh trong người. Anh thấp và nhỏ, da xanh mướt, thúng thắng ho luôn. Một vài người nói trắng trợn là anh bị bệnh lao. Riêng tôi không nói ra, nhưng nếu anh có mắc bệnh ấy cũng không có gì lạ, bởi vì Thâm Tâm chẳng khác chi Vũ Trọng Phụng, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc – mà có khi còn khổ hơn Vũ Trọng Phụng chỉ phải nuôi bà và mẹ, chớ Thâm Tâm thì phải lo tới bảy tám người trong gia đình.

Mặc dầu không nói ra, anh em đều biết Thâm Tâm không đủ sống tuy là ông cu, bà cụ và em trai, em gái anh đóng sách, xếp sách tối ngày. Có khi không đủ ăn, thuốc không có uống, nhưng anh không bao giờ phàn nàn than thở với anh em, mỗi khi lĩnh lương Tiểu Thuyết Thứ Bảy hay bán được cuốn sách nào cho Phổ Thông Bán Nguyệt San, Truyền Bá, anh vẫn “le” làm như công tử con nhà giàu, mời anh em đi nhà hàng nhậu nhẹt, có khi đến hết một phần ba phần tư số tiền.

Hình như chỉ có những lúc như thế thì Thâm Tâm thoải mái và phởn phơ trong bụng. Rượu vào độ mươi ly, anh hoàn toàn là một người khác lạ, không âu sầu rầu rĩ nữa, trái lại, hoạt bát, vui vẻ, nói đâu ra đấy và thơ thẩn những khi ấy không biết ở đâu cứ tuôn ra ròng ròng. Tôi không biết các nhà thơ, nhà văn xưa bảy bước nên thơ thì làm ăn thế nào, chứ quả Thâm Tâm lúc say làm thơ rất lẹ. Anh xin một mảnh giấy của nhà hàng, mượn cây viết, vừa uống rượu vừa làm, rồi quăng ra bàn để cho người khác ngâm lên; trong khi ấy anh lại tiếp tục uống, uống đến say mèm ra không còn biết trời đất là gì nữa.

Có một năm, làm xong số Tết Tiểu Thuyết Thứ Bảy rồi, anh em dắt nhau lên “Phở Cháy” phố Hàng Buồm ăn tất niên. Thâm Tâm say quá, ôm lấy Nguyễn Dân Giám ngâm thơ rồi cả hai cùng khóc hu hu lên như hai đứa trẻ. Tôi không hiểu tại sao lại có thể có những chuyện lạ lùng như thế, nhưng tôi yên trí lần ấy cả Nguyễn Dân Giám, tác giả Dưới rặng thông và Thâm Tâm cùng chết, không thể nào sống nổi vì cả hai cùng say đến điên lên, chạy ra giữa đường, đón xe điện lại; xe điện không ngừng, cả hai nhảy cả lên rồi chui vào dưới gầm ghế nằm ngủ, sau anh em phải vực xuống đưa về nhà.

Như trên kia đã nói, Thâm Tâm ốm yếu bịnh tật, nhưng không có một thứ dật lạc nào anh không ham: cô đầu, thuốc phiện, rượu, thuốc lào, thuốc lá… duy chỉ có cờ bạc là không mấy thích. Có lẽ tại vì anh không có tiền, chớ nếu có rủng rỉnh tiền trong túi, nhiều phần chắc chắn là anh cũng ham luôn.

Sống một cuộc đời xô bồ, liều lĩnh, “văng tê” như thế, có người hỏi “thế thì còn thì giờ đâu mà viết?”.

Quả Thâm Tâm là một người muốn tự tử mà chính anh không tự biết: say rượu, say thuốc sáng đêm, bốn năm giờ sáng anh lò dò về ngủ cho đến khi nào thức; thức mà không có anh em đến rủ rê thì cắm đầu cắm cổ viết, viết cả ngày rồi lại chong một ngọn đèn dầu lên viết cả đêm, viết quên chết, hay nói một cách khác, viết chết thôi, viết không đọc lại bao giờ cả. Thơ cũng vậy, tiểu thuyết cũng vậy. Chữ anh nghiêng, nét gầy guộc, trông rõ ràng chớ không lèm nhèm, nguệch ngoạc như đa số các nhà văn khác. Đặc biệt là có truyện anh viết một mạch từ đầu chí cuối không xóa, sửa một chữ nào. Thường thường, thơ có sửa vài ba chữ. Nhưng viết tiểu thuyết thì anh thấy khó khăn lúc bắt đầu; viết không được mấy dòng đầu thì xé bỏ chớ không sửa chữa; được đoạn đầu rồi thế là cứ vậy mà viết ra một mạch cho đến lúc ký cái tên Thâm Tâm uốn éo vào cuối, sau khi đã vẽ lên chữ ký đó hai ngôi sao trên hai chữ a để thay cho dấu ớ (^).

Tại sao ký là Thâm Tâm, lại có chỗ ký là Tuấn Trình?

Tôi không có dịp nào hỏi tại sao tên là Nguyễn Tuấn Trình anh lại ký bút hiệu là Thâm Tâm. Có điển nào không? Ai đặt cho anh tên ấy? Bí mật ấy, Thâm Tâm mang theo với anh lúc từ biệt cõi đời.

Tôi chỉ biết một điều chắc chắn là từ lúc bắt đầu viết bài truyện thứ nhất đăng trên Tiểu Thuyết Thứ Bảy, rồi qua Truyền Bá, Phổ Thông Bán Nguyệt San, Ích Hữu, Bắc Hà, Thâm Tâm không hề tự mình ký là Tuấn Trình. Thế thì tại sao trong Tiểu Thuyết Thứ Bảy lại có truyện ký tên Tuấn Trình? Nguyên do là tại Thâm Tâm viết nhanh mà viết nhiều: viết thơ, viết kịch ngắn, viết tiểu thuyết dài, viết truyện. Có khi anh đưa cho nhà báo cả một tập năm sáu truyện.

Lúc ấy, ông Vũ Đình Long làm chủ nhiệm báo, bận nhiều công việc, trao hết cả phần tòa soạn cho tôi. Theo lẽ thì mỗi kỳ nên chọn của mỗi nhà văn một truyện để cho tờ báo súc tích và mới lạ luôn luôn, nhưng vì tôi biết Thâm Tâm cần tiền hơn các anh em khác nên thỉnh thoảng tôi chọn đăng trong một số, hai bài của Thâm Tâm: hoặc một “truyện ngắn”, một “truyện có thực”, hoặc một “truyện ngắn” và một “kịch ngắn”, và sợ rằng ký cùng một tên Thâm Tâm trong một số báo thì nhàm, tôi đã tự ý sửa cái tên “Thâm Tâm” ra làm “Tuấn Trình” trong một vài ba truyện ngắn hay kịch ngắn.

