Phục cổ hay nhại cổ – Trường hợp “Tống biệt hành” – Châu Minh Hùng

Có lẽ người đầu tiên gieo rắc tư tưởng phục cổ cho bài thơ Tống biệt hành là Hoài Thanh – Hoài Chân. Khi tuyển bài thơ vào tập Thi nhân Việt Nam, nhà tuyển tập – phê bình chỉ viết vẻn vẹn mấy dòng sơ lược nhưng sau đó trở thành uy lực trong tiếp nhận và phê bình văn học: “Thơ thất ngôn của ta bây giờ thực có khác thơ thất ngôn cổ phong. Nhưng trong bài thơ dưới đây lại thấy sống lại không khí riêng của nhiều bài thơ cổ. Điệu thơ gấp. Lời thơ gắt. Câu thơ rắn rỏi, gân guốc. Không mềm mại uyển chuyển như phần nhiều thơ bấy giờ. Nhưng vẫn đượm chút bâng khuâng khó hiểu của thời đại”:

Đưa người, ta không đưa qua sông,

Sao có tiếng sóng ở trong lòng?

Bóng chiều không thắm, không vàng vọt,

Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?

Đưa người, ta chỉ đưa người ấy

Một giã gia đình, một dửng dưng…,

– Li khách! Li khách! Con đường nhỏ,

Chí nhớn chưa về bàn tay không,

Thì không bao giờ nói trở lại!

Ba năm, mẹ già cũng đừng mong

                      

Ta biết người buồn chiều hôm trước:

Bây giờ mùa hạ sen nở nốt,

Một chị, hai chị cùng như sen

Khuyên nốt em trai dòng lệ sót.

Ta biết người buồn sáng hôm nay:

Giời chưa mùa thu, tươi lắm thay,

Em nhỏ ngây thơ đôi mắt biếc

Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay…

Người đi? Ừ nhỉ, người đi thực!

Mẹ thà coi như chiếc lá bay,

Chị thà coi như là hạt bụi,

Em thà coi như hơi rượu say.(1)

Thi nhân Việt Nam thuộc số tuyển tập – phê bình xuất sắc nhất của văn học Việt Nam. Nhưng cũng chính cái vị thế này đã tạo cho tác giả của nó một thứ uy tín tai hại: những điều được người nói ra không có gì phải bàn cãi nữa, nhiều khi trở thành kinh điển trong học thuật. Rất nhiều những bài viết, trên báo chí và trên các trang giáo khoa, hoặc trích dẫn, hoặc mượn ý của Hoài Thanh – Hoài Chân làm nền tảng để phân tích, thẩm bình Thơ Mới. Trên một phương diện nào đó, đây chính là lối phê bình quyền uy, mượn uy tín của một người nổi tiếng (hoặc có thế lực nào đó) để khen chê tác phẩm như một thói quen vẫn tồn tại lâu nay ở Việt Nam.

Thực chất, tập Thi nhân Việt Nam không toàn bích và tác giả của nó không kiệt xuất đến mức xem như một kinh điển về phê bình thơ. Thứ nhất, về cơ bản, đây không phải là một tác phẩm mang tính học thuật mà chủ yếu là những nhận xét cảm tính. Thứ hai, đi vào khía cạnh các luận đề, có những nhận xét tinh tế sâu sắc bao nhiêu thì lại có những nhận xét đơn giản và nông cạn bấy nhiêu. Chung quy, vì đây là lối phê bình tri âm, lấy hồn ta để hiểu hồn người như có ai đó đã nói, và như thế, tất yếu có những trường hợp nhà phê bình Thơ Mới không thể tri âm được khi hồn ta khác với hồn người. Bằng chứng: người bình thơ hời hợt với Nguyễn Bính, mù mờ với Yến Lan, bất lực trước Hàn Mặc Tử, chào thua hiện tượng Xuân Thu nhã tập và cho qua nhiều tên tuổi khác trong làng Thơ Mới sôi động hiện thời.

Thâm Tâm không thuộc số những nhà thơ được tác giả Thi nhân Việt Nam ưu ái tuyển nhiều thơ và dành cho nhiều lời bình. Vẻn vẹn mấy dòng giới thiệu ở trên và bài thơ Tống biệt hành được dẫn ra ở dưới. Có lẽ, trong ý thức ban đầu của tác giả Thi nhân Việt Nam, bài thơ Tống biệt hành không xuất sắc như được thẩm định sau này mà nó chỉ là quân cờ cần thiết để bài binh bố trận cho sự đa dạng của một nền thơ giữa buổi giao thời. Ông muốn chứng minh cho cái luận đề: “Di sản tinh thần của cha ông ta đại khái hãy còn nguyên vẹn. Tôi tin rằng nó có thể đưa sinh khí đến cho thơ và cứu các nhà thơ ra khỏi một tình thế chừng như lúng túng. […]. Nếu các thi nhân ta đủ chân thành để thừa hưởng di sản xưa, nếu họ biết tìm đến thơ xưa với một tấm lòng trẻ, họ sẽ phát huy được những gì vĩnh viễn hơn, sâu sắc hơn mà bình dị hơn trong linh hồn nòi giống”(2). Trân trọng, ưu ái cái mới của Thơ Mới, nhưng nhà phê bình Một thời đại trong thi ca lại không muốn làm tổn thương cái cũ, đúng hơn là muốn bảo tồn những di sản truyền thống. Khác với các đại biểu tiền phong của phong trào Thơ Mới như Phan Khôi, Lưu Trọng Lư, Lê Tràng Kiều… đã từng tuyên chiến một cách cực đoan với thơ cổ, tác giả Thi nhân Việt Nam đã làm một cuộc hòa giải bằng cách Cung chiêu anh hồn Tản Đà làm cầu nối giữa hai thời đại thi ca: một mặt “tiên sinh đã dạo những bản đàn mở đầu cho một cuộc hòa nhạc tân kì đương sắp sửa”; mặt khác, “có tiên sinh, người ta sẽ thấy rõ chúng tôi không phải là những quái thai của thời đại, những đứa thất cước không có liên lạc gì với quá khứ của giống nòi”(3). Cách nói lưỡng phân này dễ được cả hai phía thơ cũ lẫn thơ mới đồng tình trong giờ phút bình tâm sau những cuộc khẩu chiến lẽ ra không phải nặng lời với nhau.

Tuy nhiên, điều người ta đồng tình với tác giả Thi nhân Việt Nam không chỉ có thể. Trong giờ phút bình tâm nhất để suy xét một cách thận trọng, người ta thấy, Thơ Mới về đại thể vẫn chưa thoát khỏi hấp lực của thơ cổ. Thể thơ, nhạc điệu thơ của Thơ Mới vẫn dựa trên cái nền của thơ ca truyền thống. Nó chỉ nới giãn diện tích của câu thơ, khổ thơ truyền thống cho vừa khát vọng của cái tôi cá nhân đang tìm đường giải phóng. Thậm chí rất nhiều hiện tượng dùng lại chất liệu thơ, âm hưởng thơ cổ như trường hợp Phạm Huy Thông, Vũ Hoàng Chương…, và cả ý thức phục cổ hoàn hoàn như Quách Tấn chẳng hạn. Trường hợp Thâm Tâm với Tống biệt hành không được xem là ngoại lệ trong hệ thống ấy. Bài thơ phục sinh một cách toàn diện những gì tưởng chừng đã bị khai tử: thể hành cổ kính, đề tài tống biệt với người ra đi – li khách xưa cũ, kể cả chất liệu thơ: sông, sóng, bóng chiều, hoàng hôn, sen, lệ, màu thu, lá bay, hạt bụi, hơi rượu say quen thuộc đến mức đã mòn về nghĩa, chứ không chỉ là điệu thơ gấp, lời thơ gắt, câu thơ rắn rỏi, gân guốc như tác giả Thi nhân Việt Nam đã nói trên kia. Tinh thần phục cổ này sẽ không giới hạn trong phạm vi phục cổ nữa khi có người tiết lộ một thông tin ngoài văn bản rằng Thâm Tâm viết bài thơ Tống biệt hành khi tiễn một người bạn lên đường đi kháng chiến (!?) để hóa thân li khách thành một người chiến sĩ cách mạng. Quan hệ có vẻ đồng tính giữa người tráng sĩ ra đi vì nghĩa lớn với khí khái anh hùng của người chiến sĩ cộng sản đã tạo ra sự suy diễn tùy tiện như thế. Tinh thần phục cổ trong ý nghĩa văn hóa của tác giả Thi nhân Việt Nam bỗng dưng biến thành tư tưởng phục quốc trong ý nghĩa chính trị của khuynh hướng xã hội học dung tục.

Hòa giải cũ – mới là ý thức bắt cầu cho hai bến bờ văn hóa vốn đứt đoạn trở nên liền mạch. Đó là ưu điểm lớn của tính cách Việt nhưng cũng là hạn chế của nhận thức và phát huy sáng tạo. Không phải ngẫu nhiên mà tác giả Thi nhân Việt Nam dù đề cao sự kiến thiết nhưng lại coi thường sự phá hoại. Nhà phê bình Thơ Mới dẫn ra bài hát nói khôi hài của Tú Mỡ:

… Cây tươi tốt, lá còn xanh ngắt,

Bói đâu ra lác đác lá ngô vàng,

Trên đường đi nóng dẫy như ngô rang,

Cảnh tuyết phủ mơ màng thêm quái lạ…

hay mấy dòng thơ thất ngôn khinh mạn của Lưu Trọng Lư:

Nắn nót miễn sao nên bốn vế,

Chẳng thơ thì cũng cóc cần thơ…

để chứng minh cho sự thiếu chừng mực trong cuộc đối đầu cũ – mới trong buổi đầu khai sinh một thời đại thi ca.

Theo tôi, cần coi trọng cái buổi ban đầu quyết liệt ấy. Chiếc cầu nối giữa hai bờ cũ và mới chỉ được dựng lên khi người ta tìm cách vượt nhanh qua cái cũ. Phải có ý thức đoạn tuyệt trước khi nối lại quá khứ đã mất. Lịch sử bao giờ cũng đi qua giai đoạn quá độ có tính cực đoan ấy. Ở buổi giao thời, khi chưa có sự chi phối của một tiếng nói chung, sự xung đột giữa hai nền văn hóa sẽ là một cuộc đối thoại gay gắt, theo cách nói của M. Bakhtin, nó sẽ tạo nên tính đa thanh, phức điệu trong mọi phát ngôn. Bakhtin không đặt ra tính đối thoại đa thanh cho thơ ca (khi đối lập với tiểu thuyết), nhưng nhận xét của ông lại mang tính phổ quát cho sự thực ngôn ngữ: “Trong ngôn ngữ, không có từ hoặc hình thức nào lại có thể trung tính hoặc có thể không thuộc về ai đó: tất cả ngôn ngữ hóa ra là bị phân tán, bị thấm đẫm các ý hướng, bị nhấn giọng […]. Trong từ, những hòa điệu mang tính ngữ cảnh (của thể loại, của xu hướng, cá nhân) là không thể tránh khỏi”(4). Sự thực ngôn ngữ ấy đã xuất hiện ở Thơ Mới Việt Nam mà trường hợp Tú Mỡ, Lưu Trong Lư ở trên kia là một ví dụ. Tú Mỡ đã giễu nhại thơ cổ, Lưu Trọng Lư đã cười cợt sự thất bại của những tao nhân mặc khách xưa. Văn bản Thơ Mới, trong trường hợp này, theo cách diễn đạt của J. Kriteva trong Bakhtin, từ, đối thoại và tiểu thuyết (5) đã thành liên văn bản (intertextuality): nó nối kết và đối thoại với văn bản trước đó. Đến đây ta có quyền nghi ngờ tinh thần phục cổ của bài thơ Tống biệt hành. Không phải là quan hệ liên văn bản theo hình thức sử dụng điển tích, điển cố để làm sống lại không khí riêng của nhiều bài thơ cổ mà là hình thức đối thoại đúng nghĩa mang tính xung đột với mục đích đoạn tuyệt, tiêu hủy cái đã lỗi thời một đi không trở lại.

Sự nghi ngờ này xuất phát từ âm hưởng bất thường của bài thơ. Âm hưởng bi tráng của bài thơ, theo tôi, chỉ là vẻ ngoài. Thực chất bài thơ không có chủ âm mà đa âm, phân hóa nhiều giọng điệu. Bốn dòng thơ mở đầu mang hình thức lập lờ nước đôi: “không… sao có…?”. Không đưa qua sông – không gian mịt mờ vô định. Bóng chiều không thắm không vàng vọt – thời gian hư ảo mông lung. Không gian – thời gian trở thành trống rỗng (10 vần ông, ong trong bốn dòng thơ gợi thêm cái cảm giác trống rỗng, hư vô ấy).Cái vô thanh của không gian chuyển thành cái hữu thanh của cảm xúc: Sao có tiếng sóng ở trong lòng? Cái vô sắc của thời gian hóa thành cái hữu sắc của nội tâm: Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong? Giọng điệu đan xen, kết hợp giữa phủ định và khẳng định, tồn tại và nghi vấn ấy đã tạo nên mạch đối thoại ngầm ẩn giữa các khuynh hướng trữ tình. Những dòng sông, bóng chiều là ngoại cảnh của bao cuộc phân li trong thơ cổ đã bị phủ định để thay bằng thế giới nội tâm của con người hiện đại. Bút pháp lấy cảnh ngụ tình của thơ cổ đã hoàn toàn bị phá vỡ. Hiện tượng này có xuất hiện trong thơ Huy Cận: Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà ở phần cuối bài thơ Tràng giang trong cuộc đối thoại với Thôi Hiệu bằng mối quan hệ liên văn bản với Hoàng Hạc lâu nhưng ở Thâm Tâm mới thực sự triệt để. Vứt hẳn ngay từ đầu nhân tố ngoại cảnh, con người thực sự trở thành sinh thể độc lập với khả năng tự khẳng định và thể hiện nội giới của mình. Trái tim tự nó mang cả dòng sông tiễn đưa và ánh mắt mang cả chân trời hoàng hôn li biệt. Cái tôi cá nhân được giải phóng, bé nhỏ nhưng mang trong mình mọi chiều kích lớn lao của đất trời, mọi vẻ đẹp của nhân gian. Âm vang con sóng ở trong lòng và sắc màu hoàng hôn trong mắt trong đã làm cho cái tôi của buổi giao thời mang trong mình cả một vũ trụ phân li. Tạo ra nghịch lí giữa ngoại cảnh và nội tâm, Thâm Tâm đã dựng lên đầy đủ sự xung đột giữa hai thời đại thi ca và cuộc đối thoại có tính bản chất nhất giữa thơ cổ và thơ mới.

Cuộc đối thoại này sẽ bộc lộ rõ nhất ngay chính trong cái gọi là âm hưởng bi tráng của bài thơ. Khúc tráng ca của một cuộc ra đi và nỗi bi thương trong giờ phút li biệt không hài hòa như nhiều bài thơ cổ mà phân xuất ra làm hai nửa đối nghịch trong cấu trúc của văn bản nghệ thuật.

