Danh mục các tác phẩm của Thâm Tâm

Thơ

1. Bán hoa đào
2. Các anh
3. Căm thù
4. Can trường hành
5. Chào Hương Sơn
6. Chết
7. Chiều mưa đường số 5
8. Dang dở
9. Đây cảnh cũ, đâu người xưa
10. Hoa gạo
11. Không đề
12 .Lưu biệt
13. Màu máu Ti gôn
14. Một mảnh tình – Lá quạt hoa quỳ
15. Mơ thuở thanh bình
16. Ngậm ngùi cố sự
17. Ngô sơn vọng nguyệt
18. Ngược gió
19. Tống biệt hành
20. Trả lời của người yêu
21. Tráng ca
22. Vạn lý trường thành
23. Vọng nhân hành

Truyện ngắn

Lời giới thiệu “Truyện ngắn Thâm Tâm”
1. Loài chim mùa vải chín
2. Sáu giờ chiều
3. Một cuộc tiễn hành vô cùng cảm động
4. Chiếc vòng bốn gân máu
5. Gã thanh niên mù ấy là tôi!
6. Quán thu phong đứng bóng tà huy
7. Rắn nó “ngỗng” lại mình!
8. Giờ tan học cuối cùng
9. Cướp! Cướp! Chỉ tại con họa mi!...
10. Hùng
11. Bến trúc trăng vàng nhớ cố nhân
12. Cái nạn thi vị hóa
13. Bông lan trần mộng
14. Ở lưng chừng đồi
15. Giăng soi vườn cải hoa vàng
16. Ôi là mái tóc gió sương!
17. Bài học của đời trong quyển vở
18. Cung đàn ly hương
19. Thanh My
20. Chân sim bóng đá, tiếng ve gợi sầu ...
21. Người chồng vui tính ấy đã buồn
22. Gương mờ
23. Lá quạt hoa quỳ
24. Tâm bệnh đây mà!
25. Bát canh hoa lý
26. Vì chữ T
27. Khà một giấc bên hồng
28. Bán sách cũ
29. Người hủi ở làng Liêu
30. Lầm Dzuỳn khách lai
31. Cái lá rụng
32. Lòng ta đầy sắc tím
33. Gót sen
34. Thiếp trông chàng
35. Cái áo của người đã chết
36. Hãy xếp lại muôn vàn ân ái!
37. Người đẹp
38. Tháng ba sấm động

39. Hoa
40. Một chiều khơi gió
41. Thuở dang tơ
42. Vương một chút thương ai
43. Một mảnh vườn với một người yêu
44. Chước lạ đời
45. Lá bàng vẫn rụng
46. Thư Hùng
47. Bức truyền thần của bà mẹ người thợ vẽ già
48. Cái lấy nỏ của vua An Dương
49. Cái sừng trên đầu sư tử
50. Sâm nhung mấy chuyến lòng đau với tình

Bình luận

  1. Chuyện hoa – Thâm Tâm

Chuyện vừa

  1. Ăn quả nhớ kẻ trồng cây
    2. Bố cái
    3. Bước gian nan của con nắc nẻ
    4. Cái quạt mo
    5. Chim làm tổ
    6. Cóc và ếch tranh hùng
    7. Đời con kiến
    8. Đười ươi giữ ống
    9. Hai cây hoa nhài
    10. Hươu, rím, khách
    11. Linh hồn đá
    12. Mò ngọc trai
    13. Người Giao Chỉ
    14. Ông hoàng rắn
    15. Rồng
    16. Thỏ, chuột và khỉ
    17. Tiên trong giếng thần
    18. Thuốc mê
    19. Bọn trẻ tàn tật
    20. Gánh hát sử Nam
    21. Người giữ ngựa
    22. Thuồng luồng ở nước
    23. Tiếng mùa xuân

Huyền thoại TTKH và Hai sắc hoa Ti-gôn – Thụy Khuê, Đài RFI, Văn học Nghệ thuật

Thụy Khuê

Bài đăng ngày 13/04/2009 Cập nhật lần cuối ngày  13/04/2009 16:02 TU

Hai loại ti gôn hồng và trắng

Hai sắc hoa ty gôn, huyền thoại lãng mạn gắn bó với Thâm Tâm, một trong những nhà thơ tài hoa mệnh yểu thời tiền chiến. TTKh hay Thâm Tâm là người đầu tiên sử dụng hai chữ “người ấy” và đem hình ảnh “hoa ty gôn” vào trong thơ, như một hình tượng nghệ thuật mơ hồ và phiếm định về người tình và cuộc tình tan vỡ.

Trong những bài thơ tác giả ẩn danh hoặc ký tên nhưng không biết rõ người ấy là ai, Hai sắc hoa ty gôn và TTKh là một huyền thoại lãng mạn đã gây mối trắc ẩn cho nhiều thế hệ yêu thơ.

Câu chuyện bắt đầu cách đây 70 năm, ngày 27/9/1937 trên tuần báo Tiểu Thuyết Thứ Bẩy, số 174 xuất bản tại Hà Nội, có đăng truyện ngắn Hoa ty gôn của Thanh Châu, nội dung kể lại mối tình tan vỡ của đôi trai gái ngày trước đã hò hẹn dưới giàn hoa ty gôn. Ít lâu sau, có người đàn bà trẻ, dáng dấp bé nhỏ, nét mắt u buồn, mang đến tòa soạn Tiểu Thuyết Thứ Bẩy một phong bì dán kín, gửi cho ông chủ bút, trong có bài thơ Hai sắc hoa ty gôn, ký tên TTKh. Bài thơ Hai sắc hoa ty gôn được đăng trên Tiểu Thuyết Thứ Bẩy số 179, ra ngày 30/10/1937, và sau đó còn ba bài nữa cũng ký tên TTKh được gửi bằng đường bưu điện đến tòa soạn :

– Bài thơ thứ nhất, Tiểu Thuyết Thứ Bẩy số 182 (20/11/1937),

– Đan áo cho chồng, đăng trên Phụ Nữ Thời Đàm,

– Bài thơ cuối cùng, Tiểu Thuyết Thứ Bẩy, số 217 (23/7/1938).

 

Bài thơ thứ nhất xuất hiện sau Hai sắc hoa ty gôn gần một tháng, và Bài thơ cuối cùng đăng tám tháng sau.

Hoa ti gôn với hai sắc hồng và trằng

Hoa ti gôn với hai sắc hồng và trằng

Ngay khi Hai sắc hoa ty gôn ra đời, giới văn nghệ sĩ đã xôn xao, thi sĩ J. Leiba, người cùng tâm sự với TTKh và là tác giả hai câu thơ nổi tiếng “Người đẹp vẫn thường hay chết yểu. Thi nhân đầu bạc sớm hơn ai”, chép lại nguyên văn bài Hai sắc hoa ty gôn trên Ngọ Báo với lời mở đầu:

Anh chép bài thơ tự trái tim

Của người thiếu phụ lỡ làng duyên

Lời thơ tuyệt vọng ca đau khổ

Yên ủi anh và để tặng em.

 Nguyễn Bính sau khi đọc Bài thơ thứ nhất đã viết bài Dòng dư lệ để tặng TTKh, in lại trong tập Lỡ bước sang ngang và Thâm Tâm có ba bài Màu máu ti gôn, Dang dở Gửi TTKh, và nhiều thế hệ sau còn có những bài thơ khác sụt sùi thương cảm cho số phận TTKh. Vậy TTKh là ai ?

Giọt lệ tương tư mới

Hai sắc hoa ty gôn mở đường cho một lối lãng mạn khác với lãng mạn Đông Hồ, Tương Phố. Có thể nói Hai sắc hoa ty gôngiọt lệ tương tư mới, nơi TTKh, không phải là giọt lệ khóc chồng của Tương Phố, khóc vợ của Đông Hồ, mà là giọt lệ khóc cho tình yêu; hơn thế nữa, khóc người tình ngoài hôn nhân, một đối tượng tự do, phóng khoáng, vượt khỏi khuôn khổ lễ giáo thời bấy giờ. Và lần đầu tiên hai chữ người ấy được chính thức đưa vào thi ca, sau này nó sẽ trở thành “cổ điển”, trở thành ngôn ngữ gối đầu giường của giới trẻ trong nhiều thế hệ :

Một mùa thu trước, mỗi hoàng hôn

Nhặt cánh hoa rơi chẳng thấy buồn,

Nhuộm ánh nắng tà qua mái tóc,

Tôi chờ người đến với yêu đương.

 Người ấy thường hay ngắm lạnh lùng

Dải đường xa vút bóng chiều phong,

Và phương trời thẳm mờ sương, cát,

Tay vít dây hoa trắng chạnh lòng.

 Người ấy thường hay vuốt tóc tôi,

Thở dài trong lúc thấy tôi vui,

Bảo rằng:”Hoa, dáng như tim vỡ,

Anh sợ tình ta cũng vỡ thôi!”

 Thuở ấy, nào tôi đã hiểu gì

Cánh hoa tan tác của sinh ly,

Cho nên cười đáp:”Màu hoa trắng

Là chút long trong chẳng biến suy.”

Đâu biết lần đi một lỡ làng,

Dưới trời đau khổ chết yêu đương.

Người xa xăm quá ! – Tôi buồn lắm,

Trong một ngày vui pháo nhuộm đường…

 Từ đấy, thu rồi, thu lại thu,

Lòng tôi còn giá đến bao giờ

Chồng tôi vẫn biết tôi thương nhớ…

Người ấy, cho nên vẫn hững hờ.

 Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời

Ái ân lạt lẽo của chồng tôi,

Mà từng thu chết, từng thu chết,

Vẫn giấu trong tim bóng “một người”.

 Buồn quá! hôm nay xem tiểu thuyết

Thấy ai cũng ví cánh hoa xưa

Nhưng hồng tựa trái tim tan vỡ.

Và đỏ như màu máu thắm pha !

 Tôi nhớ lời người đã bảo tôi

Một mùa thu trước rất xa xôi…

Đến nay tôi hiểu thì tôi đã,

Làm lỡ tình duyên cũ mất rồi !

 Tôi sợ chiều thu phớt nắng mờ,

Chiều thu, hoa đỏ rụng chiều thu

Gió về lạnh lẽo chân mây vắng,

Người ấy ngang sông đứng ngóng đò.

 Nếu biết rằng tôi đã lấy chồng,

Trời ơi! Người ấy có buồn không ?

