Tống biệt hành: Bài ca bi tráng – Nguyễn Cẩm Xuyên

Tạp chí Kiến thức ngày nay, số 817, 20/04/2013

Thâm Tâm Nguyễn Tuấn Trình (1917 – 1950), nổi tiếng với bài thơ Tống biệt hành, được Hoài Thanh đánh giá bằng những lời khá trân trọng trong Thi nhân Việt Nam: “… Thơ thất ngôn của ta bây giờ thực có khác thơ thất ngôn cổ phong. Nhưng trong bài dưới đây lại thấy sống lại cái không khí riêng của nhiều bài thơ cổ. Điệu thơ gấp. Lời thơ gắt. Câu thơ rắn rỏi, gân guốc. Không mềm mại uyển chuyển như phần nhiều thơ bây giờ. Nhưng vẫn đượm chút bâng khuâng khó hiểu của thời đại

Tống biệt hành

Đưa người, ta không đưa qua sông
Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
Bóng chiều không thẳm, không vàng vọt
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?
Đưa người ta chỉ đưa người ấy
Một giã gia đình một dửng dưng.

– Li khách! Li khách! Con đường nhỏ,
Chí nhớn chưa về bàn tay không
Thì không bao giờ nói trở lại!
Ba năm mẹ già cũng đừng mong.

Ta biết người buồn chiều hôm trước,
Bây giờ mùa hạ sen nở nốt,
Một chị, hai chị cũng như sen,
Khuyên nốt em trai dòng lệ sót.

Ta biết người buồn sáng hôm nay:
Giời chưa mùa thu tươi lắm thay
Em nhỏ ngây thơ đôi mắt biếc
Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay…

Người đi? Ừ nhỉ, người đi thực!
Mẹ thà coi như chiếc lá bay.
Chị thà coi như là hạt bụi,
Em thà coi như hơi rượu say.

Tống biệt hành: bài thơ cổ thể

Thâm Tâm là nhà thơ của phong trào Thơ mới, nhưng lại chọn làm thơ cổ thể. “Hành” thuộc cổ thể. Điều này cũng dễ hiểu: văn chương nước ta đã trải qua một thời kỳ dài trói buộc với thơ luật: những câu thơ đầy điển tích với niêm luật cứng nhắc khiến người ta thấy bức bối. Cùng với trào lưu Âu hóa, một khuynh hướng giải phóng thơ ca bùng lên với phong trào Thơ mới, mà người chủ soái là Phan Khôi với bài thơ Tình già, nổi tiếng là mới cả về hình thức lẫn ý tưởng… Theo chân Phan Khôi, nhiều nhà thơ trẻ Việt Nam đã đưa thơ ca Việt Nam đến một chặng đường mới: Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Huy Cận… đã từ bỏ hẳn những ràng buộc của thơ luật để làm thơ tự do… Đến Thâm Tâm, Nguyễn Bính, Trần Huyền Trân vẫn còn quyến luyến với âm hưởng thơ ca của một thời vang bóng, nên đã quay về với lục bát và thơ cổ thể. Cổ thể là thơ xưa nhưng lại gần với Thơ mới cả về tư tưởng lẫn phong cách sáng tác. Nhóm “Tam anh” này thích thể “hành”: Nguyễn Bính viết Hành phương nam, Thâm Tâm viết Can Trường hành, Vọng nhân hành, Tống biệt hành

Tống biệt hành nổi tiếng nhất, được đưa vào sách giáo khoa trung học. Có người đã bàn về ngữ và nghĩa của bài thơ để cho rằng hành là đi đây đó rồi viết nên thơ. Đành rằng mặt chữ là một nhưng hành ở đây đơn giản chỉ là tên thể thơ. Yên ca hành của Cao Thích, Binh xa hành của Đỗ Phủ, Giới lộ hành, Bộ xuất Hạ Môn hành của Tào Tháo, Tòng quân hành của Dương Quýnh… quả là có diễn tả nhiều động thái, đặc biệt là cảnh trận mạc, chiến trường… nhưng nội dung của Tì Bà hành của Bạch Cư Dị, Oán ca hành của Ban Tiệp Dư chẳng hạn, chính là diễn tả tâm trạng. Kể cả bài thơ đang bàn đến của Thâm Tâm cũng không mang nội dung thiên di, mà chỉ tả cái bi tráng trong tâm sự kẻ ở, người đi. Ngoài ra, gọi Tống biệt hành là bài thơ nhưng chính thực là bài ca. Tống biệt hành là bài ca tiễn biệt. Gốc rễ của thể hành chính là những bài ca dao, dân ca được người nông dân nơi ruộng đồng, ngư phủ trên sông biển hát cho khuây nỗi nhọc nhằn… Các bài ca dân dã ấy từ xa xưa đã được Khổng Tử tập hợp trong Kinh Thi, rồi sau biến hóa thành từ. Thể loại này ban đầu mỗi câu chỉ có 4 chữ. Thí dụ Kinh Thi:

Quan quan thư cưu
Tại hà chi châu
Yểu điệu thục nữ,
Quân tử hảo cầu

Về sau, Sở Từ có đến 6-7 chữ, thí dụ Li Tao:

Đế Cao Dương chi miêu duệ hề,
Trẫm hoàng khảo viết Bá Dung.
Nhiếp đề trinh vu mạnh trâu hề,
Duy canh dần ngô dĩ giáng.
Hoàng lẫm quỹ dư sơ độ hề…

Những bài ca dân dã này đến đời Hán (203 tr.CN – 220) xâm nhập vào vũ nhạc cung đình, gọi là Nhạc phủ, mỗi câu có 5 chữ, có khi 7 chữ. Đến đời Đường, người ta sính thơ luật với khuôn phép chặt chẽ nên các bài dân ca mộc mạc đã vận dụng phong cách thơ luật để tạo thành “Thất ngôn ca hành thể”

Nói tóm lại, thể ca – hành nguyên là dân ca xưa của Trung Hoa rồi biến thành Nhạc phủ, sau đó lan truyền sang nước ta. Tống biệt hành của Thâm Tâm đã dùng thể ca – hành của Nhạc phủ đời Hán. Bài ca 7 chữ dài, vần không xuyên suốt từ đầu đến cuối mà thay đổi theo từng đoạn; phong cách thơ khoáng đạt, bi tráng…

Cuộc đời ngắn – tiếng thơ dài

Theo nhà văn Ngọc Giao, thư ký tòa soạn Tiểu Thuyết Thứ Bảy, thì Tống biệt hành được làm trong bữa rượu tại nhà Lê Văn Trương, chia tay một người bạn tên Viễn sắp đi xa […] nhưng theo ông Phạm Quang Hòa (Lương Trúc), nguyên giám đốc Sở Thông tin Liên khu X, thì bài thơ được Thâm Tâm viết trong bữa rượu chia tay tiễn ông lên đường vào chiến khu

Xót xa thay, bài thơ cũng là lời báo hiệu vĩnh quyết mười năm sau của chính Thâm Tâm. Nhà thơ cũng đã “một giã gia đình một dửng dưng“… rồi ra đi, đi mãi không về, thân chôn nơi chiến địa. Thơ đã vận vào người:

Người đi? Ừ nhỉ, người đi thực!
Mẹ thà coi như chiếc lá bay.
Chị thà coi như là hạt bụi,
Em thà coi như hơi rượu say.