Nửa đầu, sau bốn dòng thơ mang hình thức chập chờn nước đôi là khúc tráng ca vang lên như một sự bắt chước quá lố khẩu khí anh hùng thời trung đại: “Đưa người ta chỉ đưa người ấy… Ba năm mẹ già cũng đừng mong”. Giữa Đưa người ta không đưa qua sông và Đưa người ta chỉ đưa người ấy có một quan hệ song hành cú pháp với giọng điệu đoạn tuyệt và dứt khoát. Đoạn tuyệt dòng sông hay bến đò trong thơ cổ và dứt khoát chỉ đưa cái người li khách anh hùng cổ điển. Ý nghĩa mập mờ ngay trong chữ đưa: đưa tiễn theo nghĩa thông thường hay tống tiễn cái đã không còn giá trị. Chính hình thái song hành cú pháp trên cho phép chúng ta nghĩ sang nghĩa thứ hai. Nhà thơ của thời đại Thơ Mới muốn tống tiễn cái cũ của một thời còn ngự trị trong tâm lí của con người Việt Nam: kẻ ra đi chỉ có hành động mà không có nội tâm: một giã gia đình, một dửng dưng; chỉ có lí tưởng mà coi thường tình cảm: Chí nhớn chưa về bàn tay không; đề cao lí tưởng mà quên tình ruột thịt: Thì không bao giờ nói trở lại!/ Ba năm mẹ già cũng đừng mong. Ngôn từ cũ đến mức lẽ ra cần vứt bỏ, nói như người xưa: Duy trần ngôn chi vụ khử (Hàn Dũ), mới chăng là thái độ của nhà thơ đối với cách hành ngôn ấy. Sự đối lập: con đường nhỏ – chí nhớn phải chăng là sự đề cao ý chí của người anh hùng trước gian nan thử thách? Cách nói đại nhân hành tiểu lộ tôi dám chắc là cách nói mỉa mai (bởi vì trượng phu chọn con đường lớn mà tung hoành – Chinh nhân dĩ tại chinh đồ thượng). Không mỉa mai sao được khi cái gọi là chí nhớn trong bài thơ là cái gì không ai biết? Nó rất mơ hồ và rỗng tuếch. Con đường nhỏ ở đây chẳng qua chỉ chứng tỏ sự bế tắc về lí tưởng của cái tôi giữa buổi giao thời. Tôi không nghĩ mấy dòng thơ này mang cảm hứng ngợi ca mà chỉ là hình thức giễu nhại (parody) khẩu khí anh hùng của lối viết sử thi. Thâm Tâm đã nhại giọng điệu trong lời hát của Kinh Kha: Phong tiêu tiêu hề, Dịch thuỷ hàn/ Tráng sĩ nhất khứ hề, bất phục hoàn (Gió hiu hiu hề/ Sông Dịch lạnh lùng ghê/ Tráng sĩ một đi không trở về), kể cả nhại khẩu khí anh hùng ta thường gặp trong tuồng chèo. Đặt cách nói: Ba năm mẹ già cũng đừng mong trong bối cảnh cuộc sống hiện đại sẽ không khó nhận ra sự cường điệu quá lố (giống như lời đứa trẻ dỗi mẹ bỏ nhà đi hoang), cái hào hùng hóa thành cái hài hước. Anh chàng li khách bị vẽ nhọ bôi hề, xem chừng vừa giống Don Quijote của Cervantex, vừa  không khác nàng Mona Lisa với bộ râu mép trong tranh của Marcel Duchamp(6). Quả thực Thâm Tâm chẳng ưa gì cái hào khí giả tạo một thời được tán dương trong nghệ thuật cổ: Sông Hồng chẳng phải xưa sông Dịch/ ta ghét hoài câu “nhất khứ hề” (Vọng nhân hành). Ở phần này, Thâm Tâm đã nhại thể loại, nhại phong cách và nhại cả giọng điệu và ngôn ngữ của thi ca cổ. Tống biệt hành đâu chỉ là cuộc tiễn đưa giữa những cá nhân trong quan hệ đời thường mà là cuộc tiễn đưa mang tính thời đại – lịch sử, nói theo cách của Marx, là dùng tiếng cười tiễn đưa cái đã lỗi thời xuống huyệt một cách vui vẻ.

Nửa sau của bài thơ, trừ bốn câu cuối trở lại hình thức lập lờ nước đôi, là âm hưởng bi thương, nỗi buồn thăm thẳm của cái tôi thời đại Thơ Mới: “Ta biết người buồn chiều hôn trước… Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay”. Cái khẩu khí lạnh lùng được thay bằng giai điệu lưu luyến. Nếu cả bài thơ là một bản giao hưởng của hai dòng chảy văn hóa thì hai phần chính này của bài thơ là một nghịch âm với sự xung đột đầy kịch tính. Hình thức điệp cú pháp giữa Ta biết người buồn chiều hôm trước và Ta biết người buồn sáng hôm nay đã kéo dài âm hưởng của khúc bi ca, đối chọi, lấn át và tiêu hủy khúc tráng ca tưởng chừng mạnh mẽ nhưng rỗng tuếch ở trên kia. Người (có bản chép là ngươi) ở đây đã thành một con người khác: một con người không phải đứng giữa đất trời trống rỗng nữa mà đang đối diện với thân phận bé nhỏ của kiếp người. Một bà mẹ già mòn mỏi ở trên kia, thêm hai chị như sen cuối mùa, một em nhỏ ngây thơ – tất cả đều là những thân phận mong manh. Cái bi sinh ra từ trong thế đối lập giữa người ra đi mệnh danh là chí nhớn với những con người bé nhỏ đời thường. Người ra đi mang dáng vẻ ngạo nghễ (bởi vì sự hiên ngang khí phách bị cường điệu quá lố), còn người ở lại dùng dằng níu kéo (bởi những dòng lệ sót, bởi nỗi niềm thương tiếc). Không thể nói bài thơ Tống biệt hành mang âm hưởng bi tráng theo nghĩa cổ điển, bởi vì đây không phải là những giọt nước mắt lớn lao hay sự hi sinh cao cả. Nó chỉ là cái bàn cân bị xô lệch giữa một bên là cái lí tưởng được thăng hoa đến mức hão huyền giả tạo với một bên là tình cảm đau thương nặng nề của hiện thực. Nhưng cái xung đột có hiệu quả thẩm mĩ cho một cuộc đối thoại giữa hai nền văn hóa, hai bút pháp thể hiện chính là sự xung đột giữa ngoại cảnh và tình người. Thâm Tâm không dùng phép phủ định ngoại cảnh nữa mà dùng ngoại cảnh tạo ra  nghịch lí với tình người. Cuộc chia li diễn ra trong tổ ấm gia đình nhưng thật lạnh lẽo: tình cảnh mẹ, chị, em thật neo đơn, chiếc bóng. Bức tranh chia li trong thời điểm giao thời: cuối mùa hạ, sắp sửa sang thu, tươi lắm thay nhưng lòng người lại u uất hận chia li, giời không mưa nhưng lòng người đầy mưa tuôn.

Tống biệt hành, vì thế, nói về sự ở lại nhiều hơn là sự ra đi. Bởi vì sự ra đi với hào khí cổ điển: con đường nhỏ – chí nhớn, không bao giờ nói trở lại – ba năm mẹ già cũng đừng mong đã trở thành sáo rỗng với ấn tượng về sự hài hước: người anh hùng lẽ ra chết rồi trong quá khứ lại tiếp tục bước nhầm sang thời đại mới với bức chân dung bất hợp thời. Còn những con người ở lại với cuộc sống thương tâm đã neo vào lòng người đọc bao nhiêu niềm thương xót ngậm ngùi. Bốn dòng thơ cuối cùng quay trở lại hình thức nước đôi và hàm chứa đầy những nghịch lí:

Người đi? Ừ nhỉ, người đi thực!

Mẹ thà coi như chiếc lá bay,

Chị thà coi như là hạt bụi,

Em thà coi như hơi rượu say.

Không phải là tiếng kêu Li khách! Li khách! ra vẻ thán phục và kiêu hãnh nữa mà là nửa ngạc nhiên nửa ngậm ngùi: Người đi? Ừ nhỉ, người đi thực! Có âm vang hào hùng trong hình thức điệp: thà coi như và cũng vì cái âm hưởng giả tạo ấy mà người ta dễ nhầm lẫn hệ thống những hình ảnh: chiếc lá bay, hạt bụi, hơi rượu say đã khắc họa thêm lần nữa cái lí tưởng hào hùng của người ra đi, coi tình cảm nhẹ như lông hồng. Sao chúng ta lại không nghĩ rằng, đó chỉ là những hình ảnh so sánh với mẹ, chị, em để tái hiện một lần nữa những thân phận mong manh của cuộc đời? Ném cái điệp ngữ thà coi như mang tính chất tuồng chèo kia đi để nhìn thấy ấn tượng thực đằng sau vẻ hào hùng giả ấy là cái gì? Mẹ như chiếc lá bay – một thân phận đang sắp sửa lìa cành; chị như là hạt bụi – đóa sen tàn với thân cát bụi lại quay về cát bụi; em như hơi rượu say – đời đang thăng hoa nhưng cũng chỉ là kiếp đời phiêu du lãng đãng như sương khói. Bài thơ mở đầu bằng cõi hư vô cho một cuộc tiễn đưa và kết thúc lại là kiếp người trong cõi hư vô. Âm hưởng hào hùng không lấn át nổi khúc bi ca của thân phận. Đấy mới chính là cái tôi đích thực của buổi giao thời!

Điều tác giả Thi nhân Việt Nam nhận định về âm hưởng của bài thơ chỉ đúng một phần ở cấu trúc nhạc điệu. Hiển nhiên là bài thơ không mang cái âm hưởng mềm mại uyển chuyển như phần nhiều thơ bấy giờ, nhưng cái điệu thơ gấp, lời thơ gắt, câu thơ rắn rỏi gân guốc kia cũng chẳng phải làm sống lại không khí riêng của nhiều bài thơ cổ. Bởi vì phần lớn Thơ Mới vẫn tuân theo luật hòa âm cổ điển chứ ít khi có những phá cách triệt để. Tống biệt hành được cấu trúc bằng phương thức nghịch âm bất tuân những niêm luật vốn có của thể hành. Có câu thơ toàn thanh bằng: Đưa người ta không đưa qua sông; chen vào đó câu thơ nhiều thanh trắc: Sao có tiếng sóng ở trong lòng? Trong cõi mơ màng tĩnh lặng vẻ ngoài có cái âm vang sống động bên trong. Điều này sẽ được phát huy cao độ ở  Tây Tiến của Quang Dũng sau này. Nhưng Tây Tiến, về tổng thể vẫn là bản hòa âm của những nghịch âm với sự đan xen đều đặn giữa các thanh âm bằng – trắc. Trong khi ở Tống biệt hành, hệ thống các thanh âm bằng – trắc bị phân xuất ra làm hai nửa đối chọi nhau. Nửa đầu gieo vần bằng – vang – cao (sông, lòng, trong, không, mong) dựng dậy cái ngang tàng khí khái của một hiệp khách giang hồ. Nửa sau gieo vần trắc – tắc (vọt, trước, nốt, sót) tiếp liền với vần bằng – khép – trầm (nay, thay, tay, bay, say) khơi sâu vào sự u uất, bế tắc của phận người. Vần chân – dư âm của giai điệu, điểm nhấn của tiết tấu – vốn đồng chất trong thể hành – ở đây bị đặt trong thế vừa va đập vừa phân li thành hai đối cực. Hai làn sóng âm thanh bị dội ngược sau một tác động không hòa hợp dẫn đến hiệu ứng thẩm mĩ: cái đáng lẽ được trân trọng (nam nhi chi chí) bị đẩy sang ngưỡng hài hước và cái từng bị coi thường (nữ nhi thường tình) lại được nâng lên thành trân trọng. Tống biệt hành đảo ngược cấu trúc âm thanh của thi ca cố:

Ni ni như nữ ngữ

Ân oán tương nhĩ nhữ

Hoạch nhiên biến hiên ngang

Dũng sĩ phốc chiến tràng

Hàn Dũ khi hình tượng hóa sự biến hóa của tiếng đàn, một mặt, dùng hệ âm trắc – khép – trầm (nữ ngữ, nhĩ nhữ) để miêu tả âm thanh nỉ non, ai oán của phận nữ nhi, mặt khác, dùng hệ âm bằng – mở – vang (hiên ngang, chiến tràng) để làm bật lên khúc ca hào hùng của đấng trượng phu. Phép đòn bẩy này đã hoàn toàn mất hiệu lực khi dư âm còn lại trong Tống biệt hành không phải là âm hưởng hào hùng mà là giai điệu nỉ non, ai oán. Những hình ảnh mẹ, chị, em – phận nữ nhi thường tình một thời bị rẻ rúng – được nhà thơ của thời đại mới trân trọng nâng niu với bao nhiêu nỗi niềm sâu lắng.

Nếu xem Tống biệt hành không phải là một bài thơ trữ tình thuần túy (theo nghĩa bài thơ như là hình thức độc thoại riêng tư) thì có thể xem hình thức đối thoại của nó đã chạy sang tiểu thuyết và mang mầm mống của thi ca hậu hiện đại. Bài thơ nhại cổ để đoạn tuyệt cái cũ và khai sinh cái mới. Đến đây chúng ta không cần phải bàn cãi “hoàng hôn trong mắt ai”? hay phân biệt đâu là “ta”, đâu là “li khách”?. Đành rằng thơ, về mặt hiển ngôn là tiếng nói của nhà thơ, nhưng không phải bao giờ cũng độc giọng mà trong một điều kiện nào đó, ở chiều sâu hàm ngôn, có thể đa giọng, phức hợp nhiều tiếng nói trong một tiếng nói. Hơn nữa, theo lí thuyết của Bakhtin về nguyên lí đối thoại, ngôn ngữ là “lãnh thổ chung của cả người nói lẫn người nghe”, là “cầu nối giữa ta và người”; là “một nửa của người khác”(7).. Ta và người hay li khách chỉ là phương tiện để làm nên một cuộc phân li giữa buổi giao thời, ở đó diễn ra cuộc đối thoại ngầm tranh chấp giữa ra đi và ở lại. Nếu có một cuộc ra đi đích thực thì đấy chính là cuộc ra đi của cái đã lỗi thời với vẻ đẹp hào hoa giả tạo: ta tống tiễn người ở cái hào khí lạnh lùng giả tạo kia. Ở lại mới là cái đích thực của cuộc đời này: ta lưu luyến người và xót xa cho cái kiếp người mong manh nhưng chan chứa yêu thương. Theo lí thuyết liên văn bản của Kriteva, Tống biệt hành không là sản phẩm độc sáng của Thâm Tâm, nó chứa đựng nhiều văn bản khác trước đó và cùng thời, hiện hữu hoặc vắng mặt với phương thức trích dẫn hoặc chuyển hóa, lặp lại hoặc giễu nhại để tạo nên một văn bản mới: mới ở cách nhìn, ở thái độ, tư tưởng, ở giọng điệu, nhạc điệu và chiều sâu cấu trúc ngôn từ.

Nguyên tiêu Mậu Tý

CMH

———————————————————————————-

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Graham Allen (2000), Intertextuality, London: Routledge, tr. 20 – 28.
  2. J. Kriteva (1980), “Bakhtin, the Word, the Dialogue and the Novel”, Desire in Language: A Semiotic Approach to Literature, Léon S. Roudiez biên tập, Oxford: Blackwell và The Kristeve Reader.
  3. Hoài Thanh, Hoài Chân (1988), Thi nhân Việt Nam, Văn học, Hà Nội, Hội Nghiên cứu giảng dạy văn học, tp Hồ Chí Minh.
  4. Tzvetan Todorov (2004), Mikhail Bakhtin, nguyên lí đối thoại (Đào Ngọc Chương dịch theo bản tiếng Anh của Wlad Godzich), Đại học Quốc gia Tp Hồ Chí Minh, tr. 110 – 111.

 

(1) Hoài Thanh, Hoài Chân (1988), Thi nhân Việt Nam, Văn học, Hà Nội, Hội Nghiên cứu giảng dạy văn học, tp Hồ Chí Minh, tr. 258-259.

(2) Hoài Thanh, Hoài Chân, sđd, tr. 36.