Giá phải một nhà văn khác thì thế nào cũng hỏi tôi về việc đó, hoặc phàn nàn sao không tham khảo ý kiến trước khi ký là “Tuấn Trình”, nhưng Thâm Tâm thì tuyệt nhiên không bao giờ hỏi cả. Về công việc nhà báo, anh cũng chẳng hỏi “Báo dạo này chạy không?” hay “Lâm Mỹ Hoàng Ba, Lý Văn Sâm, Bùi Hiển, Phan Du viết như thế thì tiền nong ra thế nào?”. Không, Thâm Tâm không hỏi gì hết. Tôi chỉ nhớ thỉnh thoảng anh hỏi tôi: “Có thiếu thơ không?”, và một lần nữa anh hỏi: “Bài truyện viết về nhà văn hết thời, chán đời muốn tự tử, ký tên là Thiên Tướngcó phải là của anh không?”. Tất cả về công việc nhà báo, anh chỉ hỏi như thế, ngoài ra gặp nhau là chỉ nói chuyện chơi bời chè rượu, chớ không đả động gì đến văn nghệ hay lý tưởng gì hết, không nói đến đường lối, chánh sách hay chủ trương gì hết.

Những người ưa nói đến các vấn đề ấy là Nguyễn Duy Diễn, Thanh Châu, Từ Thạch, Nguyễn Tất Thứ, Trần Kim Dần, Thượng Sỹ…

Mà chính tôi, tôi cũng thích lừng khừng, “phờ lếch” như Thâm Tâm là vì tôi vẫn nghĩ rằng đời đã mệt quá rồi, viết lách khổ như chó (nguyên văn của Nguyễn Vỹ), được tí thì giờ rảnh mà lại không tán láo với nhau, cứ lên mặt ông cụ bàn cái này, tính cái kia thì chẳng nên sống làm gì cả. Chính Thâm Tâm có vẻ “ông cụ” hơn ai hết; nhưng thực ra thì tự thâm tâm anh có vẻ không coi cuộc đời có tính cách gì quan trọng hết: phải viết để kiếm tiền thì viết, chớ không phải viết ra là vì “một sứ mệnh thiêng liêng” gì cả, có khi thích quá, để trong lòng không nổi thì viết ra chớ cũng chẳng cần biết viết ra như thế có phải là giúp tay cho nền văn hóa dân tộc hay không, viết ra như thế có phải là bồi bổ cho nền văn nghệ đất nước không.

Con đường đi riêng biệt của Thâm Tâm

Tuy nhiên, đó chỉ là bề ngoài. Bên trong anh hoài bão gì, chủ trương gì, ít có ai hiểu nổi. Duy có một điều tôi biết chắc là dưới cái bề ngoài phóng túng “bất cần đời” ấy, tôi biết chắc là anh đã suy nghĩ, thiết tha nhiều về nghệ thuật, và ngay từ lúc mới bước vào làng văn, anh đã dò dẫm tìm được một con đường riêng biệt để đi và để tiến.

Lúc đó, nước ta sống trong một sự “thái bình giả tạo”. Mỗi ngày, Pháp thực dân mỗi đối xử với dân ta độc ác hơn, dân gian khổ sở khôn cùng, dù rằng lúc đó thế giới đã đến một khúc quanh lịch sử: Đức, Ý, Nhật liên minh mưu đánh thực dân và đế quốc.

Trước sự chuyển mình không thể tránh được của thế giới, phàm người nào có tâm hồn cũng vùng lên chống Pháp, hoặc tiêu cực hoặc tích cực. Do đó một số rất đông nhà ái quốc bị cầm tù, lưu đầy hay tàn sát. Các nhà văn, nhà báo muốn sống để làm tròn sứ mạng đành phải viết một cách tương đối kín đáo, khả dĩ che đậy những ý kiến mình muốn nêu ra dưới những hình thức hoặc vẩn vơ, hoặc lờ mờ, hoặc phóng túng. Điển hình cho những bài văn uất hận với chính thể lúc bấy giờ, mà phải viết bằng những lời lẽ ngoài mặt ôn hòa, Thâm Tâm đã cho ta đọc, về tiểu thuyết, những truyện ngắn như Con vờ đăng ở Tiểu Thuyết Thứ Bảy, có ý ám chỉ đến mưu toan thực dân nhằm diệt chủng Việt Nam, về kịch ngắn như Viễn ly không hứa hẹn về (mà tôi đành phải giữ lại không đăng vì sự sống còn của báo) và về thơ thì như bài Ngậm ngùi cố sự mà lúc bấy giờ ai cũng nhớ và ngâm luôn miệng mấy câu:

Cuối thu, mưa nát lòng dâu bể,

Ngày muộn, chuông đau chuyện đá vàng,

Chán ngán nhân tình, sầu ngất ngất,

Già teo thân thế hận mang mang…

Bây giờ, ngồi viết về Thâm Tâm, tôi có một điều tự thú: nếu tôi có lỗi với Thâm Tâm, và làm hại cho văn nghệ một khía cạnh nào, ấy là tôi đã giữ lại một số truyện ngắn, kịch ngắn của anh không cho đăng tải. Nguyên do, như trên kia đã nói, là sự sống còn của tờ báo; mặt khác, cũng tại vì những truyện và kịch ấy, đối với độc giả lúc bấy giờ tối nghĩa và khó làm cho người ta thưởng thức say sưa. Những kịch và truyện giữ lại đó, tôi giữ ở Hà Nội. Tất cả tội của tôi là không mang theo được vào đây và đó là cả một sự thiệt thòi cho văn nghệ tiền chiến vậy.

Theo chỗ biết của tôi, Thâm Tâm là một người có một cái tài đa diện: cũng như một người làm báo viết về mục gì cũng được, anh viết về đủ loại truyện và kịch: tâm lý xã hội, cổ tích, trào phúng, lịch sử, phong tục… Nhưng đặc điểm của Thâm Tâm là ngay từ lúc bước vào văn nghệ, anh đã biết chọn một con đường riêng biệt để đi: phục vụ một nền văn hóa dân tộc, kết cấu và giọng văn nhuộm màu sắc Đông phương, nhất là Tàu – không lai căng theo Pháp hay theo Mỹ như đa số nhà thơ lúc ấy, thí dụ Nguyễn Tuân (lúc bắt đầu viết văn) hay Xuân Diệu, Cù Huy Cận – mà cũng không bí quá, siêu phàm quá, nhức óc quá như Chế Lan Viên, Hàn Mạc Tử…

Nhiều nhà phê bình hồi đó cho rằng thơ Thâm Tâm làm rung động người ta như thơ Nguyễn Bính. Thực ra, làm thơ rung động như thế chỉ là một khía cạnh cái tài của Thâm Tâm để “chiều thị hiếu người đọc nhất thời”. Những bài thơ đứng đắn của Thâm Tâm đọc lên như thơ Đường vậy, gieo vần chọn chữ rất tài tình, đặc biệt là dùng ít chữ mà nói lên rất nhiều ý nghĩ và hình ảnh. Điển hình cho loại thơ này là bài Tống biệt hành mà các cụ già hồi đó cũng ưa ngâm và không tưởng được tác giả lại là một người mới trên dưới hai mươi lăm tuổi.

Đưa người, ta không đưa qua sông,

Sao có tiếng sóng ở trong lòng?

Bóng chiều không thắm, không vàng vọt,

Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?

Ta biết người buồn chiều hôm trước,

Bây giờ mùa hạ sen nở nốt.

… Ta biết người buồn sáng hôm nay,

Trời chưa mùa thu, tươi lắm thay…

… Người đi? Ừ nhỉ, người đi thực!

Mẹ thà coi như chiếc lá bay,

Chị thà coi như là hạt bụi,

Em thà coi như hơi rượu say!

Bài thơ ấy anh em đều cho là hay, một phần vì biết tâm trạng của Thâm Tâm lúc bấy giờ.