Có thầm nghĩ tới loài hoa… vỡ

Tựa trái tim phai, tựa máu hồng ? (1)

 

Người ấy

 Trong văn xuôi Việt Nam, hai chữ người ấy đã được Nguyễn Trọng Quản dùng để chỉ người tình trong truyện ngắn Thày Lazaro Phiền từ 1887. Vậy Nguyễn Trọng Quản là người đầu tiên đưa danh từ Người ấy vào trong văn Việt. Và Thanh Châu xướng lên hình ảnh hoa ty gôn trong truyện ngắn đăng trước bài thơ của TTKh một tháng, trên Tiểu Thuyết Thứ Bẩy.

Nhưng TTKh là người đầu tiên sử dụng hai chữ “người ấy” và hình ảnh “hoa ty gôn” vào thơ, như một hình tượng nghệ thuật mơ hồ và phiếm định về người tình và cuộc tình tan vỡ. Về mặt tâm lý xã hội, người đàn bà có chồng những năm 36 – 37, mấy ai dám nói đến người tình một cách công khai ? TTKh đã viết nên những lời tâm sự của bao nhiêu người đàn bà cùng cảnh ngộ ngang trái, sống trong xã hội Khổng Mạnh đầu thế kỷ :

Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời

Ái ân lạt lẽo của chồng tôi,

Mà từng thu chết, từng thu chết,

Vẫn giấu trong tim bóng “một người”.

 TTKh là ai ?

Trong Bài thơ thứ nhất, in sau Hai sắc hoa ty gôn hai tháng, có những yếu tố xác định rõ hơn về cuộc tình này :

Ở lại vườn Thanh có một mình

Tôi yêu gió rụng lúc tàn canh

Yêu trăng lặng lẽ rơi trên áo

Yêu bóng chim xa nắng lướt mành.

 và nhất là hai câu cuối :

Biết đâu tôi một tâm hồn héo

Bên cạnh chồng nghiêm luống tuổi rồi.

Vườn Thanhchồng nghiêm là hai yếu tố gây tranh luận về nơi xẩy ra cuộc tình và tên người chồng. Vườn Thanh ở đâu? Có phải ở Thanh Hóa không? Và người chồng của TTKh tên là gì ? Có phải là Nghiêm không ?

Đến bài thơ thứ ba, bài Đan áo cho chồng, lời thơ xa xót đầy nước mắt :

Ngoài trời mưa gió xôn xao

Ai đem khóa chết chim vào lồng nghiêm

Ai đem lễ giáo giam em

Sống hờ trọn kiếp trong duyên trái đời.

 Bài thơ cuối cùng có những câu gần như khó hiểu:

Trách ai mang cánh “ti gôn” ấy

Mà viết tình em được ích gì ?

Bởi nếu TTKh là người đem chuyện của mình ra viết thành thơ, thì tại sao nàng lại trách ai ? Vậy ai đây là ai ? Nàng trách chính nàng hay nàng trách người yêu? Nhất là đoạn sau, lời hờn giận càng thêm gay gắt:

Là giết đời nhau đấy biết không ?

Dưới giàn hoa máu tiếng mưa rung

Giận anh em viết dòng dư lệ

Là chút dư hương điệu cuối cùng.

 Tất cả những lời trách móc u uẩn này với nhịp điệu du dương, lời thơ tha thiết, gắn bó, làm cho toàn bộ tác phẩm trở thành huyền thoại.

Nếu so sánh 4 bài thơ ký tên TTKh và 3 bài thơ “trả lời” của Thâm Tâm in trên Tiểu Thuyết Thứ Bẩy sau đó, người ta có thể mở được những nấc cửa đầu tiên vào những bí ẩn này. Bài Gửi TTKH của Thâm Tâm có những câu sau đây:

Tiếng xe trong vết bụi hồng

Nàng đi thuở ấy nhưng trong khói mờ

Tiếng xe trong xác pháo xưa,

Nàng đi có bốn bài thơ trở về

Tiếng xe mở lối vu qui

Nay là tiếng khóc nàng chia cuộc đời!

Miệng chồng, Khánh gắn trên môi

Hình anh, mắt Khánh sáng ngời còn mơ.

Từ ngày đàn chia đường tơ

Sao tôi không biết hững hờ nàng đan

Kéo dài một chiếc áo len

Tơ càng đứt mối, nàng càng nối dây.

Nàng còn gỡ mãi trên tay,

Thì tơ duyên mới đã thay hẳn màu.

Góp hai thứ tóc đôi đầu,

Sao còn đan nối những câu tâm tình?

Khánh ơi còn hỏi gì anh?

Lá rơi đã hết mầu xanh màu vàng.”

….

Thâm Tâm nhắc đến người yêu tên Khánh. Vậy TTKh là gì ? Có phải là những chữ Thâm Tâm – Khánh, viết tắt ? Hay là Tuấn Trình – Khánh (vì Thâm Tâm tên thật là Nguyễn Tuấn Trình). Hay TTKh là Trần Thị Khánh, người yêu của Thâm Tâm ?

Có thể nói hầu hết những nhà biên khảo từ Hoài Thanh, Hoài Chân, trong Thi Nhân Việt Nam (1940), Phạm Thế Ngũ trong Việt Nam Văn Học Sử Giản Ước Tân Biên (1965), Nguyễn Hữu Long, Nguyễn Tấn Trọng trong Việt Nam Thi Nhân Tiền Chiến (1968) … và gần đây trong Tuyển Tập Thơ Mới 1932-1945 Tác Giả và Tác Phẩm do Lại Nguyên Ân và Ý Nhi tập hợp phát hành năm 1992, tất cả đều đánh dấu hỏi về TTKh.

Lập luận của Nguyễn Tấn Long và Nguyễn Hữu Trọng

Nguyễn Tấn Long và Nguyễn Hữu Trọng là hai nhà biên khảo đầu tiên có ý tìm hiểu kỹ nhất về cái mà hai ông gọi là “Nghi án TTKH và Thâm Tâm”. Trong bộ Việt Nam Thi Nhân Tiền Chiến, hai ông đưa ra những nhân chứng và những giả thuyết đã xuất hiện trên báo chí, văn đàn từ năm 38 đến 68 của các ông Giang Tử, Thạch Hồ, Y Châu, Nguyễn Bá Thế, Lê Công Tâm, Anh Đào. Người thì cho rằng TTKh chính là Thâm Tâm. Người lại quả quyết TTKh là Trần Thị Khánh, người yêu của Thâm Tâm.

Ông Giang Tử thuật lại cuộc gặp gỡ với nhà thơ Tế Hanh vào tháng 11 năm 1944 trên chuyến xe đi Quảng Ngãi: “Tế Hanh cho biết TTKh chính là Trần Thị Khánh, người em gái đồng tông với mình ở Thanh Hoá và kể rõ thiên tình hận của nàng và thi sĩ Thâm Tâm. Giả thuyết này không đứng vững vì Tế Hanh không phải người Thanh Hoá mà Quảng Ngãi và vườn Thanh trong bài thơ không chắc đã là Thanh Hoá.

Ông Thạch Hồ và ông Y Châu đều cho biết: TTKh là nhân vật có thật, đã đôi ba lần đến thăm thi sĩ Thâm Tâm ở Khâm Thiên, lúc ông này ở chung với Nguyễn Bính và Trần Huyền Trân (giả thuyết này phù hợp với lời tường thuật của Nguyễn Vỹ sau này).

Ông Nguyễn Bá Thế, tức nhà văn Thế Nguyên lại xác định: TTKh chính là nhà văn Thẩm Thệ Hà, có tên thật là Tạ Thành Kỉnh, TT là Tạ Thành còn K và H là chữ Kỉnh viết tắt. Việc này bị Thẩm Thệ Hà phủ định hoàn toàn.

Nhưng có ba giả thuyết đáng chú ý :

– Trên tạp chí Giáo Dục Phổ Thông, số 49, ra ngày 1/11/1959, tại Sài Gòn, ông Lê Công Tâm cho biết: TTKh chính là thi sĩ Thâm Tâm, người đã dàn cảnh một thiếu phụ bị ép duyên, khóc tình dang dở bằng những bài thơ Hai sắc hoa ty gônBài thơ thứ nhất.

– Báo Sống ra ngày 15/4/1967, ông Nguyễn Tố, xác định đã sống chung với Thâm Tâm năm 1936, cùng với Trần Huyền Trân, Vũ Trọng Can. Thâm Tâm có mấy bài thơ ký tên TTKh như bài Hai sắc hoa ty gôn. Lúc đó Khánh là người mà Thâm Tâm yêu say đắm, lúc Khánh đi lấy chồng, Thâm Tâm đau khổ gần như phát điên. Lũ chúng tôi vừa giễu cợt, vừa khuyên lơn. Chính trong thời gian thất tình, Thâm Tâm viết được mấy bài thơ ký tên TTKh.

– Nhưng trong báo Nhân Loại, bộ mới số 108 ra tháng 7 năm 1958 tại Sàigòn, ông Anh Đào lại đưa ra một thoại mới mà thoại này, theo ông, do chính Thâm Tâm kể lại. Ông Anh Đào kể rằng: Năm 1941, trong một đêm thu lạnh lẽo, ông được ngồi giữa hai nhà thơ Nguyễn Bính và Thâm Tâm bên một bàn đèn thuốc phiện và chính ông được nghe Thâm Tâm tâm sự. Thâm Tâm nói rằng: TTKh. là tên một thiếu phụ mà trước kia tôi yêu. Và Thâm Tâm xác định những bài thơ đăng trên báo là của nàng, và ông Anh Đào kết luận rằng Thâm Tâm xứng đáng là “người ấy” của TTKh.

Sau khi đưa ra các luận chứng và giả thuyết trên đây, Nguyễn Tấn Long và Nguyễn Hữu Trọng, tác giả Việt Nam Thi Nhân Tiền Chiến, kết luận :

TTKh. không thể là sản phẩm tưởng tượng của Thâm Tâm vì đó là nỗi lòng tha thiết của một người, với những vần thơ lâm ly như thế thì người khác không thể viết thay được. Vậy Thâm Tâm là Thâm Tâm và TTKh là TTKh. Hai người có thể là đôi tri kỷ nhưng không thể cùng là một người. Các tác giả Việt Nam Thi Nhân Tiền Chiến muốn đóng hồ sơ nghi án trên một huyền thoại.

Sự xác định của Nguyễn Vỹ

 Nguyễn Vỹ là một trong những nhà thơ tiên phong trong phong trào Thơ Mới. Năm 1970, khi Nguyễn Vỹ xuất bản cuốn Văn Thi Sĩ Tiền Chiến tại Sàigòn, thì ông đã đưa sự thực về Thâm Tâm và TTKh ra ánh sáng.