(3) Hoài Thanh, Hoài Chân, sđd, tr. 6.

(4) Dẫn theo Tzvetan Todorov (2004), Mikhail Bakhtin, nguyên lí đối thoại (Đào Ngọc Chương dịch theo bản tiếng Anh của Wlad Godzich), Đại học Quốc gia Tp Hồ Chí Minh, tr. 110 – 111.

(5) J. Kriteva (1980), “Bakhtin, the Word, the Dialogue and the Novel”, Desire in Language: A Semiotic Approach to Literature, Léon S. Roudiez biên tập, Oxford: Blackwell và The Kristeve Reader.

(6)  Bức họa Marcel Duchamp nhại người đẹp trong tranh của Leona de Vinci.

(7) Dẫn theo Graham Allen (2000), Intertextuality, London: Routledge, tr. 20 – 28.

Nguồn: Phục cổ hay nhại cổ – Trường hợp Tống biệt hành

Về ba câu kết bài thơ Tống biệt hành – Hoàng Thái Sơn

NVTPHCM- Theo chúng tôi ba câu thơ ấy không nên nhìn với con mắt thực chứng, tách biệt với toàn bài, mà phải nhất quán trong mạch thơ cả bài, nghĩa là cũng “ý tại ngôn ngoại”…

Trong văn chương, đặc biệtvới thơ, thường chứa đựng những ẩn số khiến không chỉ người đọc, mà ngay cả người làm ra nó có khi cũng không hiểu nổi bởi những ý tưởng biểu đạt thường nhiều hơn cái mà nó biểu đạt, trong điều kiện đó chỉ có bản thân câu thơ mới tự biết nó nói lên những gì mà thôi! Ba câu thơ kết thúc bài thơ Tống biệt hành nổi tiếng của Thâm Tâm cũng trong loạt những câu rắc rối mà mọi tranh cãi vẫn chưa nguôi trong sự tạm lắng giữa bao bề bộn:

Mẹ – thà coi như chiếc lá bay,
Chị – thà coi như là hạt bụi,
Em – thà coi như hơi rượu say.

Nói rắc rối, là vì ý Thâm Tâm ra sao, hầu như không rõ; còn với người đọc, thì tuy đã nghe thấy những kết luận rồì, nhưng nhiều người vẫn chưa an tâm, lí do là chưa hẳn đã đúng. Kết luận ấy mọi người đã rõ: Ba câu thơ là những mất mát, đau thương, chia lìa hoặc của “người đi” dành cho người ở lại; hoặc của Mẹ, Chị và Em dành cho “người đi” qua những hình ảnh bi luỵ “chiếc lá bay”, “hạt bụi” và “hơi rượu say”! Rõ ràng với cách hiểu đó khiến người ta băn khoăn là phải, bởi người ta cần một sự tường minh chứ không chịu nghe theo cái lối nước đôi “hoặc nọ, hoặc kia” như thế. Ở đây tính đa nghĩa (mà “hoặc nọ, hoặc kia” cũng không phải là đa nghĩa) của thơ gần như khó được người đọc chấp nhận, bởi bài thơ có những yếu tố tự sự, có nhân vật (dù là nhân vật trữ tình), cụ thể là có kẻ đi, người ở, do vậy người đọc cứ muốn biết rõ ai buồn, và buồn cho ai trong mấy câu thơ kia, thêm vào đó còn là mức độ nỗi buồn sao tới mức bi thương, vô vọng đến thế?

 

Cùng tâm trạng trên với nhiều bạn đọc, chúng tôi vẫn nghĩ cách hiểu trên e không đúng, và cố gắng đi tìm cái cần tìm, và có thể chủ quan khi chúng tôi nói đã nhận thấy tia sáng trong con đường hầm tìm kiếm và nếu không phải, thì như vậy, công cuộc kiếm tìm lại vẫn phải tiếp tục thôi.
Điều chúng tôi muốn nói, là ba câu thơ trên chính là con mắt nhìn của “người đi”, một cách nhìn nhằm giảm thiểu nỗi nhớ thương, xa xót của “người đi” trước những giọt nước mắt người ở lại. Người ra đi tự tạo ra một tâm thế “dửng dưng”, biết mọi người buồn lắm, nhưng cũng cứ “coi như” không, “coi như” những giọt lệ kia nhỏ xuống bởi những lí do khác chẳng dính gì tới cuộc chia tay, chẳng hề buồn đau vì biệt li người đi, kẻ ở! Đó là nét ngang tàng của “trai thời loạn”, của người anh hùng gác tình riêng vì nghĩa lớn, sẵn sàng “da ngựa bọc thây” vào thời điểm đầy nhạy cảm của lịch sử. Con người có lúc cũng phải bày ra “cú lừa” vô hại rất cần thiết như vậy cho chính mình và người khác. Cái chữ “coi như” ở đây là một chọn lựa bản lĩnh của đấng nam nhi. Cách nhìn ấy đã làm “người đi” nhẹ lòng trên bước trường chinh, dẫu mọi nhớ nhung đâu phải vì thế mà phai nhạt trong lòng. Cách nhìn ấy cũng sẽ làm vợi bớt những giọt lệ của người ở lại, khi đọc thấy trong ánh mắt “người đi” một niềm lạc quan, không vướng bận gánh nặng gia đình …
Ta thử đi vào cụ thể.
Chúng tôi cho rằng lối hiểu lâu nay coi “chiếc lá bay” là chia lìa, có thể không đúng với ý tác giả. Lá bay không phải lá vàng bay, không phải lìa cành, không phải lá rơi tan tác trong thơ tự cổ chí kim ta từng thấy. Bay ở đây rất chủ động, là sự vận động, khác hoàn toàn với rơi rụng, chết chóc; có thể sánh với hình ảnh “cánh hồng bay bổng tuyệt vời” của Nguyễn Du nói về người anh hùng Từ Hải khi dứt áo ra đi, chứ không phải là sự đứt gãy, dứt mình khỏi cành để tìm đến huỷ diệt. Lá bay trong bài thơ mang một vẻ đẹp đầy tráng khí của người ra đi trong mắt người Mẹ, dĩ nhiên ẩn đằng sau đó vẫn là nỗi nhớ thương trong lòng, dù câu thơ không đề cập đến nhưng người đọc phải hiểu! “Người đi” không muốn mang theo ảnh hình nước mắt Mẹ già nên dù biết Mẹ khóc thương nhiều, cũng cứ xem như không. “Người đi” cứ “coi như” Mẹ già xem bản thân mình là gốc cổ thụ, còn đưá con là chiếc lá từ đó bay xa, chứ không phải lìa rơi. Người Mẹ, đối tượng đặc biệt của nỗi nhớ nhung đã được anh dành cho sự bình tâm nhất, cứng cỏi nhất trong lòng mình. Anh cứ xem Mẹ coi chuyến “hành” của người con như chiếc lá rời cành bay xa, mang theo sự sống đến gieo trồng chồi xanh nụ biếc vào một miền đất mới; lá bay như phấn thông vàng phiêu du trong gió đi tìm đất lạ …Chữ không mới, nhưng cách tạo nghĩa thì rất mới, đầy sáng tạo và giàu sức sống.
Hai đối tượng còn lại được nhìn ở góc nhìn khác, trực diện. Người chị khóc “người đi” nhiều lắm, bởi thương đứa em lắm lắm. Chúng tôi không dẫn lại những câu thơ ở phần trên nói về điều này nữa, mà muốn đi ngay vào câu thơ “Chị – thà coi như là hạt bụi”. Tác giả không để cho“Người đi” xem chị là hạt bụi trong nghĩa “thân cát bụi lại trả về cát bụi”; cũng không muốn chị có cái nhìn thê lương đó với đứa em. Theo chúng tôi, người chị dù đã khóc cạn lệ, người em biết, nhưng vẫn tự nhủ, tự động viên mình coi việc người chị rơi chút nước mắt chỉ như bởi do con mắt vương phải hạt bụi mà thôi, đâu phải khóc mình ra đi (Cần thấy trong ca dao xưa, trong thơ và ca từ ngày nay hình ảnh “hạt bụi trong mắt em” xuất hiện khá nhiều). Nghĩa là anh cũng “nhẹ hoá” những giọt lệ trĩu nặng của người chị đi để vững bước lên đường. Lại thêm một “coi như” rất “dửng dưng” và cần thiết nữa.
Cuối cùng, đứa em thơ. Quả tình lâu nay mọi người nói rất rành rọt hình ảnh “chiếc lá bay”, và “hạt bụi”, là mất mát, đau đớn; nhưng đến “hơi rượu say” thì cứ loanh quanh, bí nước, bởi chẳng tìm đâu ra mối liên hệ với sự đau đớn, chia lìa trong đó. “Em thà coi như hơi rượu say” nên hiểu thế nào đây ? Không lẽ nhà thơ “nói bừa” đi cho xong? Thật phiền phức! Đó là hệ quả của cách cắt nghĩa xưa nay không đủ sức thuyết phục.
Vậy hình ảnh “hơi rượu say” nơi đứa em thơ là gì? Phải chăng tác giả muốn diễn đạt chút bàng hoàng ở chú bé trước cuộc chia tay? Đứa em, trong con mắt anh, đỏ hoe đôi mắt bởi thương nhớ người anh đấy, cũng cứ “coi như” do môi nhấp chút rượu nồng khiến “đỏ mặt lên rồi chếnh choáng say” như nhà thơ Nguyễn Bính từng viết mà thôi, đâu có khóc bởi sự chia li!
Ba câu thơ, ba lần chữ “coi như” được lặp lại, rõ ràng đây là dụng ý nghệ thuật của tác giả. Ba câu thơ là sự phát triển của tính cách “người đi” một cách nhất quán: đã ra đi là quyết dứt áo lên đường, dù nhớ nhung bao nhiêu cũng đành “coi như” không!
Thật thú vị khi Mẹ, Chị, Em, mỗi người tác giả dành cho một cái nhìn đúng “của họ”, không thể thay cho nhau được. Một đảo lộn nhỏ cũng làm trật tính nết nhân vật, đó là điều mà lối hiểu truyền thống không có, ví dụ theo cách hiểu xưa nay, ta có thể hoán đổi hình ảnh Mẹ và Chị cho nhau cũng chẳng sao ( Chị – chiếc lá bay ; Mẹ- hạt bụi), đó là điều mà cách hiểu chúng tôi đưa ra không thể nào làm được, và cho thấy nhà thơ không phải vô lí, tuỳ tiện trong dùng hình ảnh, câu chữ trong ba câu thơ phức tạp này.
Một vấn đề đặt ra, là cách nhìn “nhẹ hoá” nỗi đau chia li nói trên có thể đặt vào con mắt Mẹ, Chị và Em được không? Theo chúng tôi là khó, bởi đó là những đối tượng vốn mau nước mắt, mềm yếu; họ đã khóc nhiều ở những câu thơ trước đó rồi, làm sao lại có nổi con mắt rao hoảnh, “dửng dưng” kia được. Tóm lại, đó chỉ duy nhất là cách nhìn của đấng nam nhi bừng bừng khí thế ra đi vì nghĩa lớn. Phải đặt bài thơ trong không khí sôi sục lên đường, “lạnh lùng vung gươm ra sa trường” của bậc trượng phu, mới thấy lối hành xử rắn rỏi, không chút uỷ mị của “người đi” trong mấy câu kết là tất yếu…
Bài thơ, như ai nấy đều biết, là đầy những câu ý tứ sâu xa, rất nhiều nghĩa chìm; vậy chẳng lí gì mấy câu kết lại chỉ có nghĩa đen trần trụi nếu chỉ hiểu như xưa nay (Mẹ như chiếc lá bay; chị như hạt bụi). Theo chúng tôi ba câu thơ ấy không nên nhìn với con mắt thực chứng, tách biệt với toàn bài, mà phải nhất quán trong mạch thơ cả bài, nghĩa là cũng “ý tại ngôn ngoại” như đã trình bày. Hiểu mấy câu thơ như đã trình bày không phải chúng tôi lên gân, cố gán cho bằng được cái gọi là “tinh thần lãng mạn cách mạng” vào, mà xét thấy vấn đề đáng được hiểu như thế, chữ nghĩa, hình ảnh trong thơ ở đây nên hiểu như thế và xin đưa ra một lối lí giải như thế trong tình trạng tiếng Việt vốn dễ nói, khó nghe, không thì không giống nhiều khi rất mông lung, khó đoán định nội dung một cách thấu đáo.
Xưa nay chúng ta coi ba câu thơ trên là cái kết bi thương, và xem đó là một hạn chế, từ đó, bài thơ Tống biệt hành chỉ dừng lại nơi vị trí là cái vạch nối của thơ lãng mạn và thơ cách mạng như ai nấy đã rõ. Điều này xét đến cùng không mấy băn khoăn, chẳng quan trọng gì, song vấn đề ở chỗ bài thơ cần được hiểu đúng như những gì đã thể hiện.
Tp. Đồng Hới, tháng 5.2009-1.2011

Những vần thơ không tiếng súng – Song Nguyễn

30/4- Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Trong cuộc hành quân gian lao và vĩ đại để đi tới Ngày đó, nhiều chiến sỹ đã ngã xuống, trong đó có những nhà văn, nhà thơ cầm súng. Họ hy sinh khi tuổi đời còn rất trẻ – chỉ trên dưới 30, cái tuổi mà có lẽ bút lực còn đang sung, cảm hứng còn ăm ắp. Chiến tranh là vậy, muôn đời không thể khác được cái quy luật nghiệt ngã của sự mất – còn.

Cá nhân tôi cho rằng, rất có thể trong số những nhà văn, nhà thơ Việt Nam đã hy sinh có người đã “tới đỉnh” trong sự nghiệp văn chương của mình và có người vẫn chưa tới, dù tác phẩm để lại đã được thời gian kiểm chứng. Nếu họ còn sống và đi tiếp con đường văn chương thì chúng ta có quyền hy vọng, nhưng giờ đây chỉ là niềm tiếc nuối và đành để lại cho những nhà văn đương thời, nhà văn tương lai lấp đầy vào khoảng trống ấy.
Nhà thơ Lê Anh Xuân, tên tuổi gắn liền với Dáng đứng Việt Nam, Thâm Tâm thì có Tống biệt hành, Nguyễn Mỹ là Cuộc chia ly màu đỏ, Trần Mai Ninh với Nhớ máu… Bên cạnh những thi phẩm mang đậm dấu ấn của cuộc chiến tranh vĩ đại của dân tộc ấy, các nhà thơ còn có những bài thơ của “miền lặng” tiếng súng, phải kể đến Con đường ấy – Nguyễn Mỹ, Chiều mưa đường số 5 – Thâm Tâm, Nước vối quê hương – Nguyễn Trọng Định, Tình sông núi – Trần Mai Ninh, Nhớ mưa quê hương – Lê Anh Xuân.
Ở tuổi 27, Nguyễn Mỹ viết về Con đường ấy – nơi mà tiếng súng đã tạm lùi xa, những người lính ngồi lại với nhau trong không gian yên tĩnh, cảnh vật mùa thu ở chiến trường bỗng ngưng đọng trong một khoảnh khắc, đúng vào lúc cái nhìn của người nghệ sĩ chạm vào:

“Con đường nhỏ
Đi giữa hai hàng cây
Cái con đường ấy mình đầy bóng râm
Con hươu sao đã duỗi nằm
Để nghe những tiếng thì thầm ở trên

Đôi bên là nắng
Thu đã đượm vàng
Nắng soi từng giọt nắng ngân vang
Ở trong nắng có một ngàn cái chuông”.