Năm 2003, NXB Trẻ có xuất bản Thâm Tâm – cuộc đời ngắn, tiếng thơ dài của Hoài Việt. Cuộc đời ngắn là bởi nhà thơ đi chiến dịch rồi mất trên núi rừng năm 33 tuổi, còn tiếng thơ dài thì… cả tập sách mỏng mảnh khổ nhỏ chỉ có 138 trang, trong đó chiếm phần lớn là thân thế sự nghiệp nhà thơ cùng các bài viết dùng tham khảo, còn lại vỏn vẹn chỉ trích mấy bài thơ nổi tiếng của Thâm Tâm. Cũng có thể hiểu được ý Hoài Việt ở đây là thơ Thâm Tâm làm không nhiều nhưng rất hay, vang vọng mãi với thời gian. Thật vậy, có ý kiến đã cho rằng “Nếu cần chọn ra một trăm bài thơ hay nhất của thế kỷ XX, người ta nhất định phải lấy Tống biệt hành của Thâm Tâm” (1). Cả quyết hơn lại có ý kiến: “Nếu kể tên mười nhà thơ Việt Nam lớn nhất, không chắc có Thâm Tâm, nhưng chọn mười bài thơ mới hay nhất, khó có thể bỏ qua Tống biệt hành” (2)

Thâm Tâm viết khá nhiều truyện ngắn, truyện vừa, kịch… trên Tiểu Thuyết Thứ Bảy, Tiểu Thuyết Thứ Năm, Ngày Nay… riêng ở tuần báo Bắc Hà, Thâm Tâm còn trình bày bìa, vẽ tranh biếm họa, viết thơ văn, truyện… nhưng thành công nhất chỉ có thơ, đặc biệt là các bài ca – hành – mà nổi bật nhất là Tống biệt hành (nếu không kể đến bài thơ tình đầu đời rất hay – Hai sắc hoa ti gôn – ghi tên tác giả là T.T.Kh.)

Có lẽ vì vậy mà viết Thi nhân Việt Nam – giới thiệu Thâm Tâm – Hoài Thanh chỉ trích mỗi một bài thơ Tống biệt hành

Từ tình riêng đến tình nhà – nợ nước

Năng khiếu thơ của Thâm Tâm đã phát tiết từ lúc còn rất trẻ; trước hết phải kể đến những bài thơ tình mà trong đó hay nhất là bài Hai sắc hoa ti gôn. Tác giả bài thơ tuy lên báo với cái tên bí ẩn là T.T.Kh. nhưng chính thật là Thâm Tâm (3). Nghi vấn suốt 70 năm qua rất nhiều; nhiều bài viết, nhiều đầu sách xuất bản đã cho rằng T.T.Kh. là người này, người nọ… nhưng xem xét kỹ, cân nhắc, so sánh lại thì T.T.Kh. quả không ai khác hơn là chính Thâm Tâm. T.T.Kh. là viết tắt tên người yêu của ông là Trần Thị Khánh. Trần Thị Khánh yêu Thâm Tâm, nhưng lại rẽ bước sang ngang, chọn một người chồng lớn tuổi giàu có, đã qua một đời vợ… Trần Thị Khánh không hề biết làm thơ. Thâm Tâm đau khổ vì mất tình nên đã tự làm lấy bài thơ thác lời T.T.Kh.; rồi lại giả cách nhờ một người con gái con bà cô chép bài thơ vào giấy học trò bằng bút chì, nét chữ run, nét mờ… bỏ vào bì mang tay đến tòa soạn Tiểu Thuyết Thứ Bảy… (4). Bài thơ hay nên được phổ biến rộng rãi, được nhiều người đọc. Cả cô Trần Thị Khánh cũng đọc và có lẽ vì sợ vỡ chuyện làm ảnh hưởng hạnh phúc nên cô viết thư cự tuyệt Thâm Tâm. Vì thế mà lại có tiếp mấy bài thơ nữa cũng ghi tên T.T.Kh. gửi đăng báo: Bài thơ thứ nhất, Bài thơ đan áo, Bài thơ cuối cùng

Hãy đọc lại lời kể của Nguyễn Vỹ trong Văn thi sĩ Tiền Chiến, ở đây Nguyễn Vỹ cũng giải thích rõ lý do tại sao Tuấn Trình lại chọn bút hiệu Thâm Tâm. Bút hiệu Thâm Tâm chính là đã xuất phát từ cuộc tình này: (5)

“… Tôi quen biết Tuấn Trình do Trần Huyền Trân giới thiệu. Nhà anh ở Chợ Hôm, cách chợ độ ba bốn trăm thước. Anh đẹp trai, y phục lúc nào cũng bảnh bao, người có phong độ hào hoa, lịch thiệp. Tôi thấy ở Sài Gòn có anh Hoàng Trúc Ly, nhà văn, giống na ná Tuấn Trình về dáng điệu cũng như tính tình, tư cách. Nhiều khi gặp Hoàng Trúc Ly trên đường Bonard Sài-Gòn, tôi quên lửng, cứ tưởng gặp Tuấn Trình trên phố Chợ Hôm, Hà Nội.

Một buổi chiều gần tối. Tuấn Trình đi lang thang gần chợ Khâm Thiên. Tôi từ Hà Nội về nhà, tưởng anh ta đến Trần Huyền Trân, nhưng anh bảo: “Thằng Huyền Trân nó đi đâu, không có nhà”. Tôi rủ anh về gác trọ của tôi ở cuối phố. Hôm ấy tôi có vài chục bạc trong túi, có thể làm một tiệc bánh giò chả lụa với Tuấn Trình. Tôi bảo anh ở lại ngủ với tôi cho vui. Đêm ấy cao hứng, Tuấn Trình ngà ngà say rượu Văn-Điển, kể chuyện tình của anh với cô Khánh cho tôi nghe.