Trang bià quyển Văn Thi Sĩ Tiền Chiến và bài viết về TTKh của nhà thơ Nguyễn Vỹ
(Nguồn : thinhanquangngai.worldpress.com)

Trang bià quyển Văn Thi Sĩ Tiền Chiến và bài viết về TTKh của nhà thơ Nguyễn Vỹ(Nguồn : thinhanquangngai.worldpress.com)

Như chúng ta đã biết, sau Phan Khôi, Nguyễn Vỹ cùng với Lưu Trọng Lư, Nguyễn Thị Manh Manh, Thế Lữ là những người đã phát triển phong trào Thơ Mới. Nguyễn Vỹ và Mộng Sơn lập trường phái Bạch Nga, chủ trương cách tân thơ, chú trọng đến khía cạnh âm nhạc và hình thức xếp chữ trong thơ. Trường phái Bạch Nga bị Thế Lữ và Hoài Thanh đả kích kịch liệt, thơ Nguyễn Vỹ không được tiếp nhận đúng mức. Đánh giá thơ Nguyễn Vỹ là một vấn đề khác mà chúng tôi không đề cập đến trong bài này. Nguyễn Vỹ là bạn thân của Lan Khai, Lưu Trọng Lư, Trương Tửu và trong cuốn Văn Thi Sĩ Tiền Chiến ông đã vẽ lại chân dung 35 nhà văn, nhà thơ sinh hoạt trong không khí văn học từ đầu thế kỷ đến 1945. Một tư liệu quý cho những người nghiên cứu văn học.

Sau hơn 30 năm im lặng, 1970, một năm trước khi mất, Nguyễn Vỹ đã công bố những lời tâm sự của Thâm Tâm 22 năm sau khi Thâm Tâm qua đời trong bài viết Thâm Tâm và sự thât về TTKh. mà chúng tôi xin lược trình sau đây :

Năm 1936, 37 có xuất hiện ở phố Chợ Hôm, ngoại ô Hà Nội, một nhóm văn sĩ trẻ với bút hiệu là Trần Huyền Trân, Thâm Tâm và một vài người nữa. Ít ai để ý đến họ. Huyền Trân và Thâm Tâm đều mới 18, 19 tuổi. Họ có một tờ tuần báo nhỏ, tên là Bắc Hà ở phố Chợ Hôm. Chủ động trên tờ báo là Trần Huyền Trân. Báo Bắc Hà bán không chạy lắm, tuy có vài mục hài hước, vui, nhờ mấy bức vẽ của Tuấn Trình. Thâm Tâm là bút hiệu của Tuấn Trình. Tuấn Trình vẽ nhiều hơn viết, thỉnh thoảng đăng một bài thơ, vài mẩu truyện ngắn. Đôi khi thấy xuất hiện trên mặt báo vài ba bài thơ có tính cách ca dao, ái tình của Nguyễn Bính học sinh lớp nhất trường tiểu học Hà Đông. Nguyễn Bính thi rớt, nghỉ học luôn.

Tôi – tức là Nguyễn Vỹ – tuy không chơi thân, nhưng quen biết Trần Huyền Trân khá nhiều vì anh ta ở trọ một căn nhà trong ngõ Khâm Thiên, phía sau chợ. Tôi ở một gác trọ của đường Khâm Thiên, gần Ô Chợ Dừa. Đôi khi Trần Huyền Trân nhờ tôi viết bài cho tuần báo Bắc Hà “cho vui” vì không có tiền nhuận bút. Để tỏ tình thông của văn nghệ, tôi có viết một truyện ngắn khôi hài, và chỉ có một lần.

Trong một số báo đặc biệt Mùa Hè, Tuấn Trình có vẽ một cặp Bạch Nga bơi trên Hồ Hoàn Kiếm và ghi ở dưới “Nguyễn Vỹ và Mộng Sơn”.

Tôi quen biết Tuấn Trình là do Trần Huyền Trân giới thiệu. Nhà anh ở Chợ Hôm, cách chợ độ ba, bốn trăm thước. Anh đẹp trai, y phục lúc nào cũng bảnh bao, người có phong độ hào hoa, lịch thiệp. Tôi thấy ở Sàigòn có anh Hoàng Trúc Ly, nhà văn, na ná giống Tuấn Trình về dáng điệu cũng như tính tình, tư cách. Nhiều khi gặp Hoàng Trúc Ly trên đường Bonnard Sàigòn, tôi quên lững, cứ tưởng như gặp Tuấn Trình trên phố Chợ Hôm Hà Nội.

Một buổi chiều gần tối, Tuấn Trình đi lang thang gần chợ Khâm Thiên. Tôi từ Hà Nội về nhà, tôi tưởng anh đến Trần Huyền Trân, nhưng anh bảo: Thằng Huyền Trân nó đi đâu, không có nhà. Tôi rủ anh về gác trọ của tôi ở cuối phố. Hôm ấy, tôi có vài chục bạc trong túi, có thể làm một tiệc bánh giò chả lụa với Tuấn Trình. Tôi bảo anh ở lại ngủ với tôi cho vui. Đêm ấy cao hứng, Tuấn Trình ngà ngà say rượu Văn Điển, kể chuyện tình của anh với cô Khánh cho tôi nghe.

Câu chuyện tình

Trần Thị Khánh là một cô học trò lớp nhất trường tiểu học Sinh Từ. Thi hỏng, cô ở nhà giúp mẹ làm việc nội trợ. Nhà cô cũng ở đường Sinh Từ, ngay cạnh Thanh Giám, nơi đền thờ Khổng Tử.

Thanh Giám là một thắng cảnh Hà Nội, đã liệt vào cổ tích Việt Nam, xây cất từ đời nhà Lý, tu bổ cho tới đời nhà Lê, hình chữ nhật, xung quanh xây tường đá ong, cao độ hai thước Đền thì ở trong cùng, trước đền có Hồ Tròn, hai bên hồ có những tấm bia ghi tên các tiến sĩ đời nhà Lê. Vào Thanh Giám có cổng tam quan lớn, trước cổng có tấm bia đề hai chữ Hán “Hạ mã” và hai trụ cao. Trong vườn trồng rất nhiều cây cổ thụ và các cây kiểng, nơi đây rất yên tĩnh và mát mẻ, cũng là nơi các cặp trai gái hẹn hò tâm sự. Trước kia có một bầy quạ chiều tối bay về đây ngủ, cho nên người Pháp cũng gọi là Pagode des corbeaux. Chùa Quạ, ngoài danh từ lịch sử Temple de Confucius, Đền Khổng Tử.

Cô nữ sinh Trần Thị Khánh là một thiếu nữ đẹp. Tuấn Trình có một người cô, nhà ở phố Chợ Cửa Nam, gần Sinh Từ. Anh thường đến đây thăm cô và trông thấy cô Khánh đi chợ mỗi buổi sáng. Lúc ấy vào khoảng tháng 2 năm 1936, họa sĩ Tuấn Trình -tên gọi hồi đó- mới 19 tuổi, và cô Khánh 17 tuổi. Tuấn Trình mới bắt đầu vẽ và viết chút ít trong tờ tuần báo Bắc Hà của Trần Huyền Trân vừa xuất hiện.

Sau một vài tháng theo dõi, Tuấn Trình làm quen được với cô Khánh và gởi báo Bắc Hà tặng cô. Cô gái 17 tuổi, cảm mến người nghệ sĩ tài hoa, tình yêu chớm nở như cành hoa antigone trắng cũng vừa chớm nở trong tháng đầu hè trước sân nhà cô.

Hoa ti gôn hồng (antigonon leptopus)
(Nguồn : Wikipedia/JM Garg)

Antigone là loại hoa của người Pháp đem qua hồi đầu thế kỷ, không thơm nhưng đẹp. Nó là loại hoa dây, lá giống như lá nho, cho nên ở miền Nam nhiều người gọi là hoa nho. Có hai loại : hoa trắng và hoa hồng. Hoa nở vào đầu mùa hè thành những chùm rất dễ thương, nụ hoa giống hình trái tim nho nhỏ. Ở Hà Nội người ta trồng rất nhiều và bán cũng rất nhiều ở chợ Đồng Xuân, cũng như ở Chợ Hoa, bờ hồ Hoàn Kiếm. Cắm nó vào lọ để phòng khách, nó buông ra một vẻ lãng mạn, khả ái lắm. Người Bắc gọi tắt là hoa ty gôn. Ở phố Sinh Từ, antigone mọc rất nhiều, như trước sân nhà ông Nguyễn Văn Vĩnh và Nguyễn Nhược Pháp. Nhà trọ của Lưu Trọng Lư và Lê Tràng Kiều ở phố Hàm Long có cả một giàn hoa trắng và hồng. Nhưng mùa đông lá rụng, hoa tàn thì không cảnh nào tiêu sơ quạnh quẽ bằng.

Tình yêu của Tuấn Trình và Trần Thị Khánh chớm nở ngay lúc những chùm hoa antigone vừa hé nụ, và chết giữa mùa đông năm đó, trong lúc giàn hoa ty gôn úa tàn, rụng ngập đầy sân. Thời kỳ mơ mộng ngắn ngủi trong mấy tháng hè, sang hết mùa thu, không đem lại chút thỏa mãn nào cho tâm hồn khao khát của Tuấn Trình.

Chính lúc này Tuấn Trình lấy bút hiệu là Thâm Tâm. Một vài bài thơ tình thức đêm làm tặng cô Khánh. Những bài thơ đầu tiên đăng trên tuần báo Bắc Hà đều ký là Thâm Tâm, nhưng các tranh vẽ trong báo vẫn ký Tuấn Trình. Nhưng cô gái 17 tuổi, dè dặt, theo lễ giáo của gia đình, chưa thật bao giờ đáp ứng đúng với tình yêu tha thiết của Tuấn Trình Thâm Tâm.

Trong lúc những cặp tình nhân trẻ trung dắt nhau đi du ngoạn khắp nơi thơ mộng ở Hà Nội và ngoại ô, thì Trần Thị Khánh cứ phải từ chối những lời mời của Thâm Tâm. Cô thường nói: “Thầy mẹ em nghiêm lắm, gia đình em nghiêm lắm.” Lần nào cô Khánh cũng lặp lại chữ nghiêm gia giáo ấy để trả lời kỳ vọng khát khao của người yêu.

Chỉ được hai lần Khánh đến nơi hẹn, nhưng không được lâu. Lần thứ nhất, một đêm trăng, Khánh lẻn băng qua đường vào vườn Thanh Giám. Tuấn Trình đã chờ người yêu nơi đây, dưới bóng cổ thụ. Nhưng cả hai cũng không nói được gì, Khánh run sợ. Tuấn Trình bối rối, tất cả những lời lẽ bay bướm đã sắp sẵn, bây giờ quên hết. Cuối cùng lại trách móc nhau vì những chữ “Thầy mẹ em nghiêm lắm” và rồi Khánh cũng vội vã chạy về nhà.