Hẳn nhiều người còn nhớ “Cái màu đỏ như cái màu đỏ ấy” rất gợi, không thể diễn tả rõ ràng, không thể cắt nghĩa rành mạch, vì đó là màu của tâm trạng. Và cái giọng điệu ấy không biết được ngân thêm hay bị cảm xúc đưa đẩy mà nhà thơ viết “Cái con đường ấy mình đầy bóng râm”. Đọc đến đây, chắc rằng độc giả đã nhận ra giọng điệu riêng của Nguyễn Mỹ dù hai bài thơ với hai nội dung, hai thời điểm khác nhau. Để một con đường như bao nhiêu con đường trên đất nước những ngày mưa bom lửa đạn tưởng chừng thân thuộc quá lại trở thành quá đỗi nên thơ khi mọi tàn khốc của chiến tranh tạm lùi xa. Tất cả như chuyển động thật chậm, khẽ khàng và mong manh trên con đường ấy. Những chiếc lá lấp ló trong khoảng sáng – tối của mặt trời và bóng râm trở thành đốm tròn lung linh như chiếc áo kiêu sa của loài hươu sao gọi mùa thu về. Có lẽ chỉ cần đến câu thơ gợi mở này độc giả đã biết thời gian đang được không gian dung chứa mà chưa cần đến lời khẳng định: “Thu đã đượm vàng”. Ở đây Nguyễn Mỹ không chỉ tả về con đường với sự tinh tế và rung cảm mà nó thể hiện một khát khao về ngày thanh bình.
Cùng viết về cái đẹp của dải đất hình chữ S thân thương, Trần Mai Ninh có những câu thơ:

Trăng nghiêng trên sông Trà Khúc
Mây lồng và nước réo
Nắng bột chen dừa Tam Quan
Gió buồn uốn éo
Bồng Sơn dìu dịu như bài thơ…
An Khê cao vun vút…
Mượn ai kín hộ nước nguồn về đây
Gặp sông Cầu khó rời tay

Trong con mắt thơ của Trần Mai Ninh, mọi thứ rõ ràng hơn. Cái đẹp hiển hiện ngay trước mắt mà không vương, không gợn đến sự tàn sát, đổ vỡ của chiến tranh. Mỗi địa danh là một bức tranh với hình khối và màu sắc khác nhau. Sự đan quện ấy làm cho tiếng thơ trở nên hào sảng, như muốn reo vui trên mỗi mảnh đất mà tác giả từng đặt chân đến. Nó trở thành động lực để gieo vào lòng người chiến sĩ niềm tự hào, quyết bảo vệ cái đẹp ấy. Ở cuối bài thơ “Tình sông núi”, nhà thơ viết: “Khi vui non nước cùng cười/ Khi căm non nước với người đứng lên/ Có mối tình nào hơn thế nữa? Nói bằng súng, bằng gươm sáng rền” như một khẳng định mà không chỉ của riêng tác giả.
Nếu như những nhà thơ chiến sĩ ưu ái dành cho thơ không gian tĩnh lặng, thoát lìa khỏi cuộc chiến tranh thì ngoài vẻ đẹp của thiên nhiên nói trên còn chiếm không nhỏ dành cho nỗi nhớ về hậu phương – nơi có quê hương in dấu tuổi thơ của mỗi người, có mẹ già và những con người để thương để nhớ cho người ra trận. Chắc hẳn nỗi nhớ ấy luôn thường trực trong lòng, như ngọn lửa âm ỉ cháy và chỉ chờ một ngọn gió như nguyên cớ là bùng lên:.

“Đêm rừng già đi nghe mưa rơi
Một mảnh áo tơi che chẳng kín người
Nước chảy qua môi hớp từng ngụm nhỏ
Bỗng nhớ mẹ già ngồi bên ấm giỏ
Nước vối mặn nồng ngọt ngào chuyện cũ”.

Từ ngụm nước vối đơn sơ của “đêm rừng già”, nhà thơ bỗng nhớ đến mẹ và rồi hình ảnh ấy bắc cầu cho hoài niệm. Cây vối già quê nhà “mỗi nhánh mốc gầy đều in dấu tuổi thơ”, và cứ đến mùa lại cần mẫn chắt chiu nhựa sống của mình để cho ra những “Nụ chín vàng mẹ lấy vào dấm ủ/ Hạt khô giòn trong nắng nhỏ xôn xao”, rồi cả những câu chuyện cổ tích về Sơn Tinh – Thuỷ Tinh háo hức trẻ con để đến nỗi “Cô láng giềng lén sang nghe trộm” rồi quên mất “bỗng hỏi dồn: Sơn Tinh thắng hay không?”. Lớp thời gian của quá khứ ấy bỗng như vỡ ra rồi lại được chắp nối thành hình ảnh thật ấm áp và thân thương mà chắc hẳn mối con người dù ở vùng quê khác nhau cùng tập hợp lại về đây, cùng có mặt trên chiến mỗi chiến trường đều có.
Quê hương là nơi chứng kiến những cuộc đưa tiễn của người ra trận nhưng cũng trở thành chốn đi về của người chiến thắng. Vì thế nỗi nhớ quê hương dường như tiếp thêm sức mạnh cho mỗi người con: “Chúng con đi giữa rừng đêm mưa xối/ Lòng vẫn ngọt ngào vị vối quê hương/ Súng chắc trong tay gạo cuốn bên sườn/ Theo bước chân nhau gạt cây băng tới/ Đất nước mình còn đạn thù cày xới/ Giục giã chúng con nhanh bước trong mưa”. Từ nỗi nhớ da diết, đến nỗi nhớ hiện hình như thế trên con đường hành quân, tác giả vừa được gặp lại quê hương và người mẹ trong phút chốc thì giờ đây nỗi nhớ lại phải tạm lắng lại cho những bước chân hành quân gấp gáp, đầy hăm hở quyết tâm. Và trong lúc gấp gáp ấy nhà thơ Nguyễn Trọng Định còn kịp nhắn gửi với mẹ “Mẹ hãy nhắn giùm con cô gái tuổi thơ: – Ta sẽ thắng như Sơn Tinh thủa trước/ Con sẽ về với bao nhiều hẹn ước/ Bên ấm vối nồng kể chuyện những chiến công”.
Cũng từ những cơn mưa chiến trường, nhà thơ Lê Anh Xuân (Nhớ cơn mưa quê hương), và nhà thơ Thâm Tâm (Chiều mưa đường số 5) cũng làm điểm tựa khơi gợi nỗi nhớ để đồng hiện hiện tại – quá khứ. Mưa trong cái nhìn của Thâm Tâm là mưa của “đồng rạ trắng” nơi đất tề lại được mưa và cảnh vật của núi rừng Việt Bắc làm tâm điểm. Tình quân dân gắn bó sâu sắc là ấn tượng khó phai trong lòng người lính và trở thành niềm tiếc nuối với mỗi chặng đường đi qua, mỗi con người đã gặp: “Ôi đâu rồi sơn nhân/ Đâu rồi anh du kích… Đâu rồi “nhình” với “a”…
Với Lê Anh Xuân thì mưa là những kí ức của âm thanh, hình ảnh mà từ tuổi ấu thơ mình đã khám phá: “Ôi cơn mưa quê hương/ đã ru hát hồn ta thủa bé/ Đã thấm nặng lòng ta những tình yêu chớm hé/ Nghe tiếng mưa rơi trên tài chuối, bẹ dừa/ Thấy mặt trời lên khi tạnh những cơn mưa/ Ta yêu quá như lần đầu mới biết/ Ta yêu mưa như yêu gì thân thiết”. Mưa như sự ký thác lưu giữ những thước phim tuổi thơ của những trò chơi, kỷ niệm. Nhưng chưa hết, từ cái hiện tượng bình thường của thiên nhiên ấy đã khiến cho tác giả suy ngẫm, liên tưởng. Từ lúc “phong ba dữ dội/ Mưa đổ ào như thác dồn trăm lối” được liên tưởng “Nghe như tiếng của cha ông dựng nước” hay “Mưa tạnh rồi, như mùa xuân nhẹ trổi”.
Cuối bài thơ Lê Anh Xuân tự đặt cho mình câu hỏi: “Đêm nay ta nằm nghe mưa rơi/ Nghe tiếng trời gầm xa lắc/ Cớ sao lòng lại xót đau?…” Bởi vì nỗi nhớ về quê hương và những người thân yêu máu thịt của mình là nỗi nhớ thiêng liêng mà mỗi con người đều có và được quyền có. Chúng ta tự hào, trân trọng bởi mình được sinh ra từ những con người mộc mạc và bình dị nhất đã làm nên lịch sử, được chôn nhau cắt rốn từ một vùng quê, một địa danh của tổ quốc.
Nếu đọc những bài thơ “Con đường ấy”, “Nước vối quê hương”, “Tình sông núi” khó có thể kết luận tác giả – những nhà thơ ấy là những người chiến sĩ trực tiếp cầm súng lao vào nơi khó khăn nhất của cuộc chiến tranh. Hơn ai hết, họ vẫn là con người với đầy đủ vui, buồn, nhớ, yêu thương và căm thù… Họ có đầy đủ dũng khí của một ngòi bút chiến sĩ và ngòi bút thi sĩ. Điều đó lý giải vì sao ngoài những bài thơ hừng hực như Nhớ máu, hiên ngang như Dáng đứng Việt Nam… nhà thơ lại có Tình sông núi và Nhớ mưa quê hương chất chứa biết bao tâm tình. Đọc những bài thơ như thế, độc giả và thế hệ thanh niên của thời đất nước hoà bình hiểu thêm và hiểu toàn diện hơn về người chiến sĩ một thời.
Giống như bao người chiến sĩ khoác ba lô trên vai và mong ngày được hát lên khúc khải hoàn, họ còn để lại những áng văn thơ giá trị cho cuộc đời. Và chính những tác phẩm ấy đã trở thành tượng đài kỳ vĩ sống mãi trong lòng công chúng, bất tử với thời gian.
Song Nguyễn

Nhớ Chiều mưa đường số 5 – Trương Tham

Chiều mưa đường số 5
Chiều mưa đồng rạ trắng
Đất tề sông quạnh vắng
Ngồi kín dưới nhà gianh
Nghe gió lùa ắng lặng
Chiều mưa đường số 5
Đôi mắt sao đăm đăm
Chứa cả trời mây nặng
Miền Việt Bắc xa xăm ?
Ôi núi rừng thương nhớ
Rét mướt đã hai năm!
Chiều mưa ngàn hoa nở
Hoa phới bay mùa xuân
Bếp sàn gây ngọn lửa
Chén trà ngát tình dân
Chiều mưa lùa các cửa
Ngày bộ đội hành quân
Mẹ già không nói nữa
Nước mắt nhìn rân rân…
Ôi đâu rồi sơn nhân
Đâu rồi anh du kích
Chiều mưa manh áo rách
Vác súng vượt lên đèo
Giao thông qua mũi địch
Đâu rồi “nhình” với “a”
Tiếng cười reo khúc khích
Đón chiến sĩ quay về
Sau trận đi phục kích
Chiều mưa giã gạo mau
Chầy tập đoàn thình thịch
Ôi núi rừng thẳm sâu
Trung đội cũ về đâu
Biết chăng chiều mưa mau
Nơi đây chăn giá ngắt
Nhớ cái rét ban đầu
Thắm mối tình Việt Bắc

(Thâm Tâm)

Lời bình:
Chuyện nào rồi cũng kết thúc, nhưng sau khi kết thúc rồi còn gì gửi lại cho những năm tháng tiếp theo, đó mới là điều đáng nói. Gần sáu mươi năm trôi qua mà đọc lại Chiều mưa đường số 5 của Thâm Tâm vẫn thấy ấm áp bồi hồi. Một số tuyển thơ, một số người giới thiệu bài thơ cho rằng bài thơ được sáng tác 1946. Nhưng theo Nguyễn Tuấn Khoa (con trai của nhà thơ) thì bài thơ được viết năm 1948 trong một chuyến công tác vùng địch hậu Liên khu III. Trong bài thơ nhà thơ có viết: Ôi núi rừng thương nhớ / Rét mướt đã hai năm, cũng như nhiều chi tiết khác thì e rằng bài thơ được viết năm 1948 mới đúng.
Bài thơ phảng phất như thể ngũ ngôn cổ phong mà đặc sệt một không khí của thơ ca kháng Pháp. Từ đất tề sông quạnh vắng đến hình ảnh người du kích với manh áo rách vác súng vượt lên đèo… với tiếng chày tập đoàn giã gạo rập ràng trong chiều mưa nơi rừng núi… Những gì trong những hình ảnh bình dị ấy cứ tỏa lên làm sống dậy không khí của một thời. Đã có bao bài thơ viết về mưa nổi tiếng: Buồn đêm mưa của Huy Cận. Trời mưa ở Huế của Nguyễn Bính …
Thâm Tâm có cách viết riêng độc đáo của mình. Hình như khi nào chưa phát hiện được điều gì mới mẻ độc đáo nhà thơ không làm thơ. Cho nên thơ Thâm Tâm để lại không nhiều mà mỗi bài đều gửi lại những suy nghĩ tình cảm, giọng điệu khó quên. Từ một chiều mưa giá lạnh, hoang vắng đến rợn người trên đất tề đã làm thức dậy những ấn tượng về những chiều mưa nơi núi rừng Việt Bắc giữa tâm hồn nhà thơ. Một chiều mưa xuân: Chiều mưa ngàn hoa nở… Một chiều mưa mẹ già tiễn bộ đội hành quân: Chiều mưa lùa các cửa… Rồi Chiều mưa giã gạo mau … Những chiều mưa có khoảng cách về không gian, thời gian được gọi về kết lại thành một bài thơ hoàn chỉnh giống như những hạt ngọc mến thương kết lại với nhau thành xâu chuỗi. Mỗi chiều mưa là một nỗi nhớ thương về cảnh về người nơi chiến khu kháng chiến. Chiều mưa nào cũng có những phát hiện tinh vi. Trong chiều mưa xuân “ngàn hoa nở”, “hoa phới bay mùa xuân”. Hồn xuân từ ngàn hoa nhẹ nhàng bay lên lan tỏa cả núi rừng chỉ gửi lại chút hương tình nồng ấm nơi chén trà với ngọn lửa vừa “gây” trên bếp sàn. Bà mẹ tiễn bộ đội hành quân “chiều mưa lùa các cửa”, như sự trống vắng ở trong lòng. Rồi trong lặng lẽ hiện lên “nước mắt nhìn rân rân”. Có nỗi nhớ đằm xuống, có nỗi nhớ âm thầm cất lên thành lời: Đâu rồi anh du kích… Đâu rồi “nhình” với “a”… Đơn vị cũ về đâu…

Mỗi câu hỏi là một ấn tượng, một nỗi mến thương thắm thiết trong lòng. Từng câu hỏi làm hiện lên những con người thân thương mà hình bóng như được tạc vào trong những chiều mưa. Là người du kích Chiều mưa manh áo rách/ Vác súng vượt lên đèo/ Giao thông qua mũi địch, đầy ấn tượng về những gian khổ, mà anh dũng quật cường. Phía sau câu hỏi bật lên tiếng cười trong trẻo đón bộ đội trở về trong chiến thắng. Nhìn thấy mưa rơi xuống trong chiều, nghe tiếng chày giã gạo mau… nhà thơ như dành cả tâm hồn để cảm nhận mến thương cuộc sống. Những chiều mưa được kết lại làm hiện lên bức tranh đời thường trong cuộc sống kháng chiến ở chiến khu Việt Bắc bấy giờ. Gian khổ, rét mướt, nhưng ấm cúng nặng tình nặng nghĩa. Tất cả đã trở thành ấn tượng mến thương không phai trong tâm hồn nhà thơ. Với Chiều mưa đường số 5 thơ Thâm Tâm đã thực sự bước vào thế giới thơ ca của một thời đại mới: Thơ ca kháng chiến chống Pháp. Cũng như những bài thơ thất ngôn ngũ ngôn nổi tiếng của mình, nhà thơ có lối gieo vần rất riêng góp phần tạo nên giai điệu riêng của thơ Thâm Tâm, nhà thơ thường sử dụng những thanh trắc cao hoặc những thanh trắc không cao không thấp tiếp nối với những phù bình thanh. Cứ như thế nối tiếp trong suốt bài thơ. Rồi bất chợt một thanh trắc thấp như rơi xuống cắm sâu vào cảm giác khó quên. Lối gieo vần ấy khi như đưa vút lên, khi gợi ra cảm giác chơi vơi bồng bềnh, khi thì như giọt sương gieo nặng xuống tâm tư, để lại một dư ba khó tả. Như gặp lại một vầng trăng cũ, mà ánh trăng vẫn rạng rỡ, ấm cúng lạ lùng bởi cái tình, cái nghĩa sâu đậm dành cho cuộc sống con người.