Bấy giờ, Nhật đến Đông Dương gieo xáo trộn, đưa ra chủ trương Đại Đông Á nhưng bên trong thì mưu làm bá chủ Á châu, thi hành chế độ độc tài quân phiệt. Biết bao nhiêu nhà văn chống Pháp đã bị giam cầm chết chóc; đến khi Nhật tới, lại thêm biết bao nhiêu người khác bị tù đầy, hành hạ, chết oan chết uổng… Việt Minh nổi lên lúc đó quả đã là một ốc đảo trong vạn lý sa mạc của đời. Những bài như Vọng nhân hành của Thâm Tâm viết hồi 1941, Tống biệt hành viết năm 1940, Vạn lý trường thành, Tráng ca là những bài mà Thâm Tâm mới thực nói ra lời được những ý nghĩ và hoài bão tiềm tàng từ trước đến nay. Nhưng đặc biệt nhất là trong các bài thơ tình hay thơ yêu nước, Thâm Tâm vẫn giữ nguyên phong độ của một người trẻ tuổi mà chín chắn, say sưa nhưng không bậy bạ, ngả nghiêng mà vẫn đượm mùi Lý Đỗ trong thuật dùng chữ cũng như gợi ý.

Trong Một mảnh tình, Thâm Tâm viết:

Đôi lứa phương tâm, một mảnh tình,

Nhớ trăng, vàng mở vẹn gương trinh,

Chén sen ráo miệng, thề pha lụy;

Quạt trúc trao tay, ước lỗi hình.

Gió trái luống gào duyên cựu mộng,

Dây oan chi riết chí kim sinh,

Say ngùi, ta đốt tương tư thảo,

Bóng khói qua mây, lại nhớ mình…

Thì đến lúc anh lột xác, thơ vẫn hàm súc như thế, trầm trầm như thế, sâu xa nhưng không rầm rộ, làm cho người ta uất ức, phấn khởi nhưng uất ức mang mang chớ không bốc lên như lửa rơm trong một lúc, mà phấn khởi trong chữ Nhân chớ không phấn khởi trong đa sát và oán hận.

Nhà ta cầm đợ tay người,

Kép bông đâu áo, ngọt bùi đâu cơm?

Chông gai đổi dại làm khôn,

Ba vòng mòng sếu liệng tròn lại bay…

Bóng hoa chu giáp vần xoay,

Cánh vàng non nửa đời gầy tả tơi.

Chữ Nhân sáng rực sao trời,

Đường xe mở rộng chân người bước xa.

Theo tôi, bài Vạn lý trường thành gói ghém được hết cả cái quan niệm sống của Thâm Tâm và hoài bão của anh về mặt đường lối chính sách.

Vạn lý trường thành nói về Tần Thủy Hoàng xây thành dài vạn dặm, làm cho dân gian khổ ải, làm cho nhiều xóm thôn hết cả trai vì phải đi làm dân công, nhưng đi là chết, cũng như đi ra trận, đi không bao giờ về, để phục vụ một người, hay một bọn người ngồi trên đầu trên cổ người ta để xây dựng danh lợi cho riêng mình.

Hỡi ơi, huyết hãn triệu lê dân,

Chất lại ngoài biên một triệu lần

Xây trọn Trường thành muôn dặm vững,

Thì muôn trường hận đắp càng căm!

Ta hỏi: nghìn xưa đem máu xương,

Đắp Trường thành để vững ngai vàng

Nhà Tần cũng mất! Và sau đó

Vô dụng, thành kiên cũng đoạn trường.

Và cả Trung Hoa vỡ tựa bình,

Đến giờ Quốc Hận máu còn tanh.

Mà nguồn huyết lệ sao nhân loại,

Tưới mãi không ngừng vạn chiến tranh!

Thơ Thâm Tâm bàng bạc một vị thơ Đường; văn xuôi của anh – kịch ngắn, truyện ngắn – cũng nằm trong tinh thần đó. Người giữ ngựa, Thuốc mê, Thiếp trông chồng cũng đầy một hồn thơ cổ kính như thơ của anh, chữ dùng chọn lựa, văn pháp nhẹ nhàng bóng bảy, văn xuôi mà có những câu hay như một bài thơ, đại khái như trong truyện Thuốc mê tả lại cái cảnh thôn cũ xóm xưa, anh hạ một câu tả cảnh “Buồn teo vó ngựa cảnh khuya…”. Ít chữ mà buồn se sắt quá…

Thâm Tâm và kháng chiến

Như trên kia đã nói, tôi biết Thâm Tâm là người có tâm hồn đã lâu, nhưng vì không có phương châm tranh đấu nên trong thời Pháp thuộc, anh em đành chịu sống một cuộc đời “lấy lệ”, mượn chè rượu giải khuây. Anh sống cực khổ lắm. Trước khi viết Tiểu Thuyết Thứ Bảy Thâm Tâm là một họa sĩ vẽ tranh cho báo, mỗi tháng lấy một số lương “hàn vi” của nhà Mai Lĩnh (lúc ấy xuất bản báo Tiểu Thuyết Thứ Ba) và in truyện vặt bán ba xu một cuốn (mà tôi có viết giúp mấy tập như Thằng Khởi, Hiếp dâm người chết…). Lúc ấy, anh là Tuấn Trình. Bút hiệu Thâm Tâm được sử dụng từ lúc anh bắt đầu viết Tiểu Thuyết Thứ Bảy. Làm Tiểu Thuyết Thứ Bảy thực ra, không đủ sống. Lúc báo còn in nhỏ chưa phát triển mạnh, mỗi người một tháng bán được hai truyện là cùng. Anh em phải viết báo khác; riêng Thâm Tâm không tha thiết với vấn đề sinh kế mấy, có tiền thì đưa về cho gia đình nhưng không có thì ỳ ra mặc kệ; anh chủ trương “Trời sinh voi, Trời sinh cỏ”, chứ cứ sống như “con lươn, chui rúc lấm đầu khổ lắm”.

Một người như anh, lớn lên và trưởng thành trong bất công xã hội, nhất định phải làm cách mạng, “chết thì chết chứ không thể cứ sống mãi thế này”; nhưng phải đợi đến lúc thời cơ thuận lợi, gặp bạn gặp bè mới có thể thực thi ý định. Bài Tống biệt hành, theo tôi biết, làm từ năm 1939, nhưng chỉ đọc cho bạn nghe thôi, đến 1940 mới đăng lên báo. Lúc làm bài này, Thâm Tâm bắt đầu theo kháng chiến… Trần Huyền Trân công tác ở thành. Tô Hoài vào hoạt động ở Nam, Nguyễn Bính ở Trung và Nam, Thâm Tâm cũng vào Nam một dạo… Lúc Việt Minh về Hà Nội, Thâm Tâm vẫn ở bưng thỉnh, thoảng tôi chỉ biết một vài tin về anh và các bạn cũ, tuyệt nhiên không có thư từ gì để lại.