Lần thứ hai, vườn Thanh Giám đêm ấy cũng ngập ánh trăng thu. Nhiều người nói Thanh là Thanh Hóa, là hoàn toàn sai sự thật. Nhưng thái độ của Khánh lạ lùng, khó hiểu. Hình như Khánh muốn nói với Tuấn Trình một điều gì, nhưng ngại ngùng không nói. Rồi nàng buồn bã hỏi: “Anh định bao giờ đến xin thầy mẹ cho chúng mình ?” Chàng họa sĩ bối rối trước câu hỏi bất ngờ. Chàng lơ đễnh bảo: “Anh chưa nghĩ đến việc ấy, vì…” Câu chuyện bị bỏ dở nơi đây cho đến khi từ giã.

Hai người vẫn thư từ với nhau cho đến một hôm… Tuấn Trình nhận được bức thư của người yêu, không, của người đã hết yêu, báo tin nàng sắp lấy chồng. Thư viết bằng mực tím, trên bốn trang giấy học trò, xé trong một quyển vở Nam Phương Hoàng hậu (loại vở học trò rất thông dụng lúc bấy giờ).

Đại khái trong thư Khánh nhắc lại tình yêu “thơ mộng” của cô với “người nghệ sĩ tài hoa son trẻ”, đó là những chữ cô dùng trong thư. Tình yêu rất đẹp, nhưng vì thầy mẹ của cô rất “nghiêm” theo lễ giáo, nên dù vị hôn phu của cô là một người chỉ mới biết sơ thôi nhưng cô vẫn có “bổn phận phải giữ tròn chữ hiếu”, cô than thở đời cô khổ nên tình duyên ngang trái, cô khóc suốt đêm, v.v… Cuối thư ký tắt Kh.

Tuy Khánh không viết gì về vị hôn phu và ngày cưới, nhưng sau dọ hỏi, Tuấn Trình được biết chồng Khánh là một nhà buôn giàu có ở phố Hàng Ngang, 39 tuổi, đẹp trai, góa vợ và không có con. (Trong câu thơ bên cạnh chồng nghiêm luống tuổi rồi là chỉ sự cách biệt tương đối giữa tuổi 39 của người chồng và tuổi vị thành niên của Khánh). Tiệc cưới rất linh đình, rước dâu bằng 10 chiếc Citroën mới. Cô dâu đeo nữ trang rực rỡ, mặc chiếc áo màu đỏ tươi, lộng lẫy ngồi cạnh người chồng mặc áo gấm xanh.

Đêm trước hôm cô Khánh lên xe hoa, Thâm Tâm tổ chức tại tòa báo Bắc Hà một tiệc thịt chó, uống Mai quế lộ, mời Trần Huyền Trân, Nguyễn Bính và Vũ Trọng Can tham dự. Họ say sưa ngâm thơ, làm thơ, cười đùa cho đến khuya rồi lăn ra ngủ trên đất.

Trái với mọi dự đoán, Khánh rất hạnh phúc với chồng. Người đau khổ là Tuấn Trình Thâm Tâm. Vừa nhớ thương đơn phận, vừa bị mặc cảm của người nghệ sĩ nghèo bị người yêu bỏ rơi, lại còn bị mấy thằng bạn chế nhạo, đùa bỡn, nhất là Vũ Trọng Can.

Vì một chút tự ái văn nghệ, Tuấn Trình đã thức suốt đêm, theo lời anh thuật lại, để làm bài thơ Hai sắc hoa ty gôn, ký tên TTKh, với thâm ý cho Trần Huyền Trân và Vũ Trọng Can tin là của Khánh làm ra để thương tiếc mối tình tan vỡ. Muốn giữ tính cách bí mật, Tuấn Trình nhờ cô em họ chép lại bài thơ trên, dán kín bao thơ và nhờ cô này mang thư đến tòa báo.

Tất nhiên là giọng thơ lãng mạn của Tuấn Trình hoàn toàn khác với lời tâm sự trong bức thư cuối cùng của Khánh báo tin sắp lấy chồng. Cô Khánh không biết làm thơ. Và theo lời Tuấn Trình, cô ghét những bài thơ của Thâm Tâm. Sau khi nhận được bức thư cuối cùng của Khánh, trong thư Khánh tỏ ý không bằng lòng Tuấn Trình đã mượn tên cô để làm thơ kể chuyện tình duyên cũ trên báo, có thể làm hại đến cuộc đời của cô. Trong lá thư phản đối đó, Khánh xưng tôi chứ không xưng em nữa.

Thâm Tâm lấy lại những lời, những chữ trách móc giận dữ của Khánh trong thư để làm Bài thơ cuối cùng ký tên TTKh, với những câu :

Trách ai mang cánh “ti gôn” ấy

Mà viết tình em được ích gì ?

Bài thơ đan áo nay rao bán

Cho khắp người đời thóc mách xem.

Là giết đời nhau đấy biết không ?

Dưới giàn hoa máu tiếng mưa rung

Giận anh em viết dòng dư lệ

Là chút dư hương điệu cuối cùng.

Từ nay anh hãy bán thơ anh

Còn để yên tôi với một mình

 Rồi để đáp lại Bài thơ cuối cùng, Thâm Tâm làm bài Dang dở tặng TTKh, cũng là bài thơ kết thúc niềm đau của mối tình dang dở :

Nhưng anh biết cái gì xưa đã chết,

Anh càng buồn càng muốn kết thành thơ,

Mộng đang xanh, mộng hóa bơ phờ,

Đây bài thơ chót kính dâng tặng bạn.

Huyền thoại Hai sắc hoa ti gôn, sở dĩ được những tên tuổi nổi tiếng của thi ca đương thời phụ hoạ và đứng vững lâu dài trong lòng người đọc, bởi nó chở những đớn đau chân thực của một người tình, dù viết dưới bàn tay trá hình Thâm Tâm. Và cũng nhờ tài năng của Thâm Tâm mà chúng ta có được hai hình tượng mới: người ấyhoa ty gôn. Tính mơ hồ bóng gió của người ấy và cái chết thảm khốc của Antigone ẩn trong một chùm hoa nhỏ, xinh như mộng, càng làm tăng thêm chất bi đát thầm lặng của tình yêu, liệm thêm sự bí mật của những chữ TTKH.

 * Phụ lục

Bài thơ thứ nhất – TTKh (2)

 Thuở trước hồn tôi phơi phới quá

Lòng thơ nguyên vẹn một làn hương

Nhưng nhà nghệ sĩ từ đâu lại

Êm ái trao tôi một vết thương.

Tai ác ngờ đâu gió lại qua

Làm kinh giấc mộng những ngày hoa

Thổi tan tâm điệu du dương trước

Và tiễn người đi bến cát xa.

Ở lại vườn Thanh có một mình

Tôi yêu gió rụng lúc tàn canh

Yêu trăng lặng lẽ rơi trên áo

Yêu bóng chim xa nắng lướt mành.

Và một ngày kia tôi phải yêu

Cả chồng tôi nữa lúc đi theo

Những cô áo đỏ sang nhà khác

Gió hỡi làm sao lạnh rất nhiều.

Từ đấy không mong không dám hẹn

Một lần gặp nữa dưới trăng nghiêm

Nhưng tôi vẫn chắc nơi trời lạ

Người ấy ghi lòng vẫn nhớ em.

Đang lúc lòng tôi muốn tạm yên

Bỗng ai mang lại cánh hoa tim

Cho tôi ép nốt dòng dư lệ

Nhỏ xuống thành thơ khóc chút duyên.

Đẹp gì một mảnh lòng tan vỡ

Đã bọc hoa tàn dấu xác xơ

Tóc úa giết dần đời thiếu phụ

Thì ai trông ngóng chả nên chờ.

Viết đoạn thơ đầu lo ngại quá

Vì tôi còn nhớ hẹn nhau xưa:

“Cố quên đi nhé câm mà nín

Đừng thở than bằng những giọng thơ”.

Tôi run sợ viết lặng im nghe

Tiếng lá thu khô xiết mặt hè

Như tiếng chân người len lén đến

Song đời nào dám gặp ai về.

Tuy thế tôi tin vẫn có người

Thiết tha theo đuổi nữa than ôi

Biết đâu tôi một tâm hồn héo

Bên cạnh chồng nghiêm luống tuổi rồi.

Đan áo cho chồng – TTKh (3)

Chị ơi, nếu chị đã yêu

Đã từng lỡ hái ít nhiều đau thương

Đã xa hẳn quãng đời hương

Đã đem lòng gửi gió sương mịt mùng

Hay chăng chị mỗi chiều đông

Đáng thương những kẻ có chồng như em

Vẫn còn giá lạnh trong tim

Đan đi đan lại áo len cho chồng

Con chim ai nhốt trong lồng

Hạt mưa nó rụng bên sông bơ thờ

Lưng trời nổi tiếng tiêu sơ

Hay đâu gió đã sang bờ ly tan

Tháng ngày miễn cưỡng em đan

Kéo dài một chiếc áo lam cho chồng

Như con chim nhốt trong lồng

Tháng ngày than tiếc ánh hồng nơi nao

Ngoài trời hoa nắng xôn xao

Ai đem khóa chết chim vào lồng nghiêm

Ai đem lễ giáo giam em

Sống hờ hết kiếp trong duyên trái đời

Lòng em khổ lắm chị ơi

Trong bao ngờ vực với lời mỉa mai

Quang cảnh lạ, tháng năm dài

Đêm đêm nằm tưởng ngày mai giật mình.

Bài thơ cuối cùng – TTKh (4)

 Anh hỡi, tháng ngày xa quá nhỉ ?

Một mùa thu cũ một lòng đau…

Ba năm ví biết anh còn nhớ,

Em đã câm lời có nói đâu!

Đã lỡ thôi rồi chuyện biệt ly,

Càng khơi càng thấy lụy từng khi

Trách ai mang cánh “ti gôn” ấy

Mà viết tình em được ích gì?

Chỉ có ba người đã đọc riêng

Bài thơ “đan áo” của chồng em

Bài thơ “đan áo” nay rao bán

Cho khắp người đời thóc mách xem…

Là giết đời nhau đấy biết không ?

…Dưới giàn hoa máu tiếng mưa rung

Giận anh, em viết dòng dư lệ,

Là chút dư hương điệu cuối cùng!

Từ nay anh hãy bán thơ anh

Còn để yên tôi với một mình

Những cánh hoa lòng, hừ! đã ghét

Thì đem mà đổi lấy hư vinh.

Ngang trái đời hoa đã úa rồi,

Từng mùa gió lạnh sắc hương rơi…

Buồng nghiêm thờ thẩn hồn eo hẹp

Đi nhớ người không muốn nhớ lời!