Chiều mưa đường số 5 là một bài thơ hay của nền thơ kháng chiến chống Pháp. Năm 1940, Thâm Tâm viết Tống biệt hành, tiễn một người bạn quyết tâm giã biệt gia đình ra đi vì chí lớn trong đời… Mấy năm sau nhà thơ lại lên đường đi vào cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc. Không hiểu người bạn của nhà thơ đưa tiễn ngày ấy có trở về hay không? Còn nhà thơ mãi mãi nằm lại trên một nẻo đường kháng chiến. Ông qua đời ở Việt Bắc, mảnh đất mà ông từng ấp iu thương nhớ những chiều mưa. Nhà thơ đã đi và đã đến.

Quy Nhơn tháng 8/2006

Đưa người ta không đưa qua sông – Mai Văn Hoan

.Đưa người ta không đưa qua sông. Sao có tiếng sóng ở trong lòng?…
TỐNG BIỆT HÀNH
Đưa người ta không đưa qua sông
Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
Bóng chiều không thắm, không vàng vọt
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?

Đưa người, ta chỉ đưa người ấy
Một giã gia đình, một dửng dưng…
Li khách! Li khách! Con đường nhỏ,
Chí nhớn chưa về bàn tay không,
Thì không bao giờ nói trở lại!
Ba năm mẹ già cũng đừng mong.

Ta biết người buồn chiều hôm trước
Bây giờ mùa hạ sen nở nốt,
Một chị, hai chị cũng như sen,
Khuyên nốt em trai dòng lệ sót.

Ta biết người buồn sáng hôm nay
Giời chưa mùa thu tươi lắm thay,
Em nhỏ ngây thơ đôi mắt biếc,
Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay…

Người đi? Ừ nhỉ, người đi thật!
Mẹ thà coi như chiếc lá bay,
Chị thà coi như là hạt bụi,
Em thà coi như hơi rượu say…
Thâm Tâm

Khi phân tích, bình giảng, tranh luận về Tống biệt hành của Thâm Tâm, các bài viết thường quan tâm đặc biệt đến hình tượng người ra đi. Người ra đi là ai? Một chiến sĩ cách mạng? Một đấng trượng phu? Hay một chàng lãng tử? Người đưa tiễn cũng được nhắc đến nhưng chưa được quan tâm đúng mức. Trong khi đó theo tôi mấu chốt bài thơ chính lại nằm ở người đưa tiễn. Ngay hình tượng người ra đi cũng chủ yếu được thể hiện qua lời của người đưa tiễn. Ở bài thơ này Thâm Tâm đã nhập thân vào người đưa tiễn. Người đưa tiễn vừa là nhân vật trữ tình vừa là đối tượng trữ tình. “TA” đang nói với “TA”. “TA” đang nói với chính lòng mình. Vấn đề đặt ra là “TA” có quan hệ thế nào với người ra đi? Đó là chìa khóa để giải mã những khoảng trống, những nét mờ trong những câu thơ, đoạn thơ gây nhiều tranh cãi.
Nếu đọc lướt qua Tống biệt hành rất dễ ngộ nhận “TA” là một đấng nam nhi, bởi cái chất giọng rắn rỏi, gân guốc mà Thâm Tâm tạo nên trong bài thơ. Đọc kĩ lại, tôi nhận thấy ngoài chất giọng rắn rỏi, gân guốc, Tống biệt hành còn ẩn chứa một chất giọng khác rất sâu lắng, rất trữ tình và đầy nữ tính. Kiểu xưng “TA” và gọi người ra đi là “NGƯỜI” đã phần nào giúp tôi đoán được mối quan hệ của họ. Tú Xương đã từng nhắn gửi với người mình yêu: “Ta nhớ người xa cách núi sông…”; Nguyễn Du cũng từng để nàng Kiều tự dằn vặt mình: “Vì ta khăng khít cho người dở dang…”. Qua giọng thơ trữ tình, qua cách xưng hô và chủ yếu là qua sự bộc bạch nội tâm trong Tống biệt hành, tôi tin chắc rằng Thâm Tâm đã nhập vai bạn gái của người ra đi. Nàng rất hiểu, rất yêu chàng trai nhưng tình yêu đang còn dồn nén trong lòng. Chính sự dồn nén ấy đã tạo ra chất giọng trữ tình, sâu lắng rất khó nhận diện trong suốt bài thơ.

Hãy thử đọc lại bốn câu mở đầu:

Đưa người ta không đưa qua sông
Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
Bóng chiều không thắm, không vàng vọt,
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?

Đôi “mắt trong” chứa đầy “hoàng hôn” kia chỉ có thể là mắt của phái đẹp! Nếu nói đây là mắt của “em nhỏ ngây thơ” thì không hợp với hai câu trên. “Tiếng sóng lòng” và “hoàng hôn” chỉ có “TA” nghe, “TA” thấy, “TA” ngạc nhiên và “TA” tự đặt câu hỏi với chính mình. Có người bắt bẻ: Sao “TA” lại thấy hoàng hôn trong mắt “TA” được? Xin thưa: “Tiếng sóng” và “hoàng hôn” ở đây đâu nghe bằng tai đâu thấy bằng mắt. “Tiếng sóng” và “hoàng hôn” không ở ngoài vào mà từ trong ra. Đó chính là nỗi vấn vương, nỗi buồn mênh mông của người đưa tiễn. Nàng ngạc nhiên chính vì mãi đến lúc đưa tiễn nàng mới cảm hết nỗi trống vắng trong tâm hồn khi biết rằng người mà mình thầm yêu, trộm nhớ ra đi khi không hẹn ngày trở lại.
Nàng tự thú với lòng:

Đưa người, ta chỉ đưa người ấy
Một giã gia đình, một dửng dưng…

“Ta chỉ đưa người ấy” là một cách nói tránh rất tế nhị, rất kín đáo. Điều nàng muốn khẳng định với mình là: ta yêu người ấy! Có điều giữa ta và chàng chưa ai dám thể hiện ra bên ngoài. Cả hai cố làm ra vẻ “dửng dưng”. Những người xung quanh không một ai biết “tiếng sóng” trong lòng và “hoàng hôn” trong mắt người đưa tiễn. Nàng mượn giọng của chàng nói với mẹ “Ba năm mẹ già cũng đừng mong”. Thực ra nàng đang nói với chính mình. Nàng đang linh cảm về nỗi đợi chờ khắc khoải của người thân và cả của chính nàng. Ẩn sau câu thơ mạnh mẽ, dứt khoát kia là nỗi nhói đau của lòng người đưa tiễn. Nàng bộc lộ kín đáo quá nên ít người để ý. Nàng tiếp tục nói với mình:

… Ta biết người buồn chiều hôm trước

… Ta biết người buồn sáng hôm nay…

“Ta biết” chứ không phải “ta thấy”. Nỗi buồn kia chàng có để lộ ra bên ngoài đâu mà có thể thấy. “Ta biết” là vì ta quá hiểu chàng, quá hiểu nội tâm của chàng. Phải là người tri âm, tri kỷ mới biết một cách sâu sắc như vậy. Biết, nên không những nàng cảm thương cho mẹ, cho các chị, cho em chàng mà còn cho chính nàng.
Khổ kết bài thơ vẫn là lời độc thoại của người đưa tiễn:

Người đi? Ừ nhỉ, người đi thực!
Mẹ thà coi như chiếc lá bay,
Chị thà coi như là hạt bụi,
Em thà coi như hơi rượu say.

“Người ấy” đã ra đi mà nàng vẫn không tin. Nhưng sự thực vẫn là sự thực! Sự thực ấy làm lòng nàng quặn thắt. Câu thơ chứa đựng nỗi niềm đầy luyến tiếc, đầy day dứt của người đưa tiễn. Nàng mượn lời chàng để thể hiện cái quyết tâm sắt đá của chàng. Nếu hiểu: xin mẹ hãy coi con như chiếc lá, xin chị hãy coi em như hạt bụi, xin em hãy coi anh như hơi rượu thì vừa không phù hợp với cấu trúc câu thơ lẫn ý đồ của tác giả. Cần phải phân biệt sự khác nhau của hai cách diễn đạt… Nếu người ra đi coi mẹ như chiếc lá, coi chị như hạt bụi, coi em như hơi rượu thì đúng là không lôgíc, không đúng với bản chất của chàng. Nhưng ở đây Thâm Tâm viết: “Mẹ thà coi”… “Chị thà coi”… “Em thà coi”… “Thà coi” có nghĩa là không muốn như vậy, nhưng buộc phải làm như vậy. “Thà chết chứ không chịu làm nô lệ!”. Chết ai có muốn, nhưng sống trong nô lệ còn đau khổ hơn nên thà chết, thà hy sinh để giành cho được độc lập tự do! Chàng đâu có muốn xa mẹ, xa các chị, xa em, xa cái người đang yêu chàng tha thiết nhưng vì tiếng gọi của lý tưởng chàng đành hy sinh tất cả. Nên nhớ rằng đây không phải là lời của người ra đi mà là độc thoại nội tâm của người đưa tiễn. Nàng ý thức được sự hy sinh cao cả của chàng nên không hề trách móc, oán giận chàng. Tất cả những trạng thái tình cảm đó nàng dồn nén vào bên trong, nàng tự biết với lòng mình.
Không tìm hiểu mối quan hệ giữa người ra đi với người đưa tiễn, không đi sâu phân tích nội tâm của người đưa tiễn thì rất khó lí giải được một số câu thơ có vẻ “bí hiểm” trong Tống biệt hành.

MAI VĂN HOAN

Con người lãng mạn trong Tống biệt hành – Trần Hà Nam

Không gian bi tráng. Ly biệt sầu thương. Nỗi buồn thăm thẳm cứ lấn át dần hùng tâm tráng chí người đi bằng cảm giác mất mát, đổ vỡ, hụt hẫng dâng đầy trong những dòng thơ của Tống biệt hành.
Tống biệt hành không nằm trong không khí của những cuộc ra đi của Tây Tiến, Đất Nước của giai đoạn kháng chiến chống Pháp, nên tư cách tráng sĩ của ly khách hiện ra trong bài thơ thuần túy chỉ là hình ảnh con người lãng mạn cá nhân mà thôi. Dẫu rằng trong thực tế, người bạn của Thâm Tâm có thể lên chiến khu, nhưng từ nguyên mẫu đến nhân vật trữ tình trong thơ thường vẫn có khoảng cách nhất định. Huống chi cách xây dựng hình ảnh, khắc họa tâm trạng nhân vật ở đây hoàn toàn thuộc về thủ pháp lãng mạn. Có mượn thơ xưa cái không khí “đưa qua sông” cũng là để phân biệt với người của thời hiện đại không đưa qua sông. Có mượn bóng chiều cũng để nhấn mạnh ngoại cảnh không phải là tác nhân tạo nên nỗi buồn biệt ly, vì bóng chiều không thắm không vàng vọt, không buồn không vui.. Những từ đưa người, ly khách, người buồn, người đi … có thể nhận ra suốt trục dọc của bài thơ và nhấn nhá nhiều lần như một điệp khúc buồn. Sự thay đổi của thời đại và sự khác biệt trong tư tưởng đã làm nên hình bóng con người hiệp sĩ nhưng kiểu người ấy khác hẳn Kinh Kha ngày xưa ra đi diệt trừ bạo chúa. Bởi đọc kỹ những câu thơ Thâm Tâm, ta không biết được người ấy đi đâu, muốn làm gì cụ thể. Tất cả chỉ là để thỏa mãn khát khao :
Chí nhớn chưa về bàn tay không
                             Thì không bao giờ nói trở lại
Nhưng vì một lý tưởng cá nhân để sẵn sàng đánh đổi tất cả, dứt bỏ sợi dây ràng buộc của tình mẫu tử, chị em, anh em, bạn bè… có tàn nhẫn quá chăng? Đứng về lý, tác giả là người đồng tình cùng ly khách, trong những lời cảm khái. Nhưng nếu chỉ có vậy, người ra đi sẽ có bộ dạng của một kép hát trên sân khấu. Thâm Tâm đã nghiêng về mặt tình cảm, hòa nhập với tâm trạng người trong cuộc để diễn tả những khoảnh khắc của chiều hôm trước, sáng hôm nay và của cả buổi chiều hiện tại với nỗi buồn đứt ruột cố nén trong lòng kẻ ra đi. Để biết rằng người ấy không phải là kẻ một dửng dưng . Khổ kết nghẹn ngào như một lời trăng trối gửi về mẹ, chị, em với những hình ảnh so sánh chiếc lá bay, hạt bụi, hơi rượu say đầy những ám ảnh thân phận. Và đó cũng là cách cắt nghĩa cho thái độ dửng dưng đến lạnh lùng trước đó.
Bốn năm sau khi viết Tống biệt hành, Thâm Tâm đã viết Vọng nhân hành (1944) có những câu:
Sông Hồng chẳng phải xưa sông Dịch
Ta ghét hoài câu “nhất khứ hề…”

Có lẽ phải bắt đầu từ tâm thế thời đại ấy, chúng ta mới cắt nghĩa được phần nào tứ thơ của Tống biệt hành. Vào những năm bốn mươi của thế kỷ XX, trên thi đàn lãng mạn Việt Nam, Thâm Tâm, Trần Huyền Trân, Nguyễn Bính có một hơi thơ giống nhau : “Nằm đây thép rỉ son mòn – Cái đi mất mát, cái còn lần khân” (Độc hành ca – Trần Huyền Trân); “Ta đi nhưng biết về đâu chứ – Đã nổi phong yên lộng bốn trời – Thà cứ ở đây ngồi giữa chợ – Uống say mà gọi thế nhân ơi” (Hành phương Nam – Nguyễn Bính). Phải chăng, khi cuộc sống thực trở nên bức bối ngột ngạt, các nhà thơ thời ấy khao khát một cuộc ra đi? Nhưng phần lớn những khúc hành, ca chỉ là một sự giải tỏa tâm trạng bức bối, trong khi cuộc sống thực của các nhà thơ cứ quẩn quanh trong khuôn đời chật hẹp. Tinh thần ấy đã từng được nói lên rất rõ trong thơ Hàn Mặc Tử : “Đi, đi, đi mãi nơi vô định – Tìm cái phi thường, cái ước mơ”(Đời phiêu lãng). Nhân vật người đi trong Tống biệt hành dù có gợi lại không khí cổ xưa, dù cố gắng gượng chống chọi tiếng thổn thức sâu thẳm từ tâm hồn bằng dáng vẻ kiêu dũng bề ngoài, cũng vẫn chỉ là sản phẩm thuần túy lãng mạn. Người đọc thẩm thấu thêm chất “bâng khuâng khó hiểu của thời đại” (Hoài Thanh, Hoài Chân – Thi nhân Việt Nam) từ bài thơ của Thâm Tâm, để trân trọng những tấm lòng biết hướng về những điều cao cả, như một sự phản ứng lại xã hội tầm thường tù túng lúc bấy giờ. Vì vậy nỗi buồn của người đi (cũng là tâm trạng của chính Thâm Tâm) rất đáng quý.
Trần Hà Nam

(Giáo viên trường THPT chuyên Lê Quý Đôn, Qui Nhơn, Bình Định)

Người ra đi có trở lại – Nguyễn Mỹ Trang

Trên mục “tao đàn” của Hương đầu mùa (Vòm xanh lao xao) mở cuộc thi bình thơ với bài Tống biệt hành của Thâm Tâm. HDM kỳ này giới thiệu bài viết của bạn NGUYỄN MỸ TRANG – cháu nội nhà thơ Thâm Tâm. Bài đoạt giải ba cuộc thi. BÚT TÍM

Xuất hiện lần đầu tiên trên báo Tiểu thuyết thứ bảy năm 1940, có thể nói Tống biệt hành là một sáng tác thành công nhất của Thâm Tâm và có lẽ, nó đáng được xếp vào hàng những bài thơ mới hay nhất của nền thơ Việt Nam trước cách mạng.