Đến khi Pháp – Việt đánh nhau, anh em chạy ra hậu phương, tôi gặp nhiều bạn cũ ở Việt Bắc, khu Ba, khu Tư, nhưng không gặp Thâm Tâm một lần nào. Tôi không coi việc đó là lạ vì trong thời kỳ ấy, anh em có khi ở cùng một khu mà hàng năm không biết nhau ở đâu, nhưng có một điều tôi hay hỏi thăm bạn bè là tại sao trong khi Nam Cao, Nguyễn Tuân viết báo, in sách hay hoạt động văn nghệ dưới nhiều hình thức khác nhau, tôi không thấy Thâm Tâm đâu hết. Chẳng hiểu có làm văn nghệ nữa không? Chớ nếu vẫn làm văn nghệ thì ít ra tôi cũng phải nhận được một hai bài thơ gửi về thành, như Hoa Thu, hoặc không thế thì tôi cũng phải thấy một cái gì “hay hay” như Đôi mắt của Nam Cao gửi về qua ngả Pháp… Trong suốt thời kỳ kháng chiến, Thâm Tâm còn trước tác nữa không? Nếu trước tác thì viết được những bài thơ gì, tạo nên những cuốn tiểu thuyết gì? Đó là điều mà tất cả anh em đều muốn biết, nhưng chưa có dịp nào biết được.

Nói vậy mà thôi, chớ trước tác gì bây giờ cũng là không. Tôi nhớ lúc còn sống, Thâm Tâm đã ngồi trò chuyện với tôi lâu về cái nghĩa sống chết ở đời. Theo anh, sống ở chết về, bao nhiêu danh vọng, tiền tài đến lúc hai tay buông xuôi cũng là “không” cả, như trong thơ Vạn lý trường thành:

Nghìn thu đi vụt có nghìn tang,

Chia với thành xưa dấu vết tàn…

Ngoại khách ngậm ngùi tìm cố cảnh,

Mấy tầng đổ nát mấy tầng hoang.

Đất đá không bền để kỷ công,

Đến giờ thiêu hủy với non sông,

Họa ra còn sót mươi nền gạch,

Hát với Càn Khôn nắm bụi lòng!

Thâm Tâm đi với kháng chiến, tích cực dự phần chiến đấu cho tự do, độc lập và dân chủ của đất nước, nhưng có lẽ đến lúc bị bịnh tim ở Phú Thọ, gần đất xa trời, quan niệm về sống chết của anh vẫn không thay đổi.

Tôi nghe tin anh mất, buồn thì có buồn, nhưng không day dứt lắm, nhưng tôi chỉ băn khoăn không biết trong những năm cuối cùng của anh thì đời sống ra sao, vợ con thế nào. Ngoài ra, công danh, sự nghiệp – tôi cũng nghĩ như anh – chỉ là cái bọt, cái bèo trên đại dương, còn đấy và mất đấy:

Thở phù hơi rượu đua tranh,

Quăng bay chén khói tan thành trời mưa.

Dặm dài bến đón bờ đưa,

Thuyền ai buồm lái giúp vừa cho nhau.

Kia kìa lũ trước dòng sau,

Trăm sông rồi cũng chung đầu đại dương.

Vẫn biết đời là thế, nhưng còn sống một phút, còn phải làm cho tròn bổn phận làm người, dù đói, dù khổ, dù đa bịnh: Thâm Tâm quả là một con người xứng đáng với bốn chữ “con nhà văn tự”, một người ốm yếu mà can đảm không hai.

“Sông Hồng chẳng phải xưa sông Dịch

Ta ghét hoài câu nhất khứ hề…”.

Một công dân xứng đáng làm bổn phận xong thì nhắm mắt chết êm đềm, không ầm ĩ.

Sài Gòn, 15-3-1970

Văn Học số 103 (15-3-1970)

Nguồn: Vũ Bằng Toàn Tập. Tập 4. Triệu Xuân sưu tầm, biên soạn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.

Dòng đi thăm thẳm chia phôi – Nguyễn Thị Minh Thái

(Dân Việt) – Con sông trong “Tống biệt hành” của Thâm Tâm riêng ra một lối, như muốn vĩnh viễn cắt đôi số phận người đi và người tiễn. Vì thế, điểm nhìn cảm xúc đã rọi chiếu bắt đầu từ người tiễn, lại không muốn đưa qua sông, mà dùng dằng ly biệt người đi.

Đất Việt là nơi cư dân trồng lúa Việt đã ở ngàn đời, với nét hoa văn hoá, văn minh lúa nước, cùng ba thông số: xứ nóng ẩm, xứ sông nước, giao điểm văn hoá văn minh thế giới. Sông nước, tất thành yếu tố tâm linh người Việt “kỳ diệu”. Mọi cử chỉ sống Việt: yêu đương, hôn phối, sinh tồn… đều mang dung dáng sông nước.

Sông Bến Hải. Ảnh: Dương Minh Long

Yêu đến ước gì sông rộng một gang, bắc cầu dải yếm cho chàng sang chơi. Xuân Diệu ví: Mắt em là một dòng sông, thuyền anh bơi lội trong dòng mắt em. Xa quê Hà Nội, tôi nhớ sông Đáy bãi bờ biêng biếc, dọc triền sông Nhuệ ngan ngát nương dâu. Và điếng lòng nhớ chùm thơ lai láng hình tượng sông, chói chang vẻ đẹp thuần Việt: “Tràng giang” của Huy Cận, “Tống biệt hành” của Thâm Tâm và “Lỡ bước sang ngang” của Nguyễn Bính…

Từ thời điểm dừng lại của cuộc dùng dằng ly biệt, bài thơ “Tống biệt hành” dường như tĩnh tại, không lưu chuyển. Điểm nhìn thơ thành âm tính, quay ngược về thẳng nội tâm, nghe sao có tiếng sóng ở trong lòng? Mắt soi trong mắt, thấu thị một bóng chiều ra màu dở dang không thắm không vàng vọt, đến mức nội tâm bật sáng nghi vấn nữa: Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?

Con sông đang hiện hữu dường như biến mất. Tâm trạng đau đớn, biết chắc người đi sẽ “một đi không trở lại” đã làm mờ nhoè cả hình ảnh con sông lẫn con đò hiện thực, lẽ ra phải rời bến sang sông để hoàn tất tiễn đưa, song, chỉ vì cử chỉ “không đưa”, mà bài thơ đã cấu tứ ngược với tên “Tống biệt hành”, vốn mang nghĩa dương tính: “Tiễn một người bạn đi chiến khu” (như bạn cũ của Thâm Tâm từng cho biết). Vì sự ngược chiều này mà bài thơ đã quyến quyện được hai hơi thở trữ tình và chính luận – triết học, vốn không dễ có mẫu số chung trong tác phẩm thơ trữ tình. Nhất là khi nó được cấu trúc mạch cảm xúc trên tình huống biệt ly, (cũng là tên ca khúc buồn não ruột của Dzoãn Mẫn), vốn thường là mảnh đất thuận cho “sầu riêng trổ bông”…

Nỗi buồn mang vẻ vô thường kín đáo này được xác tín trong cuộc biệt ly riêng đưa người ta chỉ đưa người ấy, với lý do sâu kín chỉ hai người biết, hà tất chia xẻ cùng ai. Người đưa lại ngược về nội tâm, lý giải người đi, bằng những câu thơ hàm nghĩa, toả bóng dài rộng trong cõi âm vang của dồn nén tu từ. Người đi được gọi là “Ly khách! Ly khách!” với thức mệnh lệnh đượm mùi “kiếm hiệp”. (Có nhẽ Thâm Tâm muốn gợi lại điển tích Kinh Kha, kiếm khách thời Chiến Quốc, tự nguyện nhận hành thích bạo chúa Tần Thuỷ Hoàng, khảng khái ngâm thơ tặng người tiễn mình, trước khi vượt sông: Gió đìu hiu hề/Nước sông Dịch lạnh ghê/Tráng sĩ ra đi chừ không về).