Trần Thị Khánh là một cô học trò lớp Nhất trường Tiểu học Sinh-Từ. Thi hỏng, cô ở nhà giúp mẹ làm việc nội trợ. Nhà cô cũng ở đường Sinh-Từ, ngay cạnh Thanh-Giám, nơi đền thờ Khổng Tử. Thanh – Giám là một thắng cảnh Hà-Nội, đã liệt vào cổ tích Việt Nam, xây cất từ đời nhà Lý, tu bổ dưới đời nhà Lê, hình chữ nhất, chung quanh xây tường đá ong, cao độ hai thước. Đền thờ ở trong cùng, trước đền có Hồ Tròn, hai bên hồ dựng nhiều tấm bia ghi tên các tiến sĩ đời nhà Lê. Vào Thanh-Giám, có cổng Tam Quan lớn, trước cổng có tấm bia đề hai chữ Hán: “Hạ Mã”, và hai trụ cao. Trong vườn trồng rất nhiều cây cổ thụ và các cây kiểng. Nơi đây rất yên tĩnh và mát mẻ, cũng là nơi các cặp trai gái hẹn hò tâm sự. Trước kia có một bầy quạ chiều tối bay về ngủ, cho nên người Pháp gọi là “Pagode des Corbeaux” (Chùa Quạ) ngoài danh từ lịch sử “Temple de Confucius” (Đền Khổng Tử).

Cô nữ sinh Trần Thị Khánh là một thiếu nữ đẹp, nét đẹp mơn mởn của cô gái dậy thì, thùy mị, nết na, nhưng không có gì đặc biệt. Tuấn Trình có người cô, nhà ở phố chợ Cửa Nam, gần Sinh-Từ. Anh thường đến đây và thấy cô Khánh đi chợ mỗi buổi sáng. Lúc ấy vào khoảng tháng 2 năm 1936, họa sĩ Tuấn Trình (tên gọi hồi đó) mới 19 tuổi, và cô Khánh 17 tuổi, thi rớt Tiểu học và đã nghỉ học từ mùa hè năm trước. Tuấn Trình mới bắt đầu vẽ và viết chút ít trong tờ tuần báo Bắc Hà của Trần Huyền Trân vừa xuất bản.

Sau một vài tháng theo dõi, Tuấn Trình làm quen được với cô Khánh và gởi báo Bắc Hà tặng cô. Cô gái 17 tuổi, cảm mến người nghệ sĩ tài hoa, tình yêu chớm nở như cành hoa Antigone trắng vừa chớm nở trong tháng đầu hè trước sân nhà cô. Antigone là loại hoa của người Pháp đem qua hồi đầu thế kỷ, không thơm nhưng đẹp. Nó thuộc loại hoa dây, lá giống lá nho, cho nên ở miền Nam, nhiều người gọi là hoa nho. Nó có hai loại, loại hoa trắng và hoa hồng. Hoa nở vào đầu mùa hè, thành những chùm rất dễ thương, nụ hoa giống hình trái tim nho nhỏ. Ở Hà-Nội người ta trồng rất nhiều và bán rất nhiều trong chợ Đồng Xuân, cũng như ở chợ Hoa, bờ hồ Hoàn Kiếm. Cắm nó vào lọ để phòng khách, nó buông ra một vẻ đẹp lãng mạn, khả ái lắm. Người Bắc gọi tắt hoa Ti-Gôn. Ở phố Sinh Từ Antigone mọc rất nhiều, như trước sân nhà ông Nguyễn Văn Vĩnh và Nguyễn Nhược Pháp. Nhà trọ của Lưu Trọng Lư và Lê Tràng Kiều ở phố Nam Long có cả một giàn hoa trắng và hồng. Nhưng mùa đông lá rụng hoa tàn, thì không cảnh nào tiêu sơ quạnh quẽ bằng.

Tình yêu của Tuấn Trình và Trần Thị Khánh chớm nở ngay lúc những chùm Antigone vừa hé nụ, và chết trong những ngày giữa mùa Đông năm đó, trong lúc giàn hoa Ti-gôn úa tàn, rụng ngập đầy sân. Thời kỳ mơ mộng ngắn ngủi trong mấy tháng Hè, sang hết mùa Thu, không đem lại chút thỏa mãn nào cho tâm hồn khao khát của Tuấn Trình. Chính lúc này Tuấn Trình lấy bút hiệu Thâm Tâm và cho cô Khánh biết: Hình ảnh của em, anh ghi sâu vào thâm tâm anh. Trong bài Màu Máu Ti-Gôn, cũng có câu:

Quên làm sao được thuở ban đầu
– Một cánh ti gôn Dạ khắc Sâu

Một vài bài thơ tình thức đêm làm tặng Khánh, những bài thơ đầu tiên đăng trên tuần báo Bắc Hà, đều ký Thâm Tâm, các tranh vẽ trong báo vẫn ký Tuấn Trình. Nhưng cô gái 17 tuổi, dè dặt theo lễ giáo nghiêm khắc của gia đình, chưa thật bao giờ đáp ứng với tình yêu tha thiết của Tuấn Trình – Thâm Tâm. Đó là điều đau khổ triền miên của chàng nghệ sĩ 19 tuổi. Trong lúc những cặp tình nhân trẻ trung dắt nhau đi du ngoạn khắp nơi thơ mộng ở Hà-Nội và ngoại ô: Hồ Tây, chùa Láng, Bạch Mai, Phúc Trang, Đền Voi Phục… thì Trần Thị Khánh cứ phải từ chối những lời mời của Thâm Tâm. Cô thường nói: “Thầy mẹ em nghiêm, gia đình em nghiêm lắm…” Lần nào cô Khánh cũng lặp lại chữ nghiêm gia giáo ấy để trả lời kỳ vọng khát khao của người yêu.

Chỉ được hai lần Khánh đến nơi hẹn, nhưng không được lâu. Lần thứ nhất, một đêm trăng, Khánh lén băng qua đường, vào vườn Thanh-Giám. Tuấn Trình đã chờ người yêu nơi đây, dưới bóng cổ thụ. Nhưng cô Khánh run cả người (theo lời Tuấn Trình kể lại) cậu cũng lính quýnh, tất cả những câu bay bướm cậu sắp sẵn để nói với nàng, bấy giờ cậu quên mất hết. Một lúc lâu Tuấn Trình mới nói được mấy lời tình tứ, nhưng lại trách móc, nghi ngờ, nàng không yêu mình. Nàng bảo: “Em không yêu anh sao dám ra đây gặp anh? Nhưng vì thầy me em nghiêm lắm, anh ạ.” Tuấn Trình hỏi chua chát: “Giờ phút này chỉ có thơ và mộng, chỉ có anh với em, ánh trăng đẹp của hai đứa mình có nghiêm không nhỉ?”. Có lẽ vì bất bình câu nói mỉa mai của người yêu, Khánh lặng yên một phút rồi đáp: “Ánh trăng đẹp, nhưng vẫn nghiêm đấy, anh ạ”. Cuộc gặp đêm ấy, chỉ lâu không đầy một tiếng đồng hồ. Tuấn Trình đặt một chiếc hôn âu yếm trên bàn tay của Khánh trước lúc nàng vội vã chạy về nhà.