Tôi oán hờn anh mỗi phút giây,

Tôi run sợ viết, bởi rồi đây,

Nếu không yên được thì tôi … chết

Đêm hỡi, làm sao tối thế này ?

Năm lại năm qua cứ muốn yên

Mà phương ngoài gió chẳng làm quên;

Và người vỡ lỡ duyên thầm kín

Lại chính là anh? anh của em!

Tôi biết làm sao được hỡi trời?

Giận anh không nỡ nhớ không thôi!

Mưa buồn mưa hắt trong lòng ướt…

Sợ quá đi, anh… “có một người”!…

 

Gửi T.T. Kh. – Thâm Tâm (5)

 

Các anh hãy uống thật say,

Cho tôi những cốc rượu đầy rồi im

Giờ hình như quá nửa đêm ?

Lòng đau đem lại cái tin cuối mùa

Hơi đàn buồn như trời mưa

Các anh tắt nốt âm thừa đi thôi

Giờ hình như ở ngoài trời

Tiếng xe đã nghiến đã rời rã đi.

 

Hồn tôi lờ mờ sương khuya

Bởi chưng tôi viết bài thơ trả lời

Vâng, tôi biết có một người

Một đêm cố tưởng rằng tôi là chồng

Ðể hôm sau khóc trong lòng

Vâng tôi có biết cánh đồng thời gian

Hôm nay rụng hết lá vàng

Và tôi lỡ chuyến chiều tàn về không.

Tiếng xe trong vết bụi hồng

Nàng đi thuở ấy nhưng trong khói mờ.

Tiếng xe trong xác pháo xưa,

Nàng đi có bốn bài thơ trở về.

Tiếng xe mở lối vu qui

Nay là tiếng khóc nàng chia cuộc đời !

Miệng chồng Khánh gắn trên môi

Hình anh mắt Khánh sáng ngời còn mơ.

Từ ngày đàn chia đường tơ

Sao tôi không biết hững hờ nàng đan.

Kéo dài một chiếc áo len

Tơ càng đứt mối, nàng càng nối giây.

Nàng còn gỡ mãi trên tay

Thì tơ duyên mới đã thay hẳn màu.

Góp hai thứ tóc đôi đầu,

Sao còn đan nối những câu tâm tình ?

Từng năm từng đứa con non

Mỉm cười vá kín vết thương lại lành.

Khánh ơi còn hỏi gì anh?

Xưa tình đã vỡ, nay tình lại nguyên

Em về đan mối tơ duyên

Vào tà áo mới, đừng tìm duyên xưa.

Bao nhiêu giọt lệ còn thừa,

Hãy dành mà khóc những giờ vị vong.

Bao nhiêu giọt lệ còn thừa,

Hãy dâng cho trọn nghĩa chồng, hồn cha.

Nhắc làm chi chuyện đôi ta

Cuộc đời anh đã phong ba dập vùi…

 

Hãy vui lên các anh ơi

Nàng đi, tôi gọi hồn tôi trở về

Tâm hồn lạnh nhạt đêm nghe

Tiếng mùa lá chết đã xê dịch chiều

Giờ hình như gió thổi nhiều

Những loài “hoa máu” đã gieo nốt đời.

Bao nhiêu nghệ sĩ nổi trôi

Sá chi cái đẹp dưới trời mong manh ?

Sá chi những chuyện tâm tình

Lòng đau đem chứa trong bình rượu cay.

 

————————————————————————-

 

(1) Hai sắc hoa ty gôn – TTKH (Tiểu thuyết thứ bảy, số 179, 30/10/1937)

(2) Tiểu thuyết thứ bảy, số 182 ra ngày 20-11-1937)

(3) Phụ nữ thời đàm

(4) Tiểu thuyết thứ bảy, số 217, 23/07/1938)

(5) Tiểu thuyết thứ bảy, số 307, 04/05/1940)

Danh mục một số bài bình luận về thơ Thâm Tâm

1. THÂM TÂM MỘT THỜI VÀ MÃI MÃI – Văn Giá
2. Dòng đi thăm thẳm chia phôi – Nguyễn Thị Minh Thái
3. Thâm Tâm – Thơ với lời bình – Vũ Quần Phương
4. Nhà phù thủy hô sóng vào lòng và gọi hoàng hôn lên mắt – Thiên Tướng
5. Nhà Thơ Thâm Tâm – Vũ Quần Phương
6. Người ra đi có trở lại – Nguyễn Mỹ Trang
7. Con người lãng mạn trong Tống biệt hành – Trần Hà Nam
8. Đưa người ta không đưa qua sông – Mai Văn Hoan
9. Nhớ Chiều mưa đường số 5 – Trương Tham
10. Những vần thơ không tiếng súng – Song Nguyễn
11. Về ba câu kết bài thơ Tống biệt hành – Hoàng Thái Sơn
12. Phục cổ hay nhại cổ – Trường hợp “Tống biệt hành” – Châu Minh Hùng
13. Người ra đi là ai? Đọc Tống biệt hành của Thâm Tâm – Trần Đình Sử
14. Bình giảng bài thơ Tống biệt hành – Bài làm tham khảo:
15. Bình thơ Tống biệt hành – Hoài Linh
16. T.T.Kh là ai? – Hoàng Tiến
17. Chuyển thể bài thơ Tống biệt hành – Phan Ðức, Huệ Thu, Hà Thượng Nhân
18. Người đưa tiễn trong Tống biệt hành – Mai Văn Hoan
19. Thâm Tâm với danh tác “Tống biệt hành” – Huyền Viêm
20. Thâm Tâm một thời và mãi mãi – Văn Giá
21. Thâm Tâm tự tống biệt mình (Về bài thơ TỐNG BIỆT HÀNH của Thâm Tâm) – Vũ Bình Lục
22. Thâm Tâm – Thi nhân Việt Nam
23. Thâm Tâm – Nguyễn Tấn Long, Nguyễn Hữu Trọng
24. Thâm Tâm – Nền và đỉnh – Vương Trí Nhàn
25. Thâm Tâm, thi ca và huyền thoại – Nguyễn Nhã Tiên
26. Tống biệt hành, một bài cổ thi hiện đại không bao giờ cũ – Nguyễn Hàn Chung
27. Thâm Tâm – Không chỉ “Tống biệt hành” – Kiến Văn
28. Tìm hiểu về Thâm Tâm – Bài văn mẫu
29. Chuyên đề: Văn học lãng mạn và hiện thực phê phán (phần thơ): Tống biệt hành – Thâm Tâm 
30. Nhân đọc “Tống biệt hành”, “Vọng nhân hành” cần khắc phục, thống nhất lỗi văn bản – Nguyễn Tý 
31. “Đầy hoàng hôn trong mắt” ai? – Hoàng Ngọc Hiến
32. Để hiểu thêm về Thâm Tâm – Hồng Diệu
33. Ghi thêm về Thâm Tâm và T.T.KH – Mã Giang Lân
34. Hơi rượu Thâm Tâm – Nguyên Sa
35. Thâm Tâm – Nguyễn Tấn Long, Nguyễn Hữu Trọng
36. Tống biệt hành – Khúc hòa tấu trầm hùng bi tráng – Nguyễn Tống
37. NỖI LÒNG UẨN KHÚC CỦA HÌNH TƯỢNG ” NGƯỜI RA ĐI” TRONG BÀI THƠ ” TỐNG BIỆT HÀNH ” CỦA THÂM TÂM – Trần Liên
38. Dòng Thơ Chính Khí thời tiền chiến – Viên Linh
39. Vài suy nghĩ về bài thơ “Tống biệt hành” – Hoàng Trọng Hà
40. Lời bình Tống biệt hành của Đỗ Trọng Khơi
41. Tống biệt hành: Bài ca bi tráng – Nguyễn Cẩm Xuyên
42. Sao có tiếng sóng ở trong lòng? – Khúc Hồng Thiện
43. Tuổi xuân, những trang thơ, những cuộc đời

Ghi thêm về Thâm Tâm và T.T.KH – Mã Giang Lân

40 năm nay, nhà thơ Thâm Tâm đã là “người trong cõi nhớ”. Bạn bè đồng nghiệp của ông như Vũ Cao, Từ Bích Hoàng, Trần Độ, Tô Hoài… đã nhớ và kể lại cuộc đời hoạt động và sáng tác văn thơ của ông với một tình cảm chân thành trân trọng.

Thế nhưng nói đến Thâm Tâm, nhiều người nghĩ ngay đến T.T.Kh. T.T.Kh. là ai? Là người yêu của Thâm Tâm? T.T.Kh. chính là Thâm Tâm? Giữa T.T.Kh. và Thâm Tâm vào những năm 1937-1940 với những bài thơ tình tuyệt vời đã làm cho tên tuổi nhà thơ và nữ sĩ ấy vang vọng mãi trên thi đàn.

Những năm sau này, những đợt sóng, những luồng dư luận khác nhau về nghi vấn văn chương này vẫn dội lên. Một trong những chứng nhân quan trọng để làm rõ vấn đề là Thâm Tâm thì nhà thơ đã hy sinh trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp năm 1950… Ở Sài Gòn trước đây, nhất là năm 1970 người ta không ngớt tung ra những huyền thoại về Thâm Tâm và T.T.Kh. Vũ Bằng là người giỏi bịa chuyện đã làm rùm beng một dạo để tỏ mình là người từng trải, là người hiểu biết. Và trong những dịp ấy nhiều người cũng nhảy ra “ăn theo, bởi vì họ chỉ biết qua nghe, rồi nhặt nhạnh, thêm bớt, viết thành bài làm sang. Báo chí Sài Gòn lúc đó còn công bố thêm nhiều bài thơ giả cũng ký tên là T.T.Kh.

Hai năm nay, khi tập thơ Thâm Tâm ra đời, sự mến mộ của người đọc đối với nhà thơ được khẳng định thêm. Và lại xuất hiện trên báo chí những bài thơ viết say sưa đến quá nhiệt tình. Anh Hoàng Tiến viết liền hai bài. Một bài thơ đăng trên Nhân dân chủ nhật (số 23 tháng 7-1989) kể về T.T.Kh. Anh còn nói bài thơ Các anh in trong tập thơ Thâm Tâm là trích một bài đăng ở Người Hà Nội (2-9-1989) để cung cấp bản đầy đủ Tống biệt hành của Thâm Tâm. Tư liệu anh có là từ nguồn nghe. Hai lần ở hai bài anh đều nói anh “may mắn” được gặp, được nghe cụ Lương Trúc, nhà thơ, bạn Thâm Tâm kể. Anh Hoàng Tiến nói: “Vì trách nhiệm của công việc khảo cứu và biên soạn, cũng như lợi ích của việc làm văn học sử sau này nên anh xin phép nhà thơ Lương Trúc cho công bố toàn bộ bài Tống biệt hành của Thâm Tâm. Đấy là một việc cần thiết và bổ ích (nếu như nghiêm túc, khoa học), chỉ tiếc một điều bằng lối văn lộng ngữ Hoàng Tiến đã đưa ra những nghi ngờ, những điều không có căn cứ. Vậy theo đó mà viết văn học sử, mà khảo cứu thì giấy mực đâu in cho xuể.