Tuy nhiên, Thâm Tâm chuyển ngay sang một đoạn thơ hoàn hảo tu từ thuần Việt về người đi, với tâm nguyện: Chí nhớn chưa về bàn tay không/Thì đừng bao giờ nói trở lại/Ba năm mẹ già cũng đừng mong. Vậy, người đi, với một niềm câm lặng, chỉ người tiễn tự sự triết học: Ta biết người buồn chiều hôm trước… Ta lại biết người buồn sáng hôm nay. Biết, để sực tỉnh thảng thốt, trở lại sự thực không thể dối lòng, dù rất sâu xa vẫn thoảng nhẹ nghi vấn khắc khoải: Người đi? Ừ nhỉ, người đi thực/Mẹ thà coi như chiếc lá bay/Chị thà coi như là hạt bụi/Em thà coi như hơi rượu say…

Ta không khi nào có thể nghĩ dòng chảy thơ Việt hiện đại lại vắng thiếu con sông ly biệt đặc hiệu Thâm Tâm này.

PGS.TS Nguyễn Thị Minh Thái

THÂM TÂM

Cuộc đời và sự nghiệp

Thâm Tâm tên thật là Nguyễn Tuấn Trình, sinh ngày 12 tháng 5 năm 1917 tại thị xã Hải Dương (nay là thành phố Hải Dương), tỉnh Hải Dương.

Xuất thân trong một nhà giáo nền nếp, thuở nhỏ, ông học tiểu học ở Hà Nội. Từ năm 1938, từng vẽ tranh để kiếm sống. Từ những năm 1940, ông tham gia viết báo, viết văn và thường được đăng tải trên Tiểu thuyết thứ bảy, Ngày nay, Tiểu thuyết thứ nămTruyền bá quốc ngữ… Ông từng thử sức trên nhiều thể loại nhưng thành công hơn cả vẫn là thơ. Thơ Thâm Tâm có nhiều giọng điệu, khi buồn da diết, khi trầm hùng, bi tráng, khi reo vui…

Sau Cách mạng tháng Tám 1945, Thâm Tâm tham gia văn hóa Cứu quốc, ở trong Ban biên tập báo Tiên Phong (1945-1946), sau đó ông nhập ngũ, làm thư ký tòa soạn báo Vệ quốc quân (sau là báo Quân đội Nhân dân).

Ông mất sau một cơn bệnh đột ngột ngày 18 tháng 8 năm 1950 trên đường đi công tác trong chiến dịch Biên giới, được đồng đội và nhân dân địa phương mai táng tại bản Pò Noa, xã Phi Hải, huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng.

Thâm Tâm nổi tiếng với bài thơ Tống biệt hành. Sinh thời ông chưa in thơ thành tập. Sáng tác thơ của ông được xuất bản năm 1988 trong sưu tập Thơ Thâm Tâm.

Ngoài ra, Thâm Tâm còn có 3 bài thơ Gửi T.T.Kh., Màu máu Tygôn, Dang dở. Đây là những bài thơ tình hay nhất của Thâm Tâm gởi cho thi sĩ bí ẩn T.T.Kh. trong năm 1940. Trong các bài thơ, ông tự nhận là người tình cũ của T.T.Kh. Một số người còn cho rằng chính ông là T.T.Kh. Tuy nhiên, vẫn không ai biết chính xác là như thế nào.

Thâm Tâm được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2007. Tại Thành phố Hải Dương, có một đường phố mang tên Nguyễn Tuấn Trình.

Gia đình

Thâm Tâm sinh ra trong một gia đình đông anh chị em. Cụ thân sinh Nguyễn Tuấn Thịnh, làm thầy giáo nên còn gọi là cụ giáo Thịnh. Thâm Tâm có 2 chị gái, 2 em trai và 2 em gái. Em trai út tên là Nguyễn Tuấn San, bút danh Hoài Niệm, Bắc Thôn, tác giả truyện thiếu nhi “Hai làng Tà Pình và Động Hía”. Bà Phạm Thị An (1920-2005) là vợ Thâm Tâm. Thâm Tâm có một con trai duy nhất, Nguyễn Tuấn Khoa, sinh năm 1946, nguyên Viện trưởng Viện Thông tin Y học Bộ Y tế, tác giả truyện ngắn “Hoa Thạch Trúc báo bình yên”. Con dâu là Nguyễn Ngọc Mỹ, nguyên Chủ nhiệm Bộ môn Ngoại ngữ, Đại học Dược Hà Nội. Hai cháu nội là Nguyễn Tuấn Huy và Nguyễn Mỹ Trang.

Tác phẩm chính

Thơ:

  • Tống biệt hành

  • Ngậm ngùi cố sự

  • Chào Hương Sơn

  • Ly biệt

  • Vạn lý Trường thành (thơ in trên các báo trước 1945)

  • Chiều mưa đường số 5 (1948)

  • Thơ Thâm Tâm (1988)

Kịch:

  • Sương tháng Tám (kịch một hồi, Tiểu thuyết thứ bảy, 1939)

  • Nga Thiên Hương

  • 19-8

  • Lối sống (1945)

  • Lá cờ máu

  • Người thợ (1946)

Truyện:

Hơn 50 truyện ngắn đăng trên Tiểu thuyết Thứ bảy từ 1941 đến 1945, một số truyện cổ tích, truyện đồng thoại cho thiếu nhi và các chuyện dài in trên Phổ thông bán nguyệt san và Truyền bá.

THÂM TÂM MỘT THỜI VÀ MÃI MÃI – Văn Giá

Có một cách hình dung về đội ngũ những người sáng tạo văn học, căn cứ vào mức độ gắn bó với nghề ta có thể chia làm hai loại: Một, những người nếu không viết họ vẫn sống được, họ có thể bỏ bút đi làm nghề khác, ừ thì cũng có một chút lưu luyến nào đó với nghề, nhưng mà văn chương chẳng phải là…tất cả, cuộc đời còn có những thú vị khác hơn; và hai, những người nếu không viết thì không thể sống nổi, hiểu theo nghĩa cụ thể, vật chất, và cả với nghĩa tinh thần của nó. Không sống nổi bởi vì, nếu không viết văn thì họ chẳng biết làm gì, họ không có cái khả năng mưu sinh bằng những nghề khác, họ không thạo đi giữa cuộc đời. Không sống nổi bởi vì cái đam mê văn chương như là định mệnh, nó cứ ám anh suốt đời. Có lúc rơi vào chán nản, muốn vứt hết chữ nghĩa văn chương đi, nhưng rồi bất ngờ nó lại hiện về, nó rủ rê quyến rũ anh, anh lại vồ lấy bút, lại đêm đêm độc lực viết như thiêu thân, viết như hành xác, viết đến lao lực… Nhà văn Thâm Tâm thuộc trường hợp thứ hai, nghĩa là Thâm Tâm sinh ra để làm nghệ sĩ. Như người ta vẫn thường nói: Văn chương nó chọn anh, chứ không phải anh chọn văn chương. Vâng, văn chương đã chọn Thâm Tâm để cất cánh trở thành thơ ca và truyện ngắn, trong đó có những vần thơ bất hủ, và một số áng văn xuôi đẹp đẽ.