Lần thứ hai, hai cô cậu cũng gặp nhau trong vườn Thanh (nhiều người sau này nói Thanh là Thanh Hóa, là hoàn toàn sai sự thật). Vườn Thanh-Giám đêm ấy cũng ngập ánh trăng Thu. Nhưng thái độ của Khánh lạ lùng khó hiểu. Hình như Khánh muốn nói với Tuấn Trình một điều gì, nhưng ngại ngùng không nói. Chàng lặng lẽ vuốt mái tóc huyền của Khánh rồi khẽ bảo: Ước gì anh được yêu em như thế này mãi… Nàng buồn bã hỏi: “Anh định bao giờ đến xin thầy me cho chúng mình…” Chàng họa sĩ bối rối trước câu hỏi bất ngờ. Chàng lơ đễnh bảo: “Anh chưa nghĩ đến việc ấy, vì…” Câu chuyện bị bỏ dở nơi đây. Khánh không hỏi gì hơn nữa. Chàng nắm tay nàng đi dạo quanh hồ nước xanh rì lăn tăn gợn sóng, chàng dừng lại, khẽ kéo Khánh vào lòng, nhưng nàng khẽ buông ra, Tuấn Trình âu yếm nhìn nàng: “Em!” Khánh mải cười: “Anh bảo gì?”

– Hình ảnh của em, nụ cười của em, sẽ mãi mãi ghi sâu vào lòng dạ của anh, vào thâm tâm anh.

Trần Thị Khánh bẽn lẽn cười như để tạ ơn và xin từ giã. Tuấn Trình trằn trọc suốt đêm. Khánh muốn giấu chàng một điều gì quan trọng chăng? Tình yêu giữa hai người vẫn nguyên vẹn, thư từ qua lại vẫn âu yếm, nhưng Tuấn Trình bắt đầu thấy lòng buồn bã băn khoăn khi giàn hoa Ti-gôn bắt đầu héo rụng trong nắng úa tàn thu. Thế rồi một hôm, chàng họa sĩ đa tình nhận được một bức thư của người yêu, không, của người hết yêu, báo tin nàng sắp lấy chồng.

Thư viết bằng mực tím, trên bốn trang giấy học trò, xé trong một quyển vở Nam Phương hoàng hậu (loại vở học trò rất thông dụng lúc bấy giờ). Thư do một cô bạn gái của Khánh đem đến tòa báo Bắc Hà trao tận tay Tuấn Trình. Cô bạn gái hỏi “ông Tuấn Trình” chứ không gọi Thâm Tâm. Ngoài bao thư cũng đề: Monsieur Tuấn Trình (chữ Mr. bằng tiếng Pháp), nét chữ quen thuộc của T.T. Khánh. Đại khái, Khánh nhắc lại tình yêu “thơ mộng” của cô với “người nghệ sĩ tài hoa son trẻ” (những chữ cô dùng trong thư), tình yêu rất đẹp, nhưng vì thầy me của cô rất nghiêm, theo lễ giáo, nên dù người vị hôn phu của cô là một người chỉ mới biết sơ thôi, nhưng cô vẫn có bổn phận “giữ tròn chữ hiếu, không dám cãi lời thầy me đặt đâu ngồi đấy v.v…” Cô nói cô buồn lắm vì tình yêu dang dở, “Em yêu anh mãi mãi! Không bao giờ quên anh, nhưng ‘van’ anh đừng giận em, thương hại em, chứ đừng trách móc em v.v…” Cô than thở đời cô khổ nên tình duyên ngang trái, cô khóc suốt đêm v.v…

Khánh không nói một câu nào về người vị hôn phu, không cho biết ngày cưới, và cuối thư ký tắt: K.H. Bức thư của K.H chấm dứt một cách đột ngột cuộc tình duyên thật sự không mấy “thơ mộng” của họa sĩ Tuấn Trình và cô Trần Thị Khánh.

Sau do sự dọ hỏi vài người quen ở phố Sinh-Từ, Tuấn Trình được biết chồng cô Khánh là một nhà buôn giàu có ở phố Hàng Ngang, 39 tuổi, góa vợ và không có con. Trong câu thơ: “Bên cạnh chồng Nghiêm luống tuổi rồi” chỉ sự cách biệt tương đối giữa tuổi 39 của người chồng với tuổi hãy còn vị thành niên của cô Khánh. Đó chỉ là nhận xét chủ quan và mỉa mai của Thâm Tâm, so sánh tuổi mình 20 với người đàn ông được diễm phúc làm chồng cô Khánh, nhưng trên thực tế và theo lời những người hàng xóm ở phố Sinh Từ nói với Tuấn Trình thì người chồng cô Khánh “giàu sang và trẻ đẹp” chứ không phải một ông già. Tuấn Trình cũng nhìn nhận rằng một người nhà giàu 40 tuổi, đẹp trai, không thể là một ông già.

Đám cưới đã nhờ mối lái qua lại từ lâu, và đồ sính lễ có kiềng vàng, xuyến, nhẫn, vòng, kim cương, quần áo hàng lụa quí giá. Rước dâu bằng mười chiếc Citroen mới, cô dâu đeo nữ trang rực rỡ, mặc chiếc áo cưới màu đỏ tươi, lộng lẫy ngồi trên xe hoa như nàng công chúa ngồi cạnh người chồng mặc áo gấm xanh. Đêm trước hôm cô Khánh lên xe hoa, Thâm Tâm có tổ chức tại tòa báo Bắc Hà một tiệc thịt chó, uống Mai Quế Lộ, mời Trần Huyền Trân, Nguyễn Bính và Vũ Trọng Can tham dự. Họ say sưa, ngâm thơ, làm thơ, cười đùa cho đến khuya rồi lăn ra ngủ trên đất. Người đau khổ trong cuộc tình duyên dang dở này không phải là cô Khánh. Trái lại, cô có đầy đủ hạnh phúc với người chồng rất chiều chuộng cô. Trần Huyền Trân đã gặp cô đi hí hởn với chồng vào ăn kem ở tiệm Blanche Neige (kem Bạch Tuyết), Bờ Hồ hai lần. Hai ông bà nhìn nhau và cười với nhau ra vẻ âu yếm lắm. Khánh đã có thai, được chồng săn sóc nâng đỡ lên chiếc xe nhà Citroen, lúc ra về, còn đi một vòng quanh hồ Hoàn Kiếm. Trần Huyền Trân kể lại cảnh âu yếm đó cho Tuấn Trình nghe và kết luận: “Con Khánh nó cho cậu leo cây, cậu còn si nó làm gì nữa, thêm tủi nhục”. Người đau khổ dĩ nhiên là Tuấn Trình, Thâm Tâm. Chàng yêu nhớ đơn phương với mặc cảm của một nghệ sĩ nghèo bị người yêu bỏ rơi, lại còn bị mấy thằng bạn trẻ chế nhạo đùa bỡn, nhất là Vũ Trọng Can.