Nửa thế kỷ qua, đã có biết bao bài phân tích, bình phẩm, biết bao khám phá đầy tinh tế, và cũng có biết bao ý kiến đánh giá rất khác nhau về Tống biệt hành. Phải chăng tất cả bắt nguồn từ cái lạ lùng riêng biệt của bài thơ và tác giả? Đúng như nhận xét của giáo sư Hoàng Ngọc Hiến, “Biệt ly là một chủ đề trung tâm trong sáng tác của Thâm Tâm”, nhưng điều đáng chú ý là ở chỗ, cuộc chia ly trong thơ ông không bi thương đầy nước mắt như cảnh lưu biệt của những kẻ tình nhân, cũng không rầm rộ, hừng hực hào khí như sự lên đường ra mặt trận của các chiến sĩ cách mạng đương thời. Tất cả chỉ là một tình cảm thâm trầm, lắng đọng nhẹ nhàng, một thứ tình cảm rất Thâm Tâm!

Đưa người ta không đưa sang sông
Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
Bóng chiều không thắm, không vàng vọt,
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?

Một bến sông, một buổi hoàng hôn, một người đi, một kẻ ở lại… dường như Thâm Tâm đã là họa sĩ vẽ nên bức tranh chia ly vào lòng người. Hô sóng vào lòng, gọi hoàng hôn lên mắt, Thâm Tâm lại thoắt trở thành nhà phù thủy thổi hồn vào bức tranh ấy. Trong lịch sử văn thơ, chắc chắn “sóng trong lòng” và “hoàng hôn trong mắt” đã xuất hiện ít nhiều đâu đó, nhưng ngoài Thâm Tâm, đã có ngòi bút nào viết nên những câu hỏi tu từ mang đầy tính lãng mạn tuyệt vời như thế hay chưa? Hỏi đấy, mà đâu cần trả lời, bởi hoàng hôn đong đầy “trong mắt trong” chính là nỗi rưng rưng, là niềm xúc động trong lòng người ra đi. Nhưng vì sao tất cả những cảm xúc nội tâm ấy lại được bao bọc bằng một cái vỏ có vẻ như ngang tàng, bất cần đời:

Đưa người, ta chỉ đưa người ấy
Một giã gia đình, một dửng dưng…

khiến cho không ít người đã lầm tưởng rằng người ra đi hoàn toàn “dửng dưng”, đối lập với sự xao xuyến, thảng thốt của kẻ đưa tiễn? Theo tôi, chẳng có lý do gì hơn ngoài cái “chí lớn” của người đi. Cái “chí lớn” ấy có thể khiến con người ta trở nên hùng dũng, dứt khoát đến mức:

Chí lớn chưa về bàn tay không
Thì không bao giờ nói trở lại
Ba năm mẹ già cũng đừng mong

có thể thổi bùng cái chí khí của người trai để “Mẹ thà coi như chiếc lá bay, chị thà coi như là hạt bụi, em thà coi như hơi rượu say”, nhưng lại không thể ngăn được người buồn từ “chiều hôm trước”, buồn tới cả “sáng hôm sau”. Những ý thơ tả tâm trạng người đi đã được đan lồng khéo léo vào cảnh vật, vào thời tiết, thiên nhiên khiến người đọc đôi khi cảm thấy như có một sự đột biến nhưng lại không hề làm rối ý bài thơ. Ai cũng biết rằng cuối hạ sen tàn, nhưng không hẳn là đã hết, ai chẳng hay rằng trời sắp sang thu nhưng vẫn còn “tươi lắm thay”. Bởi cho dù là chỉ còn lại thưa thớt, nhưng những đóa sen muộn mằn vẫn cứ nở và “một chị, hai chị” cũng muộn mằn như sen cuối hạ, những người chị đã khóc cạn nước mắt nhưng vẫn còn lại một “dòng lệ sót” khóc nốt trong ngày đưa tiễn em. Cái “dòng lệ sót” ấy chứa chan bao nỗi thương em, đong đầy bao nỗi nhọc nhằn đời chị, nhưng liệu nó có thể giữ chân người ra đi vì chí lớn hay không? Cũng một mạch thơ ấy, tiết trời sắp sang thu tươi sáng đã gợi sự liên tưởng tới “đôi mắt biếc” ngây thơ của đứa em, nhưng những thương nhớ “gói tròn” trong chiếc khăn tay nhỏ bé kia chẳng thể nào ngăn nổi “Người đi? Ừ nhỉ, người đi thực!”. Cả cuộc chia ly với bao nỗi niềm thương nhớ đã trải dài theo suốt bài thơ, để đến cái phút cuối này chợt giật mình bừng tỉnh, chợt ngỡ ngàng nuối tiếc. Phải chăng tận đáy lòng người đưa tiễn vẫn đọng lại một niềm hy vọng, cho dù ngàn lần mong manh, rằng người đi sẽ ở lại? Nhưng dù sao, cái giây phút thảng thốt cuối cùng này rồi cũng phải qua đi, nhường bước cho cái “chí lớn” bao trùm cả bài thơ. Ở đây, tôi không đồng ý với nhận định rằng: “ở lại thì bế tắc, nhưng ra đi chưa thấy  gì là tươi sáng” (Vũ Quần Phương – Thơ với lời bình, NXB Giáo dục, 1990), bởi người ra đi là người ôm mộng lớn, là người biết hy sinh những tình cảm riêng tư cho sự nghiệp. Hơn nữa, trong cả bài thơ, không có một ý nào khẳng định rằng sự ra đi này là “một đi không trở lại”, điều đó chỉ xảy ra khi “chí lớn chưa về bàn tay không” mà thôi!

Theo tôi, Tống biệt hành là một chiếc cầu nối giữa văn thơ lãng mạn và văn thơ cách mạng, vì thế, cho đến khổ cuối thì từng dòng thơ vẫn toát lên một âm điệu rắn rỏi, dù là sự rắn rỏi trong nỗi bùi ngùi lắng đọng bị kìm nén. Và người đi ngày ấy đã ra đi… Nhưng tôi đã thấy những người ra đi ấy trở về. Họ trở về trong mắt mẹ, trong mắt chị, trong mắt em và trong mắt ai người trông ngóng…

Nguyễn Mỹ Trang
(11B Chuyên Hóa, ĐHTH Hà Nội)
Hoa học trò – Hương đầu mùa sinh viên
Số tháng 2 – 1995, tr. 14-15

Nhà Thơ Thâm Tâm – Vũ Quần Phương

Tên thật là Nguyễn Tuấn Trình. Sinh 12-5-1917 tại Hải Dương. Mất ở Cao Bằng năm 1950. Thâm Tâm viết không nhiều, ông mất sớm, cả đời thơ chưa được hai mươi bài. Nhưng nếu chọn mười bài tiêu biểu của thời kỳ Thơ mới, chắc chắn có Tống biệt hành. Trong kháng chiến chống Pháp, khi nền thơ còn nhiều chập chững, bài thơ Chiều mưa đường số năm đã là bài thơ hay, vững vàng về cốt cách lẫn tình cảm.

Thơ Thâm Tâm mang cốt cách cổ điển, đẫm khí vị bi phẫn giang hồ của một thời đã xa trong lịch sử ở ta hay ở một chân trời khơi gợi những Tần Hán xa vời. Giọng thơ rắn rỏi, tức tưởi. Ông có ba bài viết theo thể hành bộc lộ rõ nhất giọng thơ này Can trường hành, Tống biệt hành, Vọng nhân hành. Hãy xem nhà thơ lãng mạn Việt Nam thời Thơ mới múa bút bên sông Hồng kiểu Kinh Kha múa gươm bên sông Dịch:

Sông Hồng chẳng phải xưa sông Dịch

Ta ghét hoài câu “nhất khứ hề”

Ngoài phố mưa bay: xuân bốc rượu

Tấc lòng mong mỏi cháy tê tê

Trong tình cảnh người mất nước, mất luôn tự do của chí làm trai, Thâm Tâm thường trực một ý chí phá bỏ thực tại bằng mộng giang hồ:

Đất trời rộng quá. Tôi không chịu

Cắm chặt sông đây một cánh bè,

Bằng cơn phẫn chí:

Đau tình không xót bằng đau nghĩa

Tay gầy cũng ném chén vô tri.

Khá nhiều lần Thâm Tâm ném chén trong tiệc rượu. Phẫn chí trong cơn say vì đã cố nén một cơn òa khóc trong lúc tỉnh.

Cuối thu mưa nát lòng dâu bể

Ngày muộn chuông đau chuyện đá vàng.

Thân kiếp chơi vơi trong cõi phi thời gian, dĩ vãng không có, hiện tại cũng không mà tương lai thì mịt mù sương khói.

Hôm qua không có, hôm nay mất

Ai rú trong trời tám hướng sương

Những câu thơ bi phẫn của Thâm Tâm hay lắm vì đó là tình cảm chín nhất của hồn ông. Bi phẫn một chủ thể tài tử:

Múa lưỡi đánh tan ba kẻ sỹ

Mềm môi nốc cạn một vò men

Bi phẫn nhiều khách thể xót đau:

Chim nhạn chim hồng rét mướt bay

Vuốt cọp chân voi còn lận đận

Thằng thí cho nhàm sức võ sinh

Thằng bó văn chương đôi gối hận

Thằng thư trói buộc, thằng giã quê

Thằng phấn son nhơ… chửa một về.

Rồi cả chủ thể lẫn khách thể đều bi phẫn, ấy là Tống biệt hành:

Người đi, ừ nhỉ người đi thực

Mẹ thà coi như chiếc lá bay

Chị thà coi như là hạt bụi

Em thà coi như hơi rượu say.

Trong cả nền thơ thời ấy không ai có giọng bi phẫn “chín” như Thâm Tâm, kể cả Nguyễn Bính, Trần Huyền Trân, hai bạn thơ “áo bào gốc liễu” đồng điệu với ông. Cái “chín” ấy trước hết là ở cái giọng, gồm cả âm lẫn điệu của câu thơ, sau nữa là ở một loạt hình ảnh, hình ảnh thường có tính biểu tượng cao, gợi nhiều liên tưởng lãng mạn, và cuối cùng là ở ngôn ngữ, ngôn ngữ có hơi cổ xưa và nhiều tương phản, cực đoan. Hãy nghe:

Ngậm lời tráng khí, chim bằng ốm

Chuyện lúc thương tâm, gái điếm già

Gió thốc hàng hiên, lười viễn mộng

Mưa rào mặt cát, gợi ly ca

Phiếm du mấy chốc đời như mộng

Ném chén cười cho đã mắt ta

Nhiều lần Thâm Tâm cười ngạo “cái chí lớn” của mình Chí lớn không đầy một tấc gang.

Cười ngạo để giấu nỗi sầu thất bại:

Say ngùi ta đốt tương tư thảo

Bóng khói qua mây lại nhớ mình

Ngay cái mộng ra đi vào năm 1944, thì chí dù đã quyết mà lòng cứ lạnh tê. Ước ao trận gió nổi lên để giũ đi tất cả, nhưng vẫn phải mượn hơi rượu cho khí thế. Khoan nói đến nhận thức chính trị và tình hình thời cuộc, chỉ biết cái tạng cảm xúc của Thâm Tâm là vậy. Nó là cảm xúc lãng mạn. Nó có nguồn gốc từ hiện thực đời sống nhưng khi phát triển nó tựa nhiều lên tưởng tượng, nó cần hư ảo và hoang đường. Đọc loại thơ này đừng sóng nó vào hiện thực sự kiện, đừng lấy sự kiện cụ thể để cắt nghĩa cảm xúc. Làm thế là chặt cánh bay của thơ, hơn thế lại là thơ lãng mạn.

Phải chăng vì tính chất bi phẫn khao khát đổi thay, khao khát cất cánh ấy mà gặp cách mạng, Thâm Tâm sớm đứng vào hàng ngũ, thơ ông từ lãng mạn chuyển sang cách mạng khá êm thấm. Bài thơ Chiều mưa đường số Năm là một ví dụ. Vẫn một giọng thơ nội tâm đắm đuối, bài thơ mưa nhưng gợi được cảm giác ấm trong lòng người, giọng bi phẫn đã thành giọng yêu thương. Bài thơ viết năm 1946, năm 1950, Thâm Tâm mắc bệnh trên đường đi chiến dịch rồi mất. Người đọc không được thấy hết sự phong phú của hồn thơ ông trong chặng mới. Ở giai đoạn trước, ông nhập cuộc muộn, ở giai đoạn sau, ông lại ra đi quá sớm.

Ngót hai chục bài thơ cho một đời thơ tài năng như vậy, có một chất cảm xúc lạ, và riêng như vậy, quả chưa phát tiết được bao nhiêu. Phần tiềm lực còn nhiều quá, thật tiếc!

18-1-2001
VŨ QUẦN PHƯƠNG

Nhà phù thủy hô sóng vào lòng và gọi hoàng hôn lên mắt – Thiên Tướng (Vũ Bằng)

Nào ai có ngờ đâu buổi tiễn đưa hôm ấy lại thành ra thiên thu vĩnh biệt.

Hồi đó, thường thường buổi tối chúng tôi vẫn ngồi uống rượu với nhau, nhắm khoai tây thái mỏng ở nhà Thủy Tạ Bờ Hồ.

Chúng tôi là lớp văn trẻ ở Hà thành, làm mấy tờ Trung Bắc Chủ Nhật, Tiểu Thuyết Thứ Bảy, Phổ Thông Bán Nguyệt San, Ích Hữu, Bắc Hà. Chúng tôi là Nguyễn Dân Giám, Trần Huyền Trân, Thượng Sỹ, Thanh Châu, Ngọc Giao, Nguyễn Trẩm Dự, Nguyễn Tuân, Nguyễn Khánh Đàm, Hiên Chy, Vũ Bằng… Chúng tôi gồm độ chừng mười đứa, sống bừa bãi, lãng mạn, thích văn nghệ hơn ăn, thích chơi đùa hơn sự nghiệp, mai đói không cần nhưng hôm nay có bao nhiêu thì gom lại ăn cho kỳ hết, uống cho kỳ hết, hút cho kỳ hết. Thâm Tâm là một “hội viên” của hội ái hữu do chúng tôi lập nên có vẻ siêng năng nhất, trung thành nhất.

Nghĩa là bất cứ hôm nào nhậu nhẹt, phiện phò cũng có mặt anh.