Gia cảnh Thâm Tâm rất cơ hàn, túng quẫn. Từ Hải Dương lên Hà Nội (1938), kéo theo cả nhà gồm cha mẹ già, hai người chị cùng bốn đứa em còn nhỏ và người vợ, có đến cả chục miệng ăn như tằm ăn rỗi. Ngần ấy người dồn ép vào sống trong một căn nhà thuê tháng rộng khoảng chừng hai chục mét vuông. Thâm Tâm nhận việc đóng sách cho nhà in Mai Lĩnh rồi mang về cho cả gia đình làm, còn riêng mình thì đi vẽ tranh minh hoạ cho các báo, làm thơ, viết truyện, viết kịch, viết tạp văn…gửi đăng các báo vừa để sinh nhai, vừa thoả cái mộng văn chương hằng ấp ủ. Có nghĩa là ông viết cật lực, chẳng kén chọn gì lắm về đề tài, thể loại, nơi in… Nhà văn Vũ Bằng kể lại: Khi đương giữ chân thư ký toà soạn cho tờ Tiểu thuyết thứ bẩy quãng năm 1941- 1943, ông thấy gia cảnh bạn mình túng thiếu, nên thường ưu tiên cho đăng của Thâm Tâm hai bài trong một số (hoặc một truyện, một thơ, hoặc một truyện, một kịch với hai bút danh: Thâm Tâm và Tuấn Trình) để bạn mình có chút đỉnh nhuận bút. Bây giờ nếu ai có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với tờ Tiểu thuyết thứ bẩy vào quãng thời gian này sẽ thấy liên tục trên các số báo có tác phẩm của Thâm Tâm với hai bút danh như vậy. Ngoài ra ông còn viết cho Truyền bá, Phổ thông bán nguyệt san (cũng của nhà Tân Dân), Tiểu thuyết thứ năm của Lê Tràng Kiều (chủ bút) và một số báo khác. Tính sơ bộ trong tài liệu mà chúng tôi sưu tầm được, ông có hàng chục bài thơ, 70 cái truyện ngắn truyện dài, trên chục vở kịch, một số tạp văn… ra đời trong quãng thời gian này. Có thể khẳng định rằng cái động cơ thôi thúc Thâm Tâm viết được nhiều như vậy chủ yếu thuộc về lý do mưu sinh, viết văn để kiếm sống, để phụ giúp vào một gia đình mà lúc nào cũng có nguy cơ đứt bữa.

Có thể ai đó sẽ cho rằng cách giải thích này không được “thơ” cho lắm, nhưng quả thật như thế (Cơm áo không đùa với khách thơ)! Mà chẳng cứ gì Thâm Tâm. Nhiều nhà văn nhà thơ ưu tú của chúng ta thời đó vướng vào nghiệp văn chương, cũng đã từng lận đận mưu sinh bằng ngòi bút. Kể từ bậc “trưởng lão” Tản Đà, cho đến Ngô Tất Tố, Lê Văn Trương, Lan Khai, Thạch Lam, Nam Cao, Tô Hoài và rất nhiều nhà văn khác. Vũ Trọng Phụng chẳng đã từng vừa ôm ngực vừa ho vừa viết, viết đến lao lực rồi chết đó sao.

Mà đã viết mưu sinh thì không thể không chạy theo số lượng. Tác phẩm được in ấn càng nhiều, thì cái nồi cơm trong mỗi bữa lại càng đầy, trong bữa ăn mọi người đỡ phải trông nồi ý tứ nhường nhau, mới dám nhìn thẳng vào mặt nhau một cách tự nhiên, thành thực. Chẳng may trong nhà có ai ốm đau, con cái có đứa nào sài đẹn mới có cái để chạy thuốc men cho đỡ tủi.

Tuy nhiên, ở những nhà văn có tài, trong số các văn phẩm ít nhiều chạy theo số lượng ấy vẫn có những tác phẩm đỉnh cao như thường. Vâng, phải có tài, người có tài thì ngay cả khi viết trong một điều kiện ngặt nghèo nhất, hoặc viết chạy theo một mục đích sát sườn nhất thì các trang viết vẫn cứ có thể lấp lánh như thường.

Tống biệt hành của Thâm Tâm là một thi phẩm thuộc vào hàng đỉnh cao sáng giá như vậy. Xin kể lại một kỷ niệm thời còn học đại học vào quãng những năm sau ngày giải phóng miền Nam 1975, lúc bấy giờ hầu hết Thơ Mới đang còn bị định kiến, bị hiểu lầm. Cho nên trong giới sinh viên, ai biết được bài nào liền thì thụt đọc hoặc chép cho nhau, vì thế nên có tình trạng tam sao thất bản. Riêng với bài Tống biệt hành, lứa sinh viên bọn tôi chỉ biết có bốn câu đầu. Vì là thể hành, nên đoán chắc bài thơ sẽ còn dài nữa, nhưng chẳng mấy ai biết phần tiếp theo là như thế nào, mà hỏi thầy thì không dám. Thôi thì đành ngâm nga bốn câu thơ đầu:

Đưa người, ta không đưa qua sông

Sao có tiếng sóng ở trong lòng?

Bóng chiều không thắm không vàng vọt

Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?

Phải thừa nhận rằng bốn câu mở đầu này có một sức quyến rũ mê người. Và hầu hết trong số chúng tôi đều coi mấy câu thơ ấy viết về tình yêu, viết về cuộc tiễn biệt của trai gái yêu nhau nào đó. Bảo là nỗi buồn nặng trĩu trong lòng đôi người yêu nhau kẻ đi người ở có gì là sai đâu. Chúng tôi lại còn ngâm nga, thậm chí viết tặng vào sổ tay bạn gái như một gửi gắm vu vơ. Sau này, khi định kiến đối với Thơ Mới dần được gỡ bỏ, tư liệu về Thơ Mới được công bố công khai, rộng rãi, mới biết rằng không phải như thế. Hoá ra bài thơ là câu chuyện và tâm sự của hai người đàn ông tráng chí nặng tình tiễn biệt nhau, một ở lại một lên đường vì chí lớn.Thậm chí lại có tư liệu cho biết nhà thơ Thâm Tâm viết tặng cho một người bạn hoạt động bí mật trong tổ chức cách mạng nhân lần tiễn bạn đi chiến khu chiến đấu(1). Tuy nhiên, không vì thế mà ý nghĩa bài thơ bị bó hẹp vào một cách giải thích cụ thể nào, hoặc vẻ đẹp của nó bị suy giảm. Bài thơ đã được đưa vào trong chương trình văn THPT. Bài thơ đã gây ra những thảo luận, tranh luận sôi nổi một dạo. Có những cách hiểu khác nhau ít nhiều, điều này càng chứng tỏ tầm vóc của thi phẩm. Một tác phẩm hay, nó không chịu nằm yên trong một cách hiểu duy nhất nào, mà nó luôn muốn vượt thoát để đến với tất thảy mọi người, thuộc về mọi người. Như hương của một loài hoa quý, nó dâng tặng mọi người, nhưng hễ ai có ý định “nhốt” mùi hương lại đều cảm thấy ít nhiều thất bại. Với bài thơ bất hủ này, nhà văn Vũ Bằng, một người bạn đàn anh của Thâm Tâm đã tặng Thâm Tâm một thi hiệu nghe lạ lạ và thú vị: Nhà phù thuỷ hô sóng vào lòng và gọi hoàng hôn lên mắt(2).