Vì một chút tự ái văn nghệ, đối với mấy người kia, Tuấn Trình đã phải thức một đêm, theo lời anh, làm một bài thơ đề là “Hai Sắc Hoa Ti Gôn” ký T.T.KH, với thâm ý để Trần Huyền Trân và Vũ Trọng Can tin là của Khánh làm, để thương tiếc mối tình tan vỡ. Muốn giữ tính cách bí mật, Tuấn Trình dán kín bao thư rồi nhờ cô em họ, con gái của người cô ở phố Cửa Nam, mang thư đến tòa báo. Cũng chính cô em họ đó đã chép giùm bài thơ với nét chữ con gái dịu dàng của cô, để khỏi bị nghi ngờ. Cho nên giọng thơ hoàn toàn là giọng thơ lãng mạn của Tuấn Trình, và lời thơ khác hẳn những lời tâm sự trong bức thư cuối cùng của KH, báo tin sắp lấy chồng. Cô Khánh không biết làm thơ. Cô chưa bao giờ làm thơ cả! Và cô ghét những bài thơ của Thâm Tâm nữa là khác. Tuấn Trình đã nói quả quyết với tôi như vậy, sau khi nhận được một bức thư của Khánh, bức thư cuối cùng, tỏ ý không bằng lòng anh mượn tên cô để làm thơ kể chuyện tình duyên cũ, có thể làm hại đến cuộc đời của cô. Trong thư phản đối đó, Khánh xưng tôi, chứ không xưng em như những thư trước, để chấm dứt trò chơi vô ích ấy. Thâm Tâm lấy những lời nghiêm khắc giận dữ của người yêu cũ để làm ra “Bài Thơ Cuối Cùng”.

Ông Nguyễn Tố, người đã từng sống chung với Thâm Tâm, Trần Huyền Trân, Vũ Trọng Can năm 1936 tại Hà Nội cũng xác định trên nhật báo Sống (miền Nam) ngày 15.4.1967: “… Thâm Tâm có mấy bài thơ ký tên T.T.Kh. như bài Hai sắc hoa tigôn. Lúc đó Khánh là người mà Thâm Tâm yêu say đắm, lúc Khánh đi lấy chồng, Thâm Tâm đau khổ gần như phát điên. Lũ chúng tôi vừa giễu cợt, vừa khuyên lơn. Chính trong thời gian thất tình, Thâm Tâm viết được mấy bài thơ ký tên T.T.Kh.” (6)

Có thể kiểm chứng được điều trên là thực, khi Thâm Tâm cố vượt qua nỗi đau khổ này và bộc lộ qua mấy bài đăng báo Bắc Hà lúc tạp chí này xuất bản “tập mới” gồm 19 số (từ 10.8.1936 đến 7.1.1937): Thâm Tâm đã đăng bài thơ Cố lãng quên đi (số 11) và truyện ngắn Đừng đan áo nữa (số 13). Truyện đã kể về nhân vật Khánh xưng “tôi” với tác giả.

Tình của Thâm Tâm nồng nàn lắm và chuyển biến qua từng thời kỳ: Từ tình yêu cá nhân, vụn vặt của Hai sắc Hoa tigôn đến tình cảm hào hùng bi tráng quyết

Chí nhớn chưa về bàn tay không
Thì không bao giờ nói trở lại!

…đến tình cảm sắt thép của chiến sĩ cách mạng làm văn hóa trong chiến dịch Biên giới 1950… Lúc này Thâm Tâm giác ngộ tư tưởng Cộng sản. Theo lời kể của Vũ Cao – người đã sống với Thâm Tâm khi Thâm Tâm làm thư ký tòa soạn báo Vệ quốc quân: Bấy giờ “Thâm Tâm đã rất cố gắng trút bỏ triệt để “tâm hồn nghệ sĩ lãng mạn”, quyết “lột xác” để theo kháng chiến. Ông tỏ ra rất lạnh lùng, lầm lì, lúc nào cũng chăm chú vào công việc. Ngoài ra, Thâm Tâm còn cấm mọi người không được nhắc lại Tống biệt hành vì coi đó là sản phẩm của quá khứ “tiểu tư sản”, cần “khai tử”…” (7)

Lời bình Tống biệt hành của Đỗ Trọng Khơi

Tống biệt hành
QĐND – Thứ Năm, 14/03/2013, 16:37 (GMT+7)
Đưa người ta không đưa qua sông
Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
Bóng chiều không thắm không vàng vọt
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?
Đưa người, ta chỉ đưa người ấy
Một giã gia đình, một dửng dưng…
– Ly khách! Ly khách! Con đường nhỏ
Chí lớn chưa về bàn tay không,
Thì không bao giờ nói trở lại!
Ba năm mẹ già cũng đừng mong.

Ta biết người buồn chiều hôm trước
Bây giờ mùa hạ sen nở nốt,
Một chị, hai chị, cũng như sen,
Khuyên nốt em trai dòng lệ sót.

Ta biết người buồn sáng hôm nay
Trời chưa mùa thu tươi lắm thay
Em nhỏ ngây thơ đôi mắt biếc
Gói tròn thương nhớ chiếc khăn tay…

Người đi! ừ nhỉ, người đi thực!
Mẹ thà coi như chiếc lá bay
Chị thà coi như hạt bụi
Em thà coi như hơi rượu cay…