Đêm ấy, ngồi ở nhà Thủy Tạ, chúng tôi uống rất nhiều “punsô” – tức là một thứ cốc tai có rum, đường, chanh, hâm nóng lên để uống như kiểu uống rượu của anh hùng Lương Sơn Bạc trong Thủy hử. Đến khuya, gió lạnh, anh nào anh nấy say mèm. Thâm Tâm giơ tay lên mời anh em “cạn một hơi” rồi nói:

– Còn đêm nay nữa, mai đi. Bữa rượu này là bữa rượu tạm biệt anh em đấy ạ.

Rồi anh đứng lên, rút tay ở áo choàng ra, huơ lên trời như người múa kiếm trong kịch thơ Bóng giai nhân, ngâm mấy câu bi hùng:

Thế kỷ hai mươi

Đã chết cả loài dơi,

Bay sờ soạng trong hoàng hôn tàn tạ,

Ta nghe hát trong trời xanh, trên hoa lá

Trong tâm tư một khúc hát tinh khôi.

Thế kỷ hai mươi,

Ngươi mang trong lòng ngươi

Bao nhiêu mầm ung độc

Bao nhiêu nụ hồng đời,

Đau thương thế kỷ đà khô cháy

Hoa nở, mùa gây lại giống người.

Những lúc rượu vào, Thâm Tâm hay ngâm như thế. Cho là không lạ, tôi cũng chẳng lưu ý làm gì, không ngờ đến chiều hôm sau thì Thâm Tâm đi thật và đi mãi mãi. Từ lâu, tôi vẫn biết một số lớn anh em Tiểu Thuyết Thứ Bảy vẫn tích cực hoạt động ngầm diệt Nhật và chống Pháp, ngoài mặt thì viết văn bán chữ, nhưng trong thì dâng cả tâm hồn lẫn thể xác cho kháng chiến. Trong các bạn đó, tôi nhớ có Bùi Hiển, Lý Văn Sâm, Nguyễn Tất Thứ, Tô Hoài, Nguyên Hồng, Thâm Tâm, Trần Huyền Trân… nhưng nghĩ rằng có một lúc nào đó Thâm Tâm bỏ hẳn thành, ra bưng, thì quả không ngờ. Tôi có thể quan niệm một Thâm Tâm ngồi ở trong thành hoạt động bí mật, tôi có thể nghĩ đến một Thâm Tâm đi “làm việc ở xa” một đôi tháng lại về… nhưng đi hẳn… thật quả tôi không ngờ, vì nói riêng về vấn đề gia đình, cái gánh của anh mang ở trên vai thật nặng: cha mẹ già, lại thêm ba bốn em, vừa trai vừa gái – mà nhà thì ở thuê, ngoài việc viết mướn của anh ra, cả nhà chỉ còn trông vào việc nhận các sách in của nhà Mai Lĩnh để đóng với một giá tiền công gầy guộc.

Lúc ấy, Thâm Tâm ở nhà Diêm. Cả một gia đình bảy tám người sống chen chúc trong một căn nhà chừng độ hai chục thước vuông, người nào người nấy trông buồn và xanh như thiếu máu. Thường thường, chúng tôi đến thăm thì không có ghế ngồi, anh em phải đứng, vì thế thấy bạn đến thì việc thứ nhất của Thâm Tâm là vơ vội lấy quần áo mặc vào để đi, bất cứ đi đâu cũng được, miễn là đừng có ở nhà.

Về sau này, lúc Nhật sắp đánh Pháp, anh lấy vợ, tính nết vẫn giữ nguyên như thế không thay đổi. Riêng tôi nghĩ thì cái gánh gia đình anh như thế, lại thêm một người vợ mới lấy về, dù sao cũng có một sức khả dĩ kìm anh lại, nhưng hết thảy chúng tôi đều lầm: Thâm Tâm, nhà văn sĩ kiêm thi sĩ, kiêm họa sĩ bé nhỏ đó “lì” và “kín” không thể nào tưởng được. Anh ta đã quyết định điều gì thì không bàn bạc với ai hết, cứ lừ lừ hành động một mình, tuy là vẫn bàn bạc công việc ngắn hạn, dài hạn với anh em để cùng làm, nhưng lát nữa thì bỏ cả đó mà đi luôn và không bao giờ buồn ngó lại.

Từ lúc chia tay nhau ở nhà Thủy Tạ cho đến lúc có tin mất ở bên kia sông Đuống, Thâm Tâm không hề gửi về cho anh em một chữ nào. Thanh Châu, khi ký kết xong Hiệp định Genève, còn biên cho tôi lại ba dòng chữ mến thương, Nguyễn Khánh Đàm còn gửi thư hỏi thăm về rượu, Phùng Bảo Thạch còn khuyên can, Tô Hoài viết thư sáu trang to “tổ bố”, chữ nhỏ li ti như con kiến giải thích tại sao không nên vào Nam với “đế quốc” và “thực dân”, và nhiều bạn khác như Nguyên Hồng, Trần Mai… lại còn sôi máu lên và không tiếc lời mạt sát… Duy chỉ có Thâm Tâm chẳng chửi mắng cũng chẳng thương, cứ ngậm miệng lại như con hến.

Thành thử trong suốt thời gian kháng chiến, tôi không biết tin tức gì về Thâm Tâm. Đến khi anh mất, tôi mới biết là sau khi ở Phú Thọ anh về khu Ba một dạo và vẫn làm văn nghệ, nhưng gia đình anh bây giờ ở đâu, còn bao nhiêu người sống, đã bao nhiêu người chết, người vợ cưới ngày kháng chiến, bây giờ ra thế nào và có cháu nào hay chưa, tuyệt nhiên chẳng có người nào ở đây biết cả.

Ốm đau sầu ít kẻ nâng niu

Cái tin đầu tiên báo Thâm Tâm đã qua đời ở bên kia sông Đuống, lúc tôi còn ở Hà Nội, cho biết anh đã bị bom của thực dân(1). Thôi thì ở trong thời chiến tranh chết vì bom, chết vì bệnh, chết tan xác, chết cháy ra than, chết dưới gầm cầu hay chết trên giường bịnh, chết gì cũng chỉ là chết mà thôi; nhưng riêng trường hợp của Thâm Tâm, tôi không ngờ anh lại sống được đến gần ngày ký Hiệp định Genève. Là vì ngay từ lúc “thiên hạ thái bình”, Nhật chưa tới, Thâm Tâm đã ốm yếu, gầy còm, mang đủ các thứ bịnh trong người. Anh thấp và nhỏ, da xanh mướt, thúng thắng ho luôn. Một vài người nói trắng trợn là anh bị bệnh lao. Riêng tôi không nói ra, nhưng nếu anh có mắc bệnh ấy cũng không có gì lạ, bởi vì Thâm Tâm chẳng khác chi Vũ Trọng Phụng, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc – mà có khi còn khổ hơn Vũ Trọng Phụng chỉ phải nuôi bà và mẹ, chớ Thâm Tâm thì phải lo tới bảy tám người trong gia đình.

Mặc dầu không nói ra, anh em đều biết Thâm Tâm không đủ sống tuy là ông cu, bà cụ và em trai, em gái anh đóng sách, xếp sách tối ngày. Có khi không đủ ăn, thuốc không có uống, nhưng anh không bao giờ phàn nàn than thở với anh em, mỗi khi lĩnh lương Tiểu Thuyết Thứ Bảy hay bán được cuốn sách nào cho Phổ Thông Bán Nguyệt San, Truyền Bá, anh vẫn “le” làm như công tử con nhà giàu, mời anh em đi nhà hàng nhậu nhẹt, có khi đến hết một phần ba phần tư số tiền.

Hình như chỉ có những lúc như thế thì Thâm Tâm thoải mái và phởn phơ trong bụng. Rượu vào độ mươi ly, anh hoàn toàn là một người khác lạ, không âu sầu rầu rĩ nữa, trái lại, hoạt bát, vui vẻ, nói đâu ra đấy và thơ thẩn những khi ấy không biết ở đâu cứ tuôn ra ròng ròng. Tôi không biết các nhà thơ, nhà văn xưa bảy bước nên thơ thì làm ăn thế nào, chứ quả Thâm Tâm lúc say làm thơ rất lẹ. Anh xin một mảnh giấy của nhà hàng, mượn cây viết, vừa uống rượu vừa làm, rồi quăng ra bàn để cho người khác ngâm lên; trong khi ấy anh lại tiếp tục uống, uống đến say mèm ra không còn biết trời đất là gì nữa.

Có một năm, làm xong số Tết Tiểu Thuyết Thứ Bảy rồi, anh em dắt nhau lên “Phở Cháy” phố Hàng Buồm ăn tất niên. Thâm Tâm say quá, ôm lấy Nguyễn Dân Giám ngâm thơ rồi cả hai cùng khóc hu hu lên như hai đứa trẻ. Tôi không hiểu tại sao lại có thể có những chuyện lạ lùng như thế, nhưng tôi yên trí lần ấy cả Nguyễn Dân Giám, tác giả Dưới rặng thông và Thâm Tâm cùng chết, không thể nào sống nổi vì cả hai cùng say đến điên lên, chạy ra giữa đường, đón xe điện lại; xe điện không ngừng, cả hai nhảy cả lên rồi chui vào dưới gầm ghế nằm ngủ, sau anh em phải vực xuống đưa về nhà.

Như trên kia đã nói, Thâm Tâm ốm yếu bịnh tật, nhưng không có một thứ dật lạc nào anh không ham: cô đầu, thuốc phiện, rượu, thuốc lào, thuốc lá… duy chỉ có cờ bạc là không mấy thích. Có lẽ tại vì anh không có tiền, chớ nếu có rủng rỉnh tiền trong túi, nhiều phần chắc chắn là anh cũng ham luôn.

Sống một cuộc đời xô bồ, liều lĩnh, “văng tê” như thế, có người hỏi “thế thì còn thì giờ đâu mà viết?”.

Quả Thâm Tâm là một người muốn tự tử mà chính anh không tự biết: say rượu, say thuốc sáng đêm, bốn năm giờ sáng anh lò dò về ngủ cho đến khi nào thức; thức mà không có anh em đến rủ rê thì cắm đầu cắm cổ viết, viết cả ngày rồi lại chong một ngọn đèn dầu lên viết cả đêm, viết quên chết, hay nói một cách khác, viết chết thôi, viết không đọc lại bao giờ cả. Thơ cũng vậy, tiểu thuyết cũng vậy. Chữ anh nghiêng, nét gầy guộc, trông rõ ràng chớ không lèm nhèm, nguệch ngoạc như đa số các nhà văn khác. Đặc biệt là có truyện anh viết một mạch từ đầu chí cuối không xóa, sửa một chữ nào. Thường thường, thơ có sửa vài ba chữ. Nhưng viết tiểu thuyết thì anh thấy khó khăn lúc bắt đầu; viết không được mấy dòng đầu thì xé bỏ chớ không sửa chữa; được đoạn đầu rồi thế là cứ vậy mà viết ra một mạch cho đến lúc ký cái tên Thâm Tâm uốn éo vào cuối, sau khi đã vẽ lên chữ ký đó hai ngôi sao trên hai chữ a để thay cho dấu ớ (^).

Tại sao ký là Thâm Tâm, lại có chỗ ký là Tuấn Trình?

Tôi không có dịp nào hỏi tại sao tên là Nguyễn Tuấn Trình anh lại ký bút hiệu là Thâm Tâm. Có điển nào không? Ai đặt cho anh tên ấy? Bí mật ấy, Thâm Tâm mang theo với anh lúc từ biệt cõi đời.

Tôi chỉ biết một điều chắc chắn là từ lúc bắt đầu viết bài truyện thứ nhất đăng trên Tiểu Thuyết Thứ Bảy, rồi qua Truyền Bá, Phổ Thông Bán Nguyệt San, Ích Hữu, Bắc Hà, Thâm Tâm không hề tự mình ký là Tuấn Trình. Thế thì tại sao trong Tiểu Thuyết Thứ Bảy lại có truyện ký tên Tuấn Trình? Nguyên do là tại Thâm Tâm viết nhanh mà viết nhiều: viết thơ, viết kịch ngắn, viết tiểu thuyết dài, viết truyện. Có khi anh đưa cho nhà báo cả một tập năm sáu truyện.

Lúc ấy, ông Vũ Đình Long làm chủ nhiệm báo, bận nhiều công việc, trao hết cả phần tòa soạn cho tôi. Theo lẽ thì mỗi kỳ nên chọn của mỗi nhà văn một truyện để cho tờ báo súc tích và mới lạ luôn luôn, nhưng vì tôi biết Thâm Tâm cần tiền hơn các anh em khác nên thỉnh thoảng tôi chọn đăng trong một số, hai bài của Thâm Tâm: hoặc một “truyện ngắn”, một “truyện có thực”, hoặc một “truyện ngắn” và một “kịch ngắn”, và sợ rằng ký cùng một tên Thâm Tâm trong một số báo thì nhàm, tôi đã tự ý sửa cái tên “Thâm Tâm” ra làm “Tuấn Trình” trong một vài ba truyện ngắn hay kịch ngắn.

Giá phải một nhà văn khác thì thế nào cũng hỏi tôi về việc đó, hoặc phàn nàn sao không tham khảo ý kiến trước khi ký là “Tuấn Trình”, nhưng Thâm Tâm thì tuyệt nhiên không bao giờ hỏi cả. Về công việc nhà báo, anh cũng chẳng hỏi “Báo dạo này chạy không?” hay “Lâm Mỹ Hoàng Ba, Lý Văn Sâm, Bùi Hiển, Phan Du viết như thế thì tiền nong ra thế nào?”. Không, Thâm Tâm không hỏi gì hết. Tôi chỉ nhớ thỉnh thoảng anh hỏi tôi: “Có thiếu thơ không?”, và một lần nữa anh hỏi: “Bài truyện viết về nhà văn hết thời, chán đời muốn tự tử, ký tên là Thiên Tướngcó phải là của anh không?”. Tất cả về công việc nhà báo, anh chỉ hỏi như thế, ngoài ra gặp nhau là chỉ nói chuyện chơi bời chè rượu, chớ không đả động gì đến văn nghệ hay lý tưởng gì hết, không nói đến đường lối, chánh sách hay chủ trương gì hết.

Những người ưa nói đến các vấn đề ấy là Nguyễn Duy Diễn, Thanh Châu, Từ Thạch, Nguyễn Tất Thứ, Trần Kim Dần, Thượng Sỹ…

Mà chính tôi, tôi cũng thích lừng khừng, “phờ lếch” như Thâm Tâm là vì tôi vẫn nghĩ rằng đời đã mệt quá rồi, viết lách khổ như chó (nguyên văn của Nguyễn Vỹ), được tí thì giờ rảnh mà lại không tán láo với nhau, cứ lên mặt ông cụ bàn cái này, tính cái kia thì chẳng nên sống làm gì cả. Chính Thâm Tâm có vẻ “ông cụ” hơn ai hết; nhưng thực ra thì tự thâm tâm anh có vẻ không coi cuộc đời có tính cách gì quan trọng hết: phải viết để kiếm tiền thì viết, chớ không phải viết ra là vì “một sứ mệnh thiêng liêng” gì cả, có khi thích quá, để trong lòng không nổi thì viết ra chớ cũng chẳng cần biết viết ra như thế có phải là giúp tay cho nền văn hóa dân tộc hay không, viết ra như thế có phải là bồi bổ cho nền văn nghệ đất nước không.

Con đường đi riêng biệt của Thâm Tâm

Tuy nhiên, đó chỉ là bề ngoài. Bên trong anh hoài bão gì, chủ trương gì, ít có ai hiểu nổi. Duy có một điều tôi biết chắc là dưới cái bề ngoài phóng túng “bất cần đời” ấy, tôi biết chắc là anh đã suy nghĩ, thiết tha nhiều về nghệ thuật, và ngay từ lúc mới bước vào làng văn, anh đã dò dẫm tìm được một con đường riêng biệt để đi và để tiến.