Cũng lại Vũ Bằng, ông bảo Thâm Tâm là một người ốm yếu mà can đảm(3), ý muốn nói thân hình Thâm Tâm thì nhỏ bé, da hơi đen, hơi gầy, ít nói, mà làm thơ viết văn thì hay nói đến cái tráng chí, cái hùng khí của con người. Quả thật, trong thơ của Thâm Tâm, thấy ông nói rất nhiều về niềm sầu hận, có khi trực tiếp, có khi xa gần gián tiếp:

Tan tiệc quần anh, người nuốt giận

Thằng bó văn chương đôi gối hận

Chán ngắt gia tình sầu ngất ngất

Già teo thân thế hận mang mang

Tro tàn có đốt không hồng nữa

Thắt lạnh bên lòng nỗi hận thương

Lòng ai bầm tím, ai buồn tối

Cũng tại rừng đời lạc lối ra

Sầu hận là một trạng thái tâm lý chỉ có đến giai đoạn cuối của phong trào Thơ Mới mới xuất hiện, nghĩa là vào quãng từ 1940 trở đi. Trước đó chỉ có thấy sầu mộng (Lưu Trọng Lư, Thế Lữ…), sầu đơn, sầu tủi, u sầu (Xuân Diệu, Nguyễn Bính…). Những nỗi sầu đó về cơ bản vẫn không nằm ngoài một chữ tình. Vượt ra khỏi chữ tình một chút, với Huy Cận, lại là vũ trụ sầu. Đến thời này, sự bế tắc của đời sống cá nhân nghệ sĩ đã lên đến tột đỉnh. Vũ Hoàng Chương phải kêu lên: Lũ chúng ta lạc loài dăm bảy đứa- Bị quê hương ruồng bỏ, giống nòi khinh. Trần Huyền Trân thì: Kinh thành mây đỏ như son- Cái lồng eo hẹp giam con chim trời. Đến Nguyễn Bính, cũng đã chán cảnh “giang hồ vặt”: Đất khách cùng đường ta khóc ta. Ngay cả Xuân Diệu của những năm 42-43 khi đang lưu lạc ở Mỹ Tho cũng đã bắt đầu thấy nhắc đến hai chữ “sầu hận”: Ngủ đi, ngủ đi, sầu hận muôn năm (Riêng tây)…Nếu như các trạng thái sầu trên kia có nguyên do trực tiếp từ tâm tình cá nhân thì đến sầu hận, nguyên do lại bắt nguồn từ thời thế, từ những vang động xã hội. Một câu hỏi trực diện đặt ra cho bất cứ người nghệ sĩ nào lúc này là: Đi về đâu? Câu hỏi đó lập tức bắt người nghệ sĩ phải đối mặt với thời cuộc. Đi tìm giải pháp cho cách thế tồn tại của cuộc đời, mỗi người lựa chọn theo những cách khác nhau. Có người vùi mình vào những hưởng thụ cá nhân, nên bế tắc lại càng bế tắc. Có người nỗ lực tìm đường đổi thay số phận, không chịu bị cuộc sống đè bẹp. Trong những nỗ lực cảm động đó, có Thâm Tâm. Thơ ca cũng như văn xuôi của Thâm Tâm có khá nhiều tác phẩm trình bày hình ảnh người ra đi. Người ra đi này thường được đặt trong tình huống tống biệt, chia ly. Thông thường người ra đi là một người mang sầu hận, ôm chí lớn, và bữa rượu tiễn biệt đều có những nhân vật mang dáng dấp trượng phu hoặc chiến binh thời trung đại. Uống rượu thì phải ném vỡ tan chén rượu, phải tỏ chí ngang tàng, lắm khi nói lời thề thốt:

            – Thở phù hơi rượu đua tranh

Quăng tay chén khói tan thành trời mưa

– Ly khách! Ly khách! Con đường nhỏ

Chí lớn chưa về bàn tay không

Có người rắp tâm ôm chí lớn nhưng không thành, quyết nuôi chí phục thù. Hình ảnh Huyền Sinh trong truyện ngắn Lá quạt hoa quỳ là một người như vậy. Chí lớn không có cơ thực hiện, người yêu bị Quỷ vương chiếm đoạt, chàng tưởng như lâm vào tuyệt vọng. Chàng giả điên để chờ thời. Người điên này chiều chiều thả vào trời đất tiếng sáo ai oán của mình. Thế rồi một hôm, một người có dáng trượng phu đến gặp rủ đi. Từ bấy chàng điên mất tích. Chàng đã lên đường. Đó là một hình ảnh ẩn dụ, nhuốm mầu bi tráng.

Tất cả những điều đó nói với chúng ta rằng Thâm Tâm thuộc trong số không nhiều các nhà văn có khí cốt mạnh mẽ lúc bấy giờ. Họ không thích kêu rên, than khóc. Cũng không muốn chết chìm vào trong những khoái thú cá nhân. Họ muốn đổi thay, muốn lên đường. Dòng huyết mạch chảy mạnh mẽ trong cơ thể họ. Quả tim trẻ tuổi đang đập rộn trong lồng ngực họ. Thơ của Thâm Tâm, Trần Huyền Trân có cái ngang tàng, khoẻ khoắn, dám đi “ngược gió” giữa đời. Sự thực là sầu hậnchí lớn đã tạo nên cái “chút bâng khuâng khó hiểu của thời đại” trong Tống biệt hành như Hoài Thanh đã từng cảm nhận. Tôi nghĩ rằng nếu nói lúc viết Tống biệt hành (1940-1941) Thâm Tâm đã đứng vào hàng ngũ hoạt động cách mạng thì e hơi sớm, nhưng bảo là Thâm Tâm đã cảm nhận được không khí sục sôi đang diễn ra từng ngày từng giờ của thời đại do những người cách mạng khởi xướng và lãnh đạo và đồng tình với nó thì chắc chắn là đã có. Cho nên, như một tất yếu, sau Cách mạng tháng Tám, Thâm Tâm rất sớm đi theo kháng chiến, đứng vào hàng ngũ những người cách mạng đánh đuổi kẻ thù xâm lược.

Nhưng nếu chỉ nói như thế không thôi, thì Thâm Tâm không đi xa hơn là mấy so với các nhà thơ trung đại. Cái điều làm cho Thâm Tâm trở thành điệu hồn Thơ Mới, Tống biệt hành trở thành thi phẩm Thơ Mới là ở chỗ: Nhà thơ đã thể hiện được một cách sâu sắc và thành thực đến cảm động cái mối giằng xé giữa con người tráng chí (con người tỏ mình trước cuộc đời) với con người tình nghĩa (con người vừa mang bổn phận hiếu đễ với gia đình, vừa thuận theo cái tình cảm tự nhiên mà ai cũng có với người thân, với bạn bè). Mối giằng xé này đã làm vọt ra những câu thơ đứng vào hàng tuyệt bút. Hãy thử lắng nghe xem đằng sau cái vẻ rất Kinh Kha kia là niềm day dứt, nỗi xót thương của một người nặng tình biết bao nhiêu, tưởng như những giọt nước mắt cố nén nay chực vỡ oà:

Người đi? Ừ nhỉ người đi thực!