Trước khi nói về T.T.Kh, tôi xin có mấy đính chính ở một bài viết ngắn của Hoàng Tiến khi công bố bài Tống biệt hành.

Tập thơ Thâm Tâm do Nhà xuất bản Văn học in năm 1987 sao anh nói là Nhà xuất bản Giáo dục?

Giữa năm 1950 Thâm Tâm đi chiến dịch, làm báo mặt trận và hy sinh ở gần biên giới vì cơn bệnh tai ác, anh chỉ ghi nơi hy sinh: “Ở rừng Việt Bắc”.

Đúng là bài Tống biệt hành có một khổ cuối nữa mà Thi nhân Việt Nam cũng như Thơ Thâm Tâm  không đưa vào. Khổ thơ đó như sau:

Mây thu đầu núi, gió lên trăng
Cơn lạnh chiều nao đổ bóng thầm
Ly khách ven trời nghe muốn khóc
Tiếng đời xô động tiếng hờn căm.

Còn khổ thơ mà anh cung cấp cho bạn đọc là:

Mây thu đầu núi gió lên trăng
Cơn lạnh chiều nao đã đổ thầm
Ngừng ở ven trời nghe tiếng khóc
Tiếng đời xô động tiếng lòng căm.

Tôi thì cho khổ thơ trên chính xác hơn vì đã in trên báo Tiểu thuyết thứ bảy  năm 1940.

Bài Các anh trong tập Thơ Thâm Tâm chỉ có 16 câu (4 khổ) lấy trọn vẹn từ báo Tiểu thuyết thứ bảy ngày 4-5-1940 Hoàng Tiến nghe đâu mà bảo đó chỉ là trích đoạn. Chắc anh tin vào ai đó đã đưa in trên Văn nghệ và nói rằng đây là bài thơ của Thâm Tâm, không có đề, mà ở đây thực ra mở đầu là 8 câu trên và kết thúc là 8 câu sau của bài Các anh, còn ở giữa là 56 câu khác không ăn nhập gì với kết cấu toàn bài. Vẫn bài thơ dài này cộng cả 64 câu, ông Nguyễn Tấn Long trong Việt Nam thi nhân tiền chiến in ở Sài Gòn năm 1968 lại đặt tên là Gửi T.T.Kh. Có lẽ cũng nghe ai nói rồi ghi lại.

Trở lại câu hỏi T.T.Kh. là ai? Tôi xin mách: Thanh Châu chính là người khơi nguồn thiên tình hận này. Năm 1937Tiểu thuyết thứ bảy đăng truyện ngắn Hoa ti-gôn của Thanh Châu kể lại mối tình ngang trái giữa chàng nghệ sĩ và thiếu nữ Mai Hạnh. Họ đã gặp nhau dưới hoa ti-gôn. Nàng sợ bố mẹ khổ tâm, sợ tai tiếng ở đời nên không dám bỏ nhà đi với người yêu – Nàng phải sống gượng ép với một người chồng. Ít ngày sau tòa soạn báo nhận được hai bài thơ Bài thơ thứ nhất và Hai sắc hoa ti-gôn của T.T.Kh. Khi hai bài thơ này được đăng, nhiều người nhận T.T.Kh. là người yêu của mình như Nguyễn Bính, J.Leiba, Thâm Tâm đã làm mấy bài thơ đáp lại tiếng lòng của thiếu nữ, giải bày tâm trạng đau đớn của mình. Trong nhiều bài thơ của Thâm Tâm thường thấy xuất hiện cái màu hoa, dáng hoa ti-gôn “như tim vỡ”.

Trong bài T.T.Kh. là ai? Hoàng Tiến viết T.T.Kh. “về sống ở Thanh Hóa đã bốn năm nay, không biết bà còn hay mất”, cụ Lương Trúc đã có dịp gặp đôi ba lần? Sự thật theo tôi, 50 năm nay đã rồi, T.T.Kh. đến nay vẫn còn là “ẩn số”. Một hồn thơ đầy xúc cảm, một con người cao thượng nói lên nỗi đau đớn của mình một cách tuyệt vời mà lại âm thành, mai danh ẩn tích, để lại cho đời, cho giới mày râu cầm bút biết bao bàng hoàng thương cảm, mến phục.

Một điều cần chú ý: Trước kia bà Thâm Tâm sống và học ở Thanh Hóa, khi xây dựng gia đình với Thâm Tâm thì ở Hà Nội và những năm kháng chiến chống Pháp lại ở Thanh Hóa mãi đến năm 1950 khi nhà thơ hy sinh, bà mới cùng bé Nguyễn Tuấn Khoa, con trai duy nhất lặn lội ra Việt Bắc, bà Thâm Tâm hiện nay vẫn đang ở Hà Nội.

T.T.Kh. là ai? Là Trần Thị Khánh, là Thâm Tâm – Khánh là Tuấn Trình – Khánh (vì tên thật là Thâm Tâm là Nguyễn Tuấn Trình)… Theo Việt Nam thi nhân tiền chiến (Sài Gòn 1968) có người còn nói T.T.Kh. chính là Trần Thị Khánh, người em gái đồng tông với nhà thơ Tế Hanh ở Thanh Hóa vân vân và vân vân. Tôi có thể nêu lên rất nhiều những huyền thoại huyễn hoặc nữa xung quanh cái tên T.T.Kh. này.

T.T.Kh. là ai? Là một thiếu phụ, nhưng chưa bao giờ xuất đầu lộ diện. Chỉ lộ ra cái tên T.T.Kh. Cái tên Trần Thị Khánh cũng là do suy luận, đoán. Theo tôi mọi cái tên diễn dịch, khẳng định ở trên đều là của giả. Ngay cả hai bài thơ tiếp sau là Đan áo cho chồng và Bài thơ cuối cùng dù được ký tên là T.T.Kh. cũng rất có thể là của giả, bởi vì xét về ý tứ, nghệ thuật thơ cũng có những mâu thuẫn, những điểm đáng ngờ.

Mã Giang Lân
(VĂN NGHỆ số 13 tháng 3-90)

Nhân đọc “Tống biệt hành”, “Vọng nhân hành” cần khắc phục, thống nhất lỗi văn bản – Nguyễn Tý

Thật thú vị khi ngẫu nhiên, tôi đọc lại bài “Muốn giảng “Tống biệt hành” nên đọc “Vọng nhân hành” đúng tròn một năm trên Văn Nghệ số 49 (9-12-2006), trang 2 của tác giả Nguyễn Cao Sơn. Bài báo in trọn một trang, trong đó có in lại nguyên văn bài Vọng nhân hành nhưng có nhiều lỗi không thống nhất trong bài Nguyễn Cao Sơn viết và văn bản.

Thứ nhất về bài viết của ông Nguyễn Cao Sơn:

“Mài gươm nét mác, chữ nhân già
rồi: Chim nhạn, chim hồng nét mướt bay
hay: Thằng phấn son nhơ… chửa kịp về!

Sau đó, ông lại viết: “Đủ khắp lượt, không quên ai, bỏ ai. Tối cứ tin rằng, năm 1941 ấy, đọc và thấy có mình trong đoạn thơ này không ít nhà thơ tài danh, bất đắc chí đã… khóc!?!”. Vậy năm 1941 là để chỉ bài Tống biệt hành hay Vọng nhân hành đây. Vì ông đang trích dẫn những câu thơ trong bài Vọng nhân hành (?!).
lại đến: Ôi ơi! bạn tóc ngoài trôi giạt

Thứ hai đối chiếu với văn bản (gọi tắt của bài “Vọng nhân hành”):
Mày gươm/ rét mướt/ chửa một / Ối ơi.

Rõ ràng chưa thống nhất về mặt văn bản trên tổng thể một bài báo. Từ đó, gây hoang mang cho người đọc, không biết ông Nguyễn Cao Sơn hay văn bản ai đúng ai sai. Hay tại lỗi mo-rát.

Tôi chợt nhớ câu ông bà ta dạy “Bút sa gà chết”. Ở đây là để chỉ sự cẩn thận trong khi viết và trích dẫn văn bản. Chúng tôi xin mạn phép lược trích một số văn bản cho cả bài viết của ông Nguyễn Cao Sơn và văn bản, đặng đối chiếu những chữ đúng sai (*). Và bài Vọng nhân hành nếu không đặt đúng vào ngữ ảnh, hoàn cảnh, thời gian ra đời của bài thơ… e rất khó để bình giảng.

Một: Trong bài “Thâm Tâm – Tráng ca thời đại”, nhà thơ Hoài Anh viết: “…Bạn bè của Thâm Tâm hồi ấy chỉ có một vài người, trong đó có Trần Huyền Trân được Thâm Tâm vẽ lên bằng vài nét: Mày gươm nét mác chữ nhân già, Hàm bạnh hình đồi (đôi) lưng cỗi đa, Nguyễn Bính, Nguyễn Tố, Phạm Quang Hòa (Người đã từng viết những câu thơ rất thú vị: Đào Tiềm hai bận dứt công danh. Quay về vườn cũ như ta đấy. Mộng tiếc gì không, nói thực mình? Vợ “dạ” trở mình cho bớt lạnh, suốt đời em chỉ biết theo anh). Ngoài ra, lại có một anh người ở Lương Yên gần Lò Lợn, không làm văn thơ nhưng tính rất hào hiệp, đã được Thâm Tâm tả trong bài Can trường hành:

Hay đâu kẻ vũ đất Lương Yên
Một sớm nghe hùng câu giớ lên
Xách gói sang Nam không hẹn lại
Chỉ hiềm chẳng đụng đến cung tên

Cũng như anh này, Nguyễn Bính sau đó vào Nam; Phạm Quang Hòa ra đi làm cách mạng; Trần Huyền Trân tham gia văn hóa cứu quốc, khi Cách mạng tháng Tám nổ ra, tất cả mọi người đều đứng chung trong hàng ngũ chiến đấu của toàn dân. Thâm Tâm vui mừng thốt lên:

Có đi ra biển xem triều nước
Mới biết muôn sông đổ một dòng

Đó là lời tâm sự ông chép vào sổ tay của một đại biểu tham dự Đại hội Văn hóa toàn quốc ờ Hà Nội đầu năm 1946, cũng là tiếng reo vui khi hòa nhập vào dòng Cách mạng (1).
Và Hoài Anh đã trích bốn câu cuối trong bài Vọng nhân hành
“… Tôi mượn thơ Thâm Tâm viết trước đây để khóc ông:
Ngoài phố mưa bay: (,)  xuân bốc rượu
Tấc lòng mong mỏi cháy tê tê( .)
– Ới (Ôi, Ối) ơi(!) bạn tác(tóc) ngoài trôi giạt
Chẳng đọc thơ ta ( , ) tất cũng về” (2).