THÂM TÂM

Thời gian ra đời của bài thơ là vào khoảng năm 1940, thời đất nước còn chưa giành được độc lập, dân tình chìm đắm trong đau thương, loạn lạc. Ly khách – người trai thời loạn ấy giã biệt mẹ già, một chị, hai chị cùng em nhỏ mang “chí lớn” ra đi trong lưu luyến, niềm trắc ẩn, dường có cả điềm dự cảm: “Ba năm mẹ già cũng đừng mong”, và cái không gian, hoàn cảnh trong câu cổ thi cũng phảng phất đâu đây: “Xưa nay chinh chiến mấy ai về”.
Hình ảnh, tâm thế trong: Ly khách! Ly khách! Con đường nhỏ, trước cuộc đi với “chí lớn” mà lộ trình lại vẽ ra “con đường nhỏ”? Rõ là ý tưởng, cả ý chí của kẻ đưa người tiễn đều thấy rõ sự lựa chọn này là rất khó khăn và duy nhất một hướng đường? Hẳn là vậy! Cũng bởi vậy cảnh thơ mới dụng công liệt kê rất chi tiết hoàn cảnh riêng qua các đối tượng người thân mà người ấy phải chia tay, là mẹ già, một chị hai chị, cùng em nhỏ thơ ngây; những người đàn bà, em nhỏ là đối tượng cần được chăm sóc, che chở vậy mà người ấy vẫn phải dứt áo, với thái độ Một giã gia đình, một dửng dưng. Xưa nay chỉ có tình yêu, trách nhiệm với non sông mới chi phối tình con người và cũng hiếm gặp một thi phẩm hàm chứa tinh vi và quyết liệt trách nhiệm công dân đến vậy. Những cuộc ra đi vì nghĩa cả, sự thật là rất sâu nặng, song cũng không ít điều đau đớn!
Như trên nói, thơ mang niềm trắc ẩn, dự cảm, ở câu: Ba năm mẹ già cũng đừng mong. Sao lại đặt số 3, “ba năm” trước cuộc ra đi này? Dân ta thường có câu cửa miệng là “vài ba”, “dăm ba năm gì đó…”. Tác giả thơ đã dùng số 3 cho một ước định về bội số thời gian, theo cách nói dân dã, mặc dù vậy, đây vẫn là một con số tuổi-thời gian không hề ngắn với người “mẹ già”, “Mẹ già như chuối chín cây”! Cũng qua đây mới hay câu Một giã gia đình, một dửng dưng là một cách dùng khẩu khí anh hùng để tự trấn an trước gia cảnh mẹ thì già, em thì thơ ngây. Nhưng có lẽ, không chỉ có vậy…
Tống biệt hành là bài thơ thất ngôn, thể hành. Tính thể cách ở đây được tác giả sử dụng như ốc mượn hồn, mượn cái không gian tráng ca, tráng sĩ, kiểu Kinh Kha qua sông Dịch, mượn cái khí mạch để chuyên chở cho một giọng nói ngang tàng, phóng túng, khinh thân vang lên. Đúng là tác giả đã “cố ý” mượn cái không gian thế cục đó, song câu chữ của toàn bài, ngoài 2 chữ “ly khách” được láy nhắc hai lần bằng 4 chữ là vay mượn chữ Tàu, phần còn lại là chữ Việt, điệu thơ mới. Chữ “hạt bụi” xuất hiện ở khổ kết là chỉ số về thời gian cần lưu ý. Hình ảnh “hạt bụi” cho giá trị biểu tượng trong văn học chỉ thực sự du nhập vào Việt Nam kể từ khi người Việt biết đến lời Kinh Thánh, “con người sinh ra từ cát bụi…”. Từ điểm “hạt bụi” này quy chiếu lại không gian thơ còn vẻ cổ kính, nhưng cung cách đưa tiễn, hành xử, giọng điệu đối đãi giữa kẻ ở người đi, thì lại cho một giọng thơ hiện đại, trẻ trung. Và giọng thơ hiện đại phát triển rõ dần hơn qua từng câu tới cuối bài, đặc biệt ở khổ kết: Mẹ thà coi như chiếc lá bay/ Chị thà coi như hạt bụi/ Em thà coi như hơi rượu cay… thật ấn tượng. Trong cảnh “ly khách” kẻ ở người đi, có 4 đối tượng nhân vật đưa tiễn thì ba đối tượng là thân nhân ruột thịt, khác nhau ở lứa tuổi, thế hệ và vì thế họ đã thể hiện ba tâm trạng, cách biểu hiện cũng rất khác nhau. Với người mẹ thì thấy hình ảnh “lá bay”, lá rơi về cội; người chị thấy hình ảnh tương đồng sự hiểu biết xã hội, tôn giáo “như hạt bụi”; người em nhỏ thơ ngây thì lại thấy người anh ra đi trong tình nồng ấm, nhẹ nhàng “như men rượu cay”. Lý do phải “ly khách” dường đã được chia sẻ. Tình cảm gia đình đã từng bước nâng đỡ cho lý tưởng, ý nghĩa cuộc ra đi, cho tinh thần dân tộc. Từ điểm tựa sâu ẩn mà vững chãi đó, mới cho người ra đi hy vọng thực hiện được mục đích: Chí lớn chưa về bàn tay không!
Trong cuộc “ly khách” này, còn nhân vật thứ tư, nhân vật “ta”: “Ta – chỉ đưa người ấy” tâm trạng tỏ ra trăn trở, bâng khuâng, day dứt. Và dường như, từ cái tâm trạng khách thể bâng khuâng, day dứt đó đã cho nhân vật “Ta” thấy được vẻ tình, vẻ hình sắc thiên nhiên ngoại giới cũng như trong tâm tưởng:
             Đưa người ta không đưa qua sông
Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
Bóng chiều không thắm không vàng vọt
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?
Và nhờ vậy văn học sử mới có được thi phẩm xuất sắc này. Kể từ bấy tới nay, câu thơ này, bài thơ này đã sống và sẽ còn sống bất tử trong lòng người yêu thơ.
 Lời bình của ĐỖ TRỌNG KHƠI 

Vài suy nghĩ về bài thơ “Tống biệt hành” – Hoàng Trọng Hà

Tống biệt hành
Chân dung ký họa của nhà thơ Thâm Tâm
Chân dung ký họa của nhà thơ Thâm Tâm
Đưa người, ta không đưa qua sông
Sao có tiếng sóng ở trong lòng
Bóng chiều không thẳm, không vàng vọt
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?
Đưa người ta chỉ đưa người ấy
Một giã gia đình một dửng dưng…

-Li khách! Li khách! Con đường nhỏ,
Chí nhớn chưa về bàn tay không
Thì không bao giờ nói trở lại!
Ba năm mẹ già cũng đừng mong.

Ta biết người buồn chiều hôm trước:
Bây giờ mùa hạ sen nở nốt,
Một chị, hai chị cũng như sen,
Khuyên nốt em trai dòng lệ sót.

Ta biết người buồn sáng hôm nay:
Giời chưa mùa thu tươi lắm thay
Em nhỏ ngây thơ đôi mắt biếc
Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay…

Người đi? Ừ nhỉ, người đi thực!
Mẹ thà coi như chiếc lá bay.
Chị thà coi như là hạt bụi,
Em thà coi như hơi rượu say.
1940

Khi sáng tác “Tống biệt hành”(1940) có lẽ Thâm Tâm cũng không ngờ rằng bài thơ của mình sẽ để lại nhiều ẩn số cho hậu thế. Cuộc đời của ông ngắn ngủi. Tác phẩm ông để lại không nhiều. Nhưng chỉ với một “Tống biệt hành”, ông đã được lưu danh vào lịch sử văn học nước nhà. “Tống biệt hành” không chỉ là một trong những bài thơ hay nhất của phong trào Thơ Mới mà còn xứng đáng là một kiệt tác của thơ Việt Nam hiện đại.