Mẹ thà coi như chiếc lá bay,

Chị thà coi như là hạt bụi,

Em thà coi như hơi rượu say.

Bài thơ đã chạm vào nỗi lòng muôn thưở của kiếp người, thứ tấm lòng thuộc về nhân loại. Chính vì thế, bài thơ đã đi vào bất tử. Không có cái tôi Thơ Mới, các nhà thơ của chúng ta làm sao có thể đập vỡ được cái vỏ ước lệ thuộc về cái ta trung đại để bước vào cái tôi nhân văn phổ quát.

Như ta đã biết, sau này Thâm Tâm đi theo kháng chiến. Ông là thư ký Toà soạn báo Vệ quốc quân (tiền thân của báo Quân đội nhân dân ngày nay) có trụ sở đóng tại vùng căn cứ kháng chiến thuộc tỉnh Cao Bằng. Theo các tài liệu trong hồi ức của bạn bè đồng chí, Thâm Tâm là một người làm báo tận tuỵ, rất có trách nhiệm trước công việc, trước bạn đọc. Chỉ một cái địa danh in sai trên bản in thử mà ông đã băng rừng gần chục cây số qua suối lũ, hổ rừng đe doạ để sửa(4). Ông mất vì bệnh sốt rét rừng. Cũng là do làm việc quá sức, ăn uống kham khổ, lại khí hậu khắc nghiệt mà ra cả. Đồng đội ông kể lại rằng khi phát hiện ra Thâm Tâm bị ốm thì đã vội cáng nhà thơ về trạm xá của đơn vị cách chừng một ngày đường đi bộ để điều trị, tiếc thay trên đường nhà thơ đã lặng lẽ tắt thở, không kịp trăng trối điều gì. Lúc ấy vào rạng sáng một ngày thu sương trên núi rừng Việt Bắc – 18.8.1950.

Người viết bài này đã cùng thân nhân gia đình Thâm Tâm và một số nhà văn nhà thơ khác của tỉnh Cao Bằng cất công đi tìm mộ nhà thơ Thâm Tâm. Thật kỳ công. Khung cảnh nơi đây đã khác hẳn. Năm mươi năm vật đổi sao dời. Khi xác định được đúng ngôi mộ rồi, thì hài cốt nhà thơ đã dược bốc dỡ, di dời về Nghĩa trang liệt sĩ huyện Quảng Uyên. Nhưng tiếc thay, về tới đây, khi chưa kịp gắn bia mộ, sơ đồ mộ chí còn trong túi hồ sơ, thì chẳng may trong vụ tháng 2-1979, hồ sơ bị những kẻ ngoại bang đốt sạch. Vậy là ngôi mộ Thâm Tâm hiện giờ không rõ đích xác ngôi mộ nào, nhưng chỉ biết chắc chắn là đã có mặt trong các hàng mộ liệt sĩ vô danh tại Nghĩa trang Quảng Uyên. Tên Anh đã hòa cùng tên Đất Nước.

Khi Thâm Tâm mất, hành trang chẳng có gì. Sau này gia đình nhà thơ được đơn vị trao lại một chiếc ba lô, trong đó còn một vài thứ gồm mấy trang ghi chép có tính chất nhật ký, cuốn Đại đội Kim Sơn của tác giả mới in, một bài tham luận tại Đại hội văn nghệ, sáu bức ảnh chụp hình nhà thơ và các bạn văn nghệ kháng chiến, một chiếc bút máy và một cái thìa nhỏ. Tất cả chỉ có thế. Bà quả phụ Thâm Tâm lâu nay vẫn đặt chiếc thìa nhỏ đó lên ban thờ linh hồn Thâm Tâm, như một kỷ vật thân thương duy nhất còn giữ được.

Tuy nhiên, còn có một thứ hành trang vô giá mà Thâm Tâm để lại đó là các áng văn thơ. Ông viết không phải là nhiều. Cũng không thể nói đó là một sự nghiệp đồ sộ. Nhưng lạ lùng thay, văn chương không phục tùng quy luật của số lượng, mà chỉ tuân theo quy luật về chất. Với Tống biệt hành, với vài ba truyện ngắn, thí dụ như Thuốc mê chẳng hạn, Thâm Tâm vĩnh viễn có chỗ đứng riêng trong nền văn chương dân tộc.

Núi rừng Việt Bắc, con người Việt Bắc cùng Đất Nước đã tiễn đưa Thâm Tâm vào cõi mây trời cách đây năm mươi năm có lẻ. Cuộc tống biệt này không có ngày đoàn tụ. Mỗi khi nhớ về ông, bỗng lại có sương khói hoàng hôn và những gợn sóng lòng ba động.

Cự Lộc ngày 30 tháng Tư, 2004.
Văn Giá

(1) Theo tài liệu của ông Hoài Việt, trong bài Thêm một chút tư liệu về bài Tống biệt hành, in trong Thâm Tâm và T.T.Kh, Nxb Văn học, 1997

(2), (3) Xem thêm trong bài Thâm Tâm: Nhà phù thuỷ hô sóng vào lòng và gọi hoàng hôn lên mắt, in trong Vũ Bằng- Mười chín chân dung nhà văn cùng thời (Văn Giá sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu), Nxb ĐHQG- Trung tâm Văn hoá và Ngôn ngữ Đông Tây, 2002.

(4) Xem bài Những phút cuối cùng của Thâm Tâm của nhà báo Trúc Kỳ, in trong Thâm Tâm và T.T.Kh (Sđd).
Nguồn: Thâm Tâm một thời và mãi mãi – Viết văn

Tìm mộ Thâm Tâm – Nguyễn Đức Mậu

Hơn bốn mươi năm chưa tìm ra phần mộ
Hài cốt nhà thơ lạc ở nơi nào
Tôi hỏi núi, núi thắt vòng tang trắng
Tôi hỏi gió, gió rối bời lau xám.
Hơn bốn mươi năm, cây mục đá mềm
Xương thịt con người lẫn vào cỏ dại
Tôi mong tìm một vuông đất có tên riêng.
Một vuông đất không dòng tên gửi lại
Người đắp mộ Thâm Tâm, giờ cũng không còn.
Tên tuổi nhà thơ lẫn vào tên người Vệ quốc
Ông chết bình thường như bao người khác
Bệnh sốt rừng cướp mất một nhà thơ
Một vuông đất nếu như dưới đó
Có cuốn sổ tay chép những dòng thơ tản mạn dọc đường
Ông viết giữa cơn đói lạc rừng, trong mê man cơn sốt
Những dòng thơ nào ai tìm được
Hơn bốn mươi năm thơ hóa cỏ xanh rồi
Chết theo nhà thơ câu thơ bản nháp
Còn lại những câu thơ khắc vào trái tim người.
Thâm Tâm hỡi, Tống biệt hành tôi đọc
Người đi, ừ nhỉ, người đi thật!
Nhưng đâu ngờ, thân xác lạc rừng sâu
Một vuông đất tôi mong tìm chưa gặp
Nén hương trầm biết cắm vào đâu
Và hoa nữa, bó hoa rừng ngan ngát
Trên tay tôi, hoa khóc hoa sầu
Thôi thì thắp hương nơi đầu gió
Thôi thì đặt hoa bên tảng đá
Nơi cây rừng chập chờn ảo giác
Mắt nhòa đi nhoi nhói trái tim mình.

(trích trong tập Cánh rừng nhiều đom đóm bay)