Hai: văn bản trên website http://vi.wikipedia.org (Bách khoa toàn thư mở) có trích lại tại địa chỉ: http://annonymous.online.fr/Thivien/viewpoem.php?ID=11807 với nguyên bản “Vọng nhân hành” cũng có vài chữ khác:

Hội nhau vầy (vẫy) một tiệc quần anh
Rằng: “Đương gió bụi mờ (thì) tơi tả
Thơ ngâm giở (dở) giọng, thời chua (3) (chưa) thuận
Ới (Ối) ơi bạn tác (tóc) ngoài trôi giạt (dạt).

Ba: Nguyễn Cao Sơn viết: “Để hiểu trúng và giảng đúng Tống biệt hành, ở bài này tôi lưu ý các bạn cần đọc thêm bài Vọng nhân hành viết sau đó 3 năm của Tâm Tâm (sai lỗi mo-rát: Thâm Tâm, chúng tôi nhấn mạnh – NT), năm 1944.

Tống biệt hành được in năm 1941, như vậy Vọng nhân hành chỉ ra đời sau 3 năm”.
Thế nhưng trong văn bản của nhà giáo Trần Hà Nam (Giáo viên trường THPT chuyên Lê Quý Đôn, Qui Nhơn, Bình Định) lại viết: “…Hiểu Thâm Tâm còn nhiều hướng tiếp cận khác. Nhưng tôi cứ ám ảnh 2 câu thơ trong Vọng nhân hành viết 4 năm sau (chúng tôi nhấn mạnh – NT) bài thơ Tống biệt hành, như một nối tiếp tâm trạng và chính là cách cắt nghĩa đầy đủ hơn hình tượng “ly khách” trong bài thơ:

Sông Hồng chẳng phải xưa sông Dịch
Ta ghét hoài câu “nhất khứ hề…”
(Vọng nhân hành – Thâm Tâm)

Và dưới bài viết ghi chú thời gian sáng tác Tống biệt hành là năm 1940.

Sau đó, trong bài “Con người lãng mạn trong TỐNG BIỆT HÀNH” (4), Trần Hà Nam nhắc lại hai câu:
“Bốn năm sau (chúng tôi nhấn mạnh – NT) khi viết Tống biệt hành, Thâm Tâm đã viết Vọng nhân hành (1944) có những câu:

Sông Hồng chẳng phải xưa sông Dịch / Ta ghét hoài câu “nhất khứ hề…”.
Như vậy,  ông Nguyễn Cao Sơn và nhà giáo Trần Hà Nam đã đưa ra thời gian sáng tác Tống biệt hành lại không thống nhất.

Được biết, sinh thời Thâm Tâm chưa in thơ thành tập. Theo Wikipedia (Bách khoa toàn thư mở) có đoạn: “Sáng tác thơ của ông được xuất bản năm 1988 trong sưu tập Thơ Thâm Tâm”. Thế nhưng ở phần Tác phẩm chính lại ghi cụ thể:

Thơ: Tống biệt hành (Thi nhân Việt Nam, 1942); Ngẫm nghĩ cố sự (**); Chào Hương Sơn; Ly biệt Vạn lý Trường thành (thơ in trên các báo trước 1945); Chiều mưa đường số 5 (1948); Thơ Thâm Tâm (1988) (***)
Kịch: Sương tháng Tám (kịch một hồi, Tiểu thuyết thứ bảy, 1939); Nga Thiên Hương; 19-8; Lối sống (1945); Lá cờ máu; Người thợ (1946).

Ở gần cuối bài viết, ông Nguyễn Cao Sơn viết: “… Hiểu thơ và giảng đúng huyền cơ tác giả, tưởng rằng đó là đã thắp một nén nhang thơm cho cố thi sĩ tài hoa Thâm Tâm vậy”.

Ông đã thành ý như thế nhưng không hiểu trong bài khi trích dẫn lại rối tung (sai với văn bản, nhiều lỗi mo-rát). Nếu cơ hồ như cách nói của ông: “Tôi không có ý định bình giảng bài Vọng nhân hành mà chỉ muốn gợi sự suy luận”, thì hà cớ gì ông lại đặt tiêu đề “Muốn giảng “Tống biệt hành” nên đọc “Vọng nhân hành” để hậu thế cứ suy diễn lung tung, rối bời cả lên, làm tội cho hàng vạn học sinh…

Chúng tôi rất mong muốn những nhà nghiên cứu, nhà văn, nhà giáo bổ sung về thời gian ra đời của Tống biệt hành là năm 1940 hay 1941. Vì đây là bài thơ duy nhất và hay nhất của Thâm Tâm được giảng dạy ở bậc trung học phổ thông (Văn học 11, Tập một, NXB Giáo dục, tái bản 2005, tr.147).

Để người đọc rõ hơn, chúng tôi xin trích nguyên văn bài Vọng nhân hành (****):

Thăng Long đất lớn chí tung hoành
Bàng bạc gương hồ ánh mắt xanh
Một lứa chung tình từ tứ chiếng
Hội nhau vầy một tiệc quần anh
Mày gươm nét mác chữ nhân già
Hàm bạnh hình đồi, lưng cỗi đa

Tay yếu đang cùng tay mạnh dắt
Chưa ngất men trời hả rượu cha
Rau đất cá sông gào chẳng đủ
Nổi bùng giữa tiệc trận phong ba
Rằng: “Đương gió bụi mờ tơi tả
Thiên hạ phải dùng thơ chúng ta!”

Thơ ngâm giở giọng, thời chua (4) thuận
Tan tiệc quần anh, người nuốt giận
Chim nhạn, chim hồng rét mướt bay
Vuốt cọp, chân voi còn lận đận
Thằng thí cho nhàm sức võ sinh
Thằng bó văn chương đôi gối hận
Thằng thư trói buộc, thằng giã quê
Thằng phấn son nhơ… chửa một về!
Sông Hồng chẳng phải xưa sông Dịch
Ta ghét hoài câu “nhất khứ hề”
Ngoài phố mưa bay: xuân bốc rượu
Tấc lòng mong mỏi cháy tê tê
– Ới ơi bạn tác ngoài trôi giạt
Chẳng đọc thơ ta tất cũng về.
(1944)

(*) Thống nhất chữ in nghiêng và đậm trước là của tác giả, sau bỏ trong ngoặc là trong văn bản bài báo trên Văn Nghệ.
(1), (2) Hoài Anh, Chân dung văn học, NXB Hội Nhà văn, 2001, trang 1185-1187.
(3), Có lẽ sai chính tả, chính xác hơn là chưa.
(4) http://www.ngoisaoblog.com/m.php?u=tranhanam&p=16547 của Trần Hà Nam ?
(**) Nhà văn Việt Nam hiện đại, NXB Hội Nhà văn, 1997, trang 15 lại ghi Ngậm ngùi cố sự. Không biết ai đúng ai sai ?
(***) Được trích thống nhất trong Nhà văn Việt Nam hiện đại (sđd) như trên. Nhưng trang website Wikipedi lại có thêm phần tác phẩm Kịch.

Chuyên đề: Văn học lãng mạn và hiện thực phê phán 1930-1945 (phần thơ): Tống biệt hành – Thâm Tâm