1. Một bài thơ còn những ẩn số:

Lâu nay, khi bàn đến “Tống biệt hành”, còn nhiều ý kiến khác nhau, chủ yếu xoay quanh hình tượng người tiễn đưa và hình tượng li khách.

“Tống biệt hành” là một bài thơ trữ tình nhưng lại có nhiều nhân vật: người tiễn đưa, li khách cùng với mẹ, hai người chị và em nhỏ của li khách. Trong đó, hai nhân vật quan trọng xuyên suốt cả bài thơ là người tiễn đưa – “ta” và li khách – “người”. Li khách là nhân vật trung tâm của tác phẩm. Mọi ý tưởng và cảm xúc, kể cả cách tổ chức lời thơ, kết cấu tác phẩm đều liên quan mật thiết đến nhân vật này.

Về hình tượng người tiễn đưa đã có hai cách hiểu. Cách hiểu thứ nhất, cách hiểu khá phổ biến: tác giả trong vai một người bạn đang tiễn bạn mình đi xa. Giữa họ có một tình bạn rất tri kỉ. Cách xưng hô “ta” – “người”, thân thiết nhưng vẫn thể hiện sự tôn trọng. Đồng thời nó cũng làm hiện lên tư thế của những trang nam nhi mang chí lớn.

Cách hiểu thứ hai cho rằng “Thâm Tâm đã nhập vai bạn gái của người ra đi”(1), xem người tiễn đưa là người yêu của li khách dựa vào các căn cứ: “Đôi “mắt trong” chứa đầy “hoàng hôn” kia chỉ có thể là mắt của phái đẹp”(2), “Ta chỉ đưa người ấy”, “Ta biết” là vì ta quá hiểu chàng, quá hiểu nội tâm của chàng”(3). Những ý kiến này được đưa ra hết sức mới mẻ và táo bạo.

Nhưng tại sao “Đôi “mắt trong” chứa đầy “hoàng hôn” kia chỉ có thể là mắt của phái đẹp” (nghĩa là của người tiễn đưa) mà không phải là đôi mắt của li khách? Dựa vào nội dung và kết cấu bốn câu đầu bài thơ, không có gì là phi logic khi cho rằng hai câu ba, bốn nhằm nói đến li khách chứ không phải người tiễn đưa (như ở hai câu một, hai). Hơn ai hết, người tiễn là người có thể nhìn thấy hết mọi diễn biến, trạng thái của li khách – đối tượng mà mình quan sát, khắc họa (thấy “hoàng hôn trong mắt trong” của người đối diện hợp lí hơn là thấy hoàng hôn trong mắt mình). Và nếu căn cứ vào giọng điệu, khẩu khí rắn rỏi, ngang tàng, dứt khoát của bài thơ thì cách hiểu thứ nhất vẫn thuyết phục hơn.

Về hình tượng li khách cũng có hai cách hiểu. Cách thứ nhất dựa vào lời kể của bạn bè Thâm Tâm, xem li khách là người chiến sĩ cách mạng đang giã từ gia đình lên chiến khu. Cách thứ hai dựa vào việc phân tích hình tượng trong văn bản, xem li khách chỉ là một trang nam nhi mang chí lớn chứ không phải là người cách mạng. Hiểu theo cách này hợp lí hơn, vì thực ra li khách có phải là người cách mạng hay không, điều này không ảnh hưởng đến bản chất của hình tượng. Vấn đề quan trọng liên quan đến hình tượng li khách lại nằm ở ba câu cuối bài thơ.

Cắt nghĩa đầy đủ, chính xác ba câu kết của “Tống biệt hành”: “Mẹ thà coi như chiếc lá bay / Chị thà coi như là hạt bụi / Em thà coi như hơi rượu say” sẽ giúp làm sáng tỏ thêm hình tượng li khách. Trong trường hợp này đã có ba cách giải thích.
Cách thứ nhất là người ra đi “… như một đấng trượng phu: chí lớn coi nặng như núi Thái; mẹ già, chị gái, em thơ đều coi nhẹ như lông hồng”(4). Nếu hiểu như thế thì người ra đi thật lạnh lùng, tàn nhẫn và vô hình trung đã làm nhẹ đi sự giằng xé giữa tình và chí, do đó mà làm giảm kích thước của hình tượng li khách. Bởi vì chính sự giằng xé nội tâm đã làm nên tầm vóc của li khách và vẻ đẹp của tác phẩm.

Cách thứ hai dựa vào sự phỏng đoán những chỗ chưa rõ nghĩa, “tỉnh lược” trong ba câu thơ: “Mẹ thà coi (con) như chiếc lá bay / Chị thà coi (em) như là hạt bụi / Em thà coi (anh) như hơi rượu say” để phân tích hình tượng li khách. Cách này khá phổ biến, dễ được người đọc chấp nhận và từng được nhiều giáo viên THPT lấy làm chỗ dựa cho bài giảng của mình.

Gần đây có thêm một cách giải thích khác cho rằng người ra đi đã “nhẹ hóa”(5) nỗi đau chia li. Điều này quả thực có sức thuyết phục. Nhưng liệu có phải là suy diễn hay không khi cắt nghĩa ba câu thơ như sau: “Người đi cứ “coi như” mẹ già xem bản thân mình là gốc cổ thụ, còn đứa con là chiếc lá từ đó bay xa, chứ không phải lìa rơi… người chị rơi chút nước mắt chỉ như bởi do con mắt vương phải hạt bụi mà thôi, đâu phải khóc mình ra đi… Đứa em, trong con mắt anh, đỏ hoe đôi mắt bởi thương nhớ người anh đấy, cũng cứ “coi như” do môi nhấp chút rượu nồng khiến “đỏ mặt lên rồi chếnh choáng say…”(6)?

Vậy thì sự nhẹ hóa nỗi đau chia li trong ba câu cuối phải chăng là: “Mẹ thà coi (việc con đi nhẹ) như chiếc lá bay / Chị thà coi (việc em đi nhỏ) như là hạt bụi / Em thà coi (việc anh đi nhẹ) như hơi rượu say”?

Nói chung, ai cũng có thể cảm được cái hay của “Tống biệt hành”, nhưng lí giải tận chân tơ kẽ tóc mọi tình ý trong bài thơ quả không dễ. Có lẽ điều này đã làm cho bài thơ càng trở nên hấp dẫn và thú vị hơn, lung linh và kì ảo hơn trong cảm nhận của người đọc.

2. Nghệ thuật cấu tứ độc đáo:

Có một điều mọi người dễ nhận thấy và thống nhất với nhau là “Tống biệt hành” vừa mang phong vị cổ xưa vừa hiện đại. Tính chất cổ xưa của bài thơ thể hiện ngay ở tên bài, nó cho thấy Thâm Tâm có sự kế thừa người xưa về mặt thể loại – “hành”, vừa có sự kế thừa ở đề tài tống biệt, chưa kể hình tượng li khách còn gợi cho người đọc liên tưởng đến cuộc ra đi của Kinh Kha ở sông Dịch.

Hành là thể thơ cổ Trung Quốc, thường viết theo thể thất ngôn hoặc ngũ ngôn, “Đặc điểm của nó là tự do, phóng túng, lớn, nhỏ, dài, ngắn đều không cố định… Tống biệt hành của Thâm Tâm vận dụng các đặc điểm đó. Câu thơ bảy chữ tự do, đầy câu hỏi, câu nói, nhiều trùng điệp, vần trắc, vần bằng xen nhau tạo thành giọng thơ rắn rỏi, gân guốc, ngang tàng, vừa cổ điển, vừa hiện đại”(7).

Tuy viết về đề tài tống biệt quen thuộc và đề cập đến chí làm trai của con người thời đại nhưng Thâm Tâm đã có những sáng tạo và có cách thể hiện độc đáo. Người xưa đưa tiễn nhau thường gắn với những không gian, địa danh, địa chỉ cụ thể, đặc biệt là bến sông. Con sông trở thành nhân chứng của những cuộc chia ly. Người xưa có câu: “Đừng làm thuyền trên sông / Thuyền đưa người ly biệt / Đừng làm trăng trên sông / Trăng soi người biệt ly”. Cuộc tiễn đưa trong “Tống biệt hành” diễn ra trong một không gian, thời gian không có gì đặc biệt: không ở bến sông mà lòng lại có sóng. Không phải sóng từ ngoại cảnh tác động hồn người mà chính là tình cảm đã làm dậy sóng trong lòng người. Với người xưa, ngoại cảnh quyết định tâm trạng. Với Thâm Tâm, tâm trạng không lệ thuộc ngoại cảnh. Hình ảnh “sóng lòng” và “hoàng hôn” đã diễn tả chính xác những tình cảm kín đáo của người trong cuộc. Bốn câu thơ với hai câu hỏi – hai nỗi băn khoăn đã cho thấy thật khó dùng lý trí để đè nén tình cảm tự nhiên của con người.

Khác với cấu tứ thơ Đường là thường dựa trên các mối quan hệ: không gian – thời gian, xưa – nay, động – tĩnh, thực – hư, hữu hạn – vô hạn, biến – bất biến… cấu tứ của “Tống biệt hành” chủ yếu dựa trên nghệ thuật tương đồng và tương phản.

Ở khổ đầu của bài thơ, nghệ thuật tương đồng được Thâm Tâm sử dụng rất điêu luyện. Bốn câu thơ được chia thành hai phần cân xứng với nhau. Hai câu thành một cặp, mỗi cặp là một câu hỏi. Câu hỏi thứ nhất nhằm diễn tả nỗi lòng của người đưa tiễn, còn câu hỏi thứ hai là nỗi lòng người ra đi, tạo nên sự đối xứng “ta” – “người”. Tình cảm của người tiễn được nói bằng “sóng lòng”, tình cảm của người đi được nói bằng “hoàng hôn trong mắt”. Sự tương đồng, cân xứng ấy khiến cho khổ thơ có được sự hài hòa và đồng điệu trong tình cảm của những người trong cuộc.

Trong ba khổ cuối bài thơ lại có sự tương đồng giữa “Ta biết người buồn chiều hôm trước” với “Ta biết người buồn sáng hôm nay”, giữa tình cảm của hai người chị dành cho li khách với tình cảm của em nhỏ dành cho li khách. Kết thúc là ba câu thơ lặp kết cấu: “Mẹ thà…”, “Chị thà…”, “Em thà…”.

Tuy nhiên thủ pháp nghệ thuật xuất sắc nhất chính là tương phản: tương phản giữa người và cảnh: cảnh trung tính – người buồn rầu. Để làm nổi bật điều này, Thâm Tâm đã dùng phủ định để khẳng định – phủ định ngoại cảnh để khẳng định nội tâm qua sự tương tác giữa “không” và “có”: “không đưa qua sông”, “không thắm không vàng vọt” nhưng “có tiếng sóng” và “đầy hoàng hôn”. Đặc biệt là tương phản trong chính con người: tương phản giữa bề ngoài và tâm trạng. Bề ngoài li khách tỏ ra lạnh lùng, thản nhiên (“Một giã gia đình một dửng dưng”) nhưng bên trong lại buồn đau (chi tiết “hoàng hôn trong mắt trong”). Đó cũng là tương phản giữa lý trí và tình cảm. Bi kịch ở chỗ người ra đi chí lớn mà tình lại nặng. Những lời uất nghẹn ở cuối bài đã chứng minh điều này. Nhờ vậy mà nhân vật li khách trở thành hình tượng mang vẻ đẹp, sự đặc sắc hiếm có.

Có thể nói, những giằng xé nội tâm đầy bi kịch trong một cuộc chia tay đã được Thâm Tâm thể hiện một cách độc đáo. Đây chính là đóng góp mới mẻ của ông ở một đề tài rất quen thuộc.

(1), (2) và (3) Mai Văn Hoan, “Người đưa tiễn trong “Tống biệt hành”, Nhà văn 16/1/2012.
(4) và (7) GS. Trần Đình Sử, “Về bài thơ “Tống biệt hành” của Thâm Tâm, Báo Giáo dục và Thời đại, số 28 ngày 7/10/1992.
(5) và (6) Hoàng Thái Sơn, “Về ba câu kết bài thơ “Tống biệt hành”, Nhà văn TpHCM, 18/8/2011.

Hoàng Trọng Hà

Dòng Thơ Chính Khí thời tiền chiến – Viên Linh

Thâm Tâm là một trong tam anh thời tiền chiến, bên cạnh Nguyễn Bính và Trần Huyền Trân. Họ là ba người bạn thơ thân nhau nhất

Nếu Xuân Diệu cùng nhóm Tự Lực Văn Ðoàn mang vào văn học thời đó tình đôi lứa với những ảnh hưởng Tây Phương chói chang, trong âm thanh sình sịch của “ô-tô,” thì Thâm Tâm và hai bạn sống với không khí hào sảng của võ hiệp, không thực