Lúc đó, nước ta sống trong một sự “thái bình giả tạo”. Mỗi ngày, Pháp thực dân mỗi đối xử với dân ta độc ác hơn, dân gian khổ sở khôn cùng, dù rằng lúc đó thế giới đã đến một khúc quanh lịch sử: Đức, Ý, Nhật liên minh mưu đánh thực dân và đế quốc.

Trước sự chuyển mình không thể tránh được của thế giới, phàm người nào có tâm hồn cũng vùng lên chống Pháp, hoặc tiêu cực hoặc tích cực. Do đó một số rất đông nhà ái quốc bị cầm tù, lưu đầy hay tàn sát. Các nhà văn, nhà báo muốn sống để làm tròn sứ mạng đành phải viết một cách tương đối kín đáo, khả dĩ che đậy những ý kiến mình muốn nêu ra dưới những hình thức hoặc vẩn vơ, hoặc lờ mờ, hoặc phóng túng. Điển hình cho những bài văn uất hận với chính thể lúc bấy giờ, mà phải viết bằng những lời lẽ ngoài mặt ôn hòa, Thâm Tâm đã cho ta đọc, về tiểu thuyết, những truyện ngắn như Con vờ đăng ở Tiểu Thuyết Thứ Bảy, có ý ám chỉ đến mưu toan thực dân nhằm diệt chủng Việt Nam, về kịch ngắn như Viễn ly không hứa hẹn về (mà tôi đành phải giữ lại không đăng vì sự sống còn của báo) và về thơ thì như bài Ngậm ngùi cố sự mà lúc bấy giờ ai cũng nhớ và ngâm luôn miệng mấy câu:

Cuối thu, mưa nát lòng dâu bể,

Ngày muộn, chuông đau chuyện đá vàng,

Chán ngán nhân tình, sầu ngất ngất,

Già teo thân thế hận mang mang…

Bây giờ, ngồi viết về Thâm Tâm, tôi có một điều tự thú: nếu tôi có lỗi với Thâm Tâm, và làm hại cho văn nghệ một khía cạnh nào, ấy là tôi đã giữ lại một số truyện ngắn, kịch ngắn của anh không cho đăng tải. Nguyên do, như trên kia đã nói, là sự sống còn của tờ báo; mặt khác, cũng tại vì những truyện và kịch ấy, đối với độc giả lúc bấy giờ tối nghĩa và khó làm cho người ta thưởng thức say sưa. Những kịch và truyện giữ lại đó, tôi giữ ở Hà Nội. Tất cả tội của tôi là không mang theo được vào đây và đó là cả một sự thiệt thòi cho văn nghệ tiền chiến vậy.

Theo chỗ biết của tôi, Thâm Tâm là một người có một cái tài đa diện: cũng như một người làm báo viết về mục gì cũng được, anh viết về đủ loại truyện và kịch: tâm lý xã hội, cổ tích, trào phúng, lịch sử, phong tục… Nhưng đặc điểm của Thâm Tâm là ngay từ lúc bước vào văn nghệ, anh đã biết chọn một con đường riêng biệt để đi: phục vụ một nền văn hóa dân tộc, kết cấu và giọng văn nhuộm màu sắc Đông phương, nhất là Tàu – không lai căng theo Pháp hay theo Mỹ như đa số nhà thơ lúc ấy, thí dụ Nguyễn Tuân (lúc bắt đầu viết văn) hay Xuân Diệu, Cù Huy Cận – mà cũng không bí quá, siêu phàm quá, nhức óc quá như Chế Lan Viên, Hàn Mạc Tử…

Nhiều nhà phê bình hồi đó cho rằng thơ Thâm Tâm làm rung động người ta như thơ Nguyễn Bính. Thực ra, làm thơ rung động như thế chỉ là một khía cạnh cái tài của Thâm Tâm để “chiều thị hiếu người đọc nhất thời”. Những bài thơ đứng đắn của Thâm Tâm đọc lên như thơ Đường vậy, gieo vần chọn chữ rất tài tình, đặc biệt là dùng ít chữ mà nói lên rất nhiều ý nghĩ và hình ảnh. Điển hình cho loại thơ này là bài Tống biệt hành mà các cụ già hồi đó cũng ưa ngâm và không tưởng được tác giả lại là một người mới trên dưới hai mươi lăm tuổi.

Đưa người, ta không đưa qua sông,

Sao có tiếng sóng ở trong lòng?

Bóng chiều không thắm, không vàng vọt,

Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?

Ta biết người buồn chiều hôm trước,

Bây giờ mùa hạ sen nở nốt.

… Ta biết người buồn sáng hôm nay,

Trời chưa mùa thu, tươi lắm thay…

… Người đi? Ừ nhỉ, người đi thực!

Mẹ thà coi như chiếc lá bay,

Chị thà coi như là hạt bụi,

Em thà coi như hơi rượu say!

Bài thơ ấy anh em đều cho là hay, một phần vì biết tâm trạng của Thâm Tâm lúc bấy giờ.

Bấy giờ, Nhật đến Đông Dương gieo xáo trộn, đưa ra chủ trương Đại Đông Á nhưng bên trong thì mưu làm bá chủ Á châu, thi hành chế độ độc tài quân phiệt. Biết bao nhiêu nhà văn chống Pháp đã bị giam cầm chết chóc; đến khi Nhật tới, lại thêm biết bao nhiêu người khác bị tù đầy, hành hạ, chết oan chết uổng… Việt Minh nổi lên lúc đó quả đã là một ốc đảo trong vạn lý sa mạc của đời. Những bài như Vọng nhân hành của Thâm Tâm viết hồi 1941, Tống biệt hành viết năm 1940, Vạn lý trường thành, Tráng ca là những bài mà Thâm Tâm mới thực nói ra lời được những ý nghĩ và hoài bão tiềm tàng từ trước đến nay. Nhưng đặc biệt nhất là trong các bài thơ tình hay thơ yêu nước, Thâm Tâm vẫn giữ nguyên phong độ của một người trẻ tuổi mà chín chắn, say sưa nhưng không bậy bạ, ngả nghiêng mà vẫn đượm mùi Lý Đỗ trong thuật dùng chữ cũng như gợi ý.

Trong Một mảnh tình, Thâm Tâm viết:

Đôi lứa phương tâm, một mảnh tình,

Nhớ trăng, vàng mở vẹn gương trinh,

Chén sen ráo miệng, thề pha lụy;

Quạt trúc trao tay, ước lỗi hình.

Gió trái luống gào duyên cựu mộng,

Dây oan chi riết chí kim sinh,

Say ngùi, ta đốt tương tư thảo,

Bóng khói qua mây, lại nhớ mình…

Thì đến lúc anh lột xác, thơ vẫn hàm súc như thế, trầm trầm như thế, sâu xa nhưng không rầm rộ, làm cho người ta uất ức, phấn khởi nhưng uất ức mang mang chớ không bốc lên như lửa rơm trong một lúc, mà phấn khởi trong chữ Nhân chớ không phấn khởi trong đa sát và oán hận.

Nhà ta cầm đợ tay người,

Kép bông đâu áo, ngọt bùi đâu cơm?

Chông gai đổi dại làm khôn,

Ba vòng mòng sếu liệng tròn lại bay…

Bóng hoa chu giáp vần xoay,

Cánh vàng non nửa đời gầy tả tơi.

Chữ Nhân sáng rực sao trời,

Đường xe mở rộng chân người bước xa.

Theo tôi, bài Vạn lý trường thành gói ghém được hết cả cái quan niệm sống của Thâm Tâm và hoài bão của anh về mặt đường lối chính sách.

Vạn lý trường thành nói về Tần Thủy Hoàng xây thành dài vạn dặm, làm cho dân gian khổ ải, làm cho nhiều xóm thôn hết cả trai vì phải đi làm dân công, nhưng đi là chết, cũng như đi ra trận, đi không bao giờ về, để phục vụ một người, hay một bọn người ngồi trên đầu trên cổ người ta để xây dựng danh lợi cho riêng mình.

Hỡi ơi, huyết hãn triệu lê dân,

Chất lại ngoài biên một triệu lần

Xây trọn Trường thành muôn dặm vững,

Thì muôn trường hận đắp càng căm!

Ta hỏi: nghìn xưa đem máu xương,

Đắp Trường thành để vững ngai vàng

Nhà Tần cũng mất! Và sau đó

Vô dụng, thành kiên cũng đoạn trường.

Và cả Trung Hoa vỡ tựa bình,

Đến giờ Quốc Hận máu còn tanh.

Mà nguồn huyết lệ sao nhân loại,

Tưới mãi không ngừng vạn chiến tranh!

Thơ Thâm Tâm bàng bạc một vị thơ Đường; văn xuôi của anh – kịch ngắn, truyện ngắn – cũng nằm trong tinh thần đó. Người giữ ngựa, Thuốc mê, Thiếp trông chồng cũng đầy một hồn thơ cổ kính như thơ của anh, chữ dùng chọn lựa, văn pháp nhẹ nhàng bóng bảy, văn xuôi mà có những câu hay như một bài thơ, đại khái như trong truyện Thuốc mê tả lại cái cảnh thôn cũ xóm xưa, anh hạ một câu tả cảnh “Buồn teo vó ngựa cảnh khuya…”. Ít chữ mà buồn se sắt quá…

Thâm Tâm và kháng chiến

Như trên kia đã nói, tôi biết Thâm Tâm là người có tâm hồn đã lâu, nhưng vì không có phương châm tranh đấu nên trong thời Pháp thuộc, anh em đành chịu sống một cuộc đời “lấy lệ”, mượn chè rượu giải khuây. Anh sống cực khổ lắm. Trước khi viết Tiểu Thuyết Thứ Bảy Thâm Tâm là một họa sĩ vẽ tranh cho báo, mỗi tháng lấy một số lương “hàn vi” của nhà Mai Lĩnh (lúc ấy xuất bản báo Tiểu Thuyết Thứ Ba) và in truyện vặt bán ba xu một cuốn (mà tôi có viết giúp mấy tập như Thằng Khởi, Hiếp dâm người chết…). Lúc ấy, anh là Tuấn Trình. Bút hiệu Thâm Tâm được sử dụng từ lúc anh bắt đầu viết Tiểu Thuyết Thứ Bảy. Làm Tiểu Thuyết Thứ Bảy thực ra, không đủ sống. Lúc báo còn in nhỏ chưa phát triển mạnh, mỗi người một tháng bán được hai truyện là cùng. Anh em phải viết báo khác; riêng Thâm Tâm không tha thiết với vấn đề sinh kế mấy, có tiền thì đưa về cho gia đình nhưng không có thì ỳ ra mặc kệ; anh chủ trương “Trời sinh voi, Trời sinh cỏ”, chứ cứ sống như “con lươn, chui rúc lấm đầu khổ lắm”.

Một người như anh, lớn lên và trưởng thành trong bất công xã hội, nhất định phải làm cách mạng, “chết thì chết chứ không thể cứ sống mãi thế này”; nhưng phải đợi đến lúc thời cơ thuận lợi, gặp bạn gặp bè mới có thể thực thi ý định. Bài Tống biệt hành, theo tôi biết, làm từ năm 1939, nhưng chỉ đọc cho bạn nghe thôi, đến 1940 mới đăng lên báo. Lúc làm bài này, Thâm Tâm bắt đầu theo kháng chiến… Trần Huyền Trân công tác ở thành. Tô Hoài vào hoạt động ở Nam, Nguyễn Bính ở Trung và Nam, Thâm Tâm cũng vào Nam một dạo… Lúc Việt Minh về Hà Nội, Thâm Tâm vẫn ở bưng thỉnh, thoảng tôi chỉ biết một vài tin về anh và các bạn cũ, tuyệt nhiên không có thư từ gì để lại.

Đến khi Pháp – Việt đánh nhau, anh em chạy ra hậu phương, tôi gặp nhiều bạn cũ ở Việt Bắc, khu Ba, khu Tư, nhưng không gặp Thâm Tâm một lần nào. Tôi không coi việc đó là lạ vì trong thời kỳ ấy, anh em có khi ở cùng một khu mà hàng năm không biết nhau ở đâu, nhưng có một điều tôi hay hỏi thăm bạn bè là tại sao trong khi Nam Cao, Nguyễn Tuân viết báo, in sách hay hoạt động văn nghệ dưới nhiều hình thức khác nhau, tôi không thấy Thâm Tâm đâu hết. Chẳng hiểu có làm văn nghệ nữa không? Chớ nếu vẫn làm văn nghệ thì ít ra tôi cũng phải nhận được một hai bài thơ gửi về thành, như Hoa Thu, hoặc không thế thì tôi cũng phải thấy một cái gì “hay hay” như Đôi mắt của Nam Cao gửi về qua ngả Pháp… Trong suốt thời kỳ kháng chiến, Thâm Tâm còn trước tác nữa không? Nếu trước tác thì viết được những bài thơ gì, tạo nên những cuốn tiểu thuyết gì? Đó là điều mà tất cả anh em đều muốn biết, nhưng chưa có dịp nào biết được.

Nói vậy mà thôi, chớ trước tác gì bây giờ cũng là không. Tôi nhớ lúc còn sống, Thâm Tâm đã ngồi trò chuyện với tôi lâu về cái nghĩa sống chết ở đời. Theo anh, sống ở chết về, bao nhiêu danh vọng, tiền tài đến lúc hai tay buông xuôi cũng là “không” cả, như trong thơ Vạn lý trường thành:

Nghìn thu đi vụt có nghìn tang,

Chia với thành xưa dấu vết tàn…

Ngoại khách ngậm ngùi tìm cố cảnh,

Mấy tầng đổ nát mấy tầng hoang.

Đất đá không bền để kỷ công,

Đến giờ thiêu hủy với non sông,

Họa ra còn sót mươi nền gạch,

Hát với Càn Khôn nắm bụi lòng!

Thâm Tâm đi với kháng chiến, tích cực dự phần chiến đấu cho tự do, độc lập và dân chủ của đất nước, nhưng có lẽ đến lúc bị bịnh tim ở Phú Thọ, gần đất xa trời, quan niệm về sống chết của anh vẫn không thay đổi.

Tôi nghe tin anh mất, buồn thì có buồn, nhưng không day dứt lắm, nhưng tôi chỉ băn khoăn không biết trong những năm cuối cùng của anh thì đời sống ra sao, vợ con thế nào. Ngoài ra, công danh, sự nghiệp – tôi cũng nghĩ như anh – chỉ là cái bọt, cái bèo trên đại dương, còn đấy và mất đấy:

Thở phù hơi rượu đua tranh,

Quăng bay chén khói tan thành trời mưa.

Dặm dài bến đón bờ đưa,

Thuyền ai buồm lái giúp vừa cho nhau.

Kia kìa lũ trước dòng sau,

Trăm sông rồi cũng chung đầu đại dương.

Vẫn biết đời là thế, nhưng còn sống một phút, còn phải làm cho tròn bổn phận làm người, dù đói, dù khổ, dù đa bịnh: Thâm Tâm quả là một con người xứng đáng với bốn chữ “con nhà văn tự”, một người ốm yếu mà can đảm không hai.

“Sông Hồng chẳng phải xưa sông Dịch

Ta ghét hoài câu nhất khứ hề…”.

Một công dân xứng đáng làm bổn phận xong thì nhắm mắt chết êm đềm, không ầm ĩ.

Sài Gòn, 15-3-1970

Văn Học số 103 (15-3-1970)

Nguồn: Vũ Bằng Toàn Tập. Tập 4. Triệu Xuân sưu tầm, biên soạn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.