Trong phong trào Thơ mới của những nhà thơ sáng tác không nhiều nhưng ấn tượng để lại rất sâu đậm. Thâm Tâm là một trường hợp như vậy. Nét riêng trong thơ ông là giọng điệu trầm hùng và rắn rỏi, nói lên nỗi day dứt về thế sự và con người.
1. Tống biệt hành là một bài thơ hay. Đề tài “Tống biệt” là một đề tài quen thuộc trong kho tàng thơ ca Việt Nam và thơ ca thế giới. Thâm Tâm đã chọn đề tài này và viết theo thể hành, một thể thơ cổ phong có trước thơ Đường luật, viết khá tự do, phóng khoáng. Ngoài Tống biệt hành, ông còn viết một số bài thơ khác theo thể thơ này như Can trường hành, Vọng nhân hành, Tạm biệt hành.
Đề tài không mới, thể thơ cổ, nhưng tác giả lại đưa được vào đó cái không khí của thời đại mình đang sống, cái hoài bão của con người đương thời nên đã tạo ra nét độc đáo của bài thơ.
Bài thơ diễn tả tâm trạng và suy tư của “người tiễn” sau khi tiễn “người đi” (ly khách) ra đi tìm “chí lớn”. “Người tiễn” và “người đi” là hai người bạn cùng chí hướng, ôm ấp chí tung hoành, không muốn sống tầm thường. “Ta” trong bài thơ này là người tiễn; “ly khách”, “người” là “người ra đi”.
2. Đoạn đầu bài thơ (“Đưa người… mẹ già cũng đừng mong”) miêu tả nỗi lòng người đưa tiễn và sự quyết chí ra đi của người đi.
Bốn câu mở đầu cho thấy nỗi lòng xao xuyến thảng thốt của “người tiễn” khi “tống biệt” người ra đi. Ở đây có nỗi xúc động phấp phỏng, có nỗi buồn bã lo âu (Sao có tiếng sóng ở trong lòng. Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong). Tại sao người đưa tiễn lại có tâm trạng ấy? Bởi lẽ người đưa tiễn hiểu rằng mình đang tiễn một người quyết chí ra đi mà không thể khuyên can, không thể níu kéo. Người ra đi quyết hiến thân cho “ chí lớn”, quyết không trở về với “hai bày tay không”. Cho nên “không bao giờ nói trở lại”, “ba năm mẹ già cũng đừng mong”. Cuộc “tống biệt” có thể thành ra cuộc vĩnh biệt.
Con đường nhỏ ít người đi, đầy khó khăn trắc trở cuốn hút người đi rồi, đừng mong chi ngày gặp lại. Cho nên dù là cùng chí hướng, dù không phản đối việc ra đi, mà người tiễn vẫn không khỏi thảng thốt, tái tê kêu lên “Ly khách! ly khách! Con đường nhỏ”. Người tiễn gọi theo người ra đi như muốn níu kéo lại cái hình bóng dáng khuất dần trên con đường nhỏ.
3. Đoạn hai cũng là đoạn cuối bài thơ (Ta biết người buồn… như hơi rượu say)… Sau khi “người đi” đã đi rồi, người tiễn nhớ lại người ra đi và nỗi lòng “người ra đi” hiện lên trong sự nhớ lại đó.
Nếu như ở đoạn trước “người ra đi” được miêu tả có vẻ nhất quyết (“Một giã gia đình, một dửng dưng”) thì ở đoạn này tác giả miêu tả “người ra đi” cũng đầy day dứt: “Ta biết người buồn chiều hôm trước” lại “biết người buồn sáng hôm nay” nữa, chứ không phải như cái vẻ “dửng dưng” lúc ra đi.
“Ta biết người buồn chiều hôm trước” vì một chị, rồi hai chị khóc hết nước mắt “khuyên nốt em trai dòng lệ sót”. Có gì làm duyên cớ đều được đưa ra khuyên nốt, khuyên hết. Dòng lệ sót là những giọt nước mắt cuối cùng. Hết chị này đến chị kia, hết giọt nước mắt này đến giọt nước mắt khác đã chảy đến cạn kiệt để khuyên em ở lại. Trước một tình cảm như thế ta hiểu người buồn lắm. Đó chính là một nỗi cảm thông.
“Ta biết người buồn sáng hôm nay” khi “em nhỏ ngây thơ đôi mắt biếc”, “gói tròn thương tiếc” trong chiếc khăn tay đưa tặng… Như thế, hết “chiều hôm trước” đến “sáng hôm sau”, hết chị rồi đến em, tất cả những gì yêu thương ruột rà máu mủ đều muốn giữ lại người ra đi .
Nhưng người ra đi vẫn dứt áo ra đi. “Dòng lệ sót” của chị, “đôi mắt biếc” của em, rồi mẹ già “nắng ngã cành dâu” cũng không thể ngăn cản được, níu kéo được sự quyết chí ra đi của người đi. Khi người đi đã đi rồi, người tiễn vẫn như chưa dám tin:
Người đi? Ừ nhỉ, người đi thực!
“Người đi ?” với một dấu chấm hỏi như ngỡ ngàng: người đi thật rồi sao? Hai tiếng “ừ nhỉ” xen vào đây như một sự bàng hoàng đến ngẩn ngơ. “Thế là người đi thực” rồi! Người tiễn biết người ra đi đã đi thực rồi, đi thực với một sự gắng gượng, sự dằn lòng đến đau đớn:
Mẹ thà coi như chiếc lá bay
Chị thà coi như là hạt bụi
Em thà coi như hơi rượu say
“Thà coi như” lặp lại ba lần với ba người thân yêu nhất: một sự lựa chọn đau đớn, một sự “dứt áo” nặng trĩu lòng, chứ nào đâu phải cố làm ra vẻ “dửng dưng” như ở trên kia.
4. Tống biệt hành là một bài thơ “tống biệt”; có kẻ ở người đi. Người ở, lòng xao xuyến tái tê; người đi cũng đau đớn trĩu lòng. Nhưng dù sao người đi cũng quyết chí lên đường, để thực hiện chí lớn của mình, chứ nhất định không đắm mình trong sự ngột ngạt, tù túng. Cái quyết chí “ tống biệt” ấy làm cho bài thơ thật giàu chất lãng mạn và đầy hào khí.
Trong Thi nhân Việt Nam nhà phê bình Hoài Thanh thật tinh tế khi cho rằng: “Trong bài Tống biệt hành thấy sống lại cái không khí riêng của nhiều bài thơ cổ. Điệu thơ gấp. Lời thơ gắt. Câu thơ rắn rỏi, gân guốc, không mềm mại, uyển chuyển như phần nhiều thơ bây giờ. Nhưng vẫn đượm chút bâng khuâng khó hiểu của thời đại”. Bài thơ khó hiểu vì từ ngữ trong thơ hàm súc, dồn nén, nhiều chỗ tĩnh lược; giữa các dòng thơ có nhiều khoảng trống tạo thành một vẻ đẹp bí ẩn và cổ kính rất hiếm thấy trong thơ ca hiện đại.
Bài giảng của: Trung tâm Bồi dưỡng văn hóa và Luyện thi đại học Vĩnh Viễn

Tìm hiểu về Thâm Tâm – Bài văn mẫu

Thâm Tâm tên thật là Nguyễn Tuấn Trình. Sinh 12-5-1917 tại Hải Dương. Mất ở Cao Bằng năm 1950. Thâm Tâm viết không nhiều, ông mất sớm, cả đời thơ chưa được hai mươi bài. Nhưng nếu chọn mười bài tiêu biểu của thời kỳ Thơ mới, chắc chắn có Tống biệt hành. Trong kháng chiến chống Pháp, khi nền thơ còn nhiều chập chững, bài thơ Chiều mưa đường số năm đã là bài thơ hay, vững vàng về cốt cách lẫn tình cảm.
Thơ Thâm Tâm mang cốt cách cổ điển, đẫm khí vị bi phẫn giang hồ của một thời đã xa trong lịch sử ở ta hay ở một chân trời khơi gợi những Tần Hán xa vời. Giọng thơ rắn rỏi, tức tưởi. Ông có ba bài viết theo thể hành bộc lộ rõ nhất giọng thơ này Can trường hành, Tống biệt hành, Vọng nhân hành.
Hãy xem nhà thơ lãng mạn Việt Nam thời Thơ mới múa bút bên sông Hồng kiểu Kinh Kha múa gươm bên sông Dịch:

Sông Hồng chẳng phải xưa sông Dịch
Ta ghét hoài câu “nhất khứ hề”
Ngoài phố mưa bay: xuân bốc rượu
Tấc lòng mong mỏi cháy tê tê

Trong tình cảnh người mất nước, mất luôn tự do của chí làm trai, Thâm Tâm thường trực một ý chí phá bỏ thực tại bằng mộng giang hồ:

Đất trời rộng quá. Tôi không chịu
Cắm chặt sông đây một cánh bè,
Bằng cơn phẫn chí:
Đau tình không xót bằng đau nghĩa
Tay gầy cũng ném chén vô tri.

Khá nhiều lần Thâm Tâm ném chén trong tiệc rượu. Phẫn chí trong cơn say vì đã cố nén một cơn òa khóc trong lúc tỉnh.

Cuối thu mưa nát lòng dâu bể
Ngày muộn chuông đau chuyện đá vàng.

Thân kiếp chơi vơi trong cõi phi thời gian, dĩ vãng không có, hiện tại cũng không mà tương lai thì mịt mù sương khói.

Hôm qua không có, hôm nay mất
Ai rú trong trời tám hướng sương

Những câu thơ bi phẫn của Thâm Tâm hay lắm vì đó là tình cảm chín nhất của hồn ông. Bi phẫn một chủ thể tài tử:

Múa lưỡi đánh tan ba kẻ sỹ
Mềm môi nốc cạn một vò men
Bi phẫn nhiều khách thể xót đau:
Chim nhạn chim hồng rét mướt bay
Vuốt cọp chân voi còn lận đận
Thằng thí cho nhàm sức võ sinh
Thằng bó văn chương đôi gối hận
Thằng thư trói buộc, thằng giã quê
Thằng phấn son nhơ… chửa một về.

Rồi cả chủ thể lẫn khách thể đều bi phẫn, ấy là Tống biệt hành:

Người đi, ừ nhỉ người đi thực
Mẹ thà coi như chiếc lá bay
Chị thà coi như là hạt bụi
Em thà coi như hơi rượu say.

Trong cả nền thơ thời ấy không ai có giọng bi phẫn “chín” như Thâm Tâm, kể cả Nguyễn Bính, Trần Huyền Trân, hai bạn thơ “áo bào gốc liễu” đồng điệu với ông. Cái “chín” ấy trước hết là ở cái giọng, gồm cả âm lẫn điệu của câu thơ, sau nữa là ở một loạt hình ảnh, hình ảnh thường có tính biểu tượng cao, gợi nhiều liên tưởng lãng mạn, và cuối cùng là ở ngôn ngữ, ngôn ngữ có hơi cổ xưa và nhiều tương phản, cực đoan. Hãy nghe:

Ngậm lời tráng khí, chim bằng ốm
Chuyện lúc thương tâm, gái điếm già
Gió thốc hàng hiên, lười viễn mộng
Mưa rào mặt cát, gợi ly ca
Phiếm du mấy chốc đời như mộng
Ném chén cười cho đã mắt ta

Nhiều lần Thâm Tâm cười ngạo “cái chí lớn” của mình Chí lớn không đầy một tấc gang. Cười ngạo để giấu nỗi sầu thất bại:

Say ngùi ta đốt tương tư thảo
Bóng khói qua mây lại nhớ mình

Ngay cái mộng ra đi vào năm 1944, thì chí dù đã quyết mà lòng cứ lạnh tê. Ước ao trận gió nổi lên để giũ đi tất cả, nhưng vẫn phải mượn hơi rượu cho khí thế. Khoan nói đến nhận thức chính trị và tình hình thời cuộc, chỉ biết cái tạng cảm xúc của Thâm Tâm là vậy. Nó là cảm xúc lãng mạn. Nó có nguồn gốc từ hiện thực đời sống nhưng khi phát triển nó tựa nhiều lên tưởng tượng, nó cần hư ảo và hoang đường. Đọc loại thơ này đừng sóng nó vào hiện thực sự kiện, đừng lấy sự kiện cụ thể để cắt nghĩa cảm xúc. Làm thế là chặt cánh bay của thơ, hơn thế lại là thơ lãng mạn.
Phải chăng vì tính chất bi phẫn khao khát đổi thay, khao khát cất cánh ấy mà gặp cách mạng, Thâm Tâm sớm đứng vào hàng ngũ, thơ ông từ lãng mạn chuyển sang cách mạng khá êm thấm. Bài thơ Chiều mưa đường số Năm là một ví dụ. Vẫn một giọng thơ nội tâm đắm đuối, bài thơ mưa nhưng gợi được cảm giác ấm trong lòng người, giọng bi phẫn đã thành giọng yêu thương. Bài thơ viết năm 1946, năm 1950, Thâm Tâm mắc bệnh trên đường đi chiến dịch rồi mất. Người đọc không được thấy hết sự phong phú của hồn thơ ông trong chặng mới. Ở giai đoạn trước, ông nhập cuộc muộn, ở giai đoạn sau, ông lại ra đi quá sớm.
Ngót hai chục bài thơ cho một đời thơ tài năng như vậy, có một chất cảm xúc lạ, và riêng như vậy, quả chưa phát tiết được bao nhiêu. Phần tiềm lực còn nhiều quá, thật tiếc!

Nguồn từ: http://vanmau.com/forum/showthread.php/18068-Tìm-hiểu-tác-giả-Thâm-Tâm#ixzz1Mr3s9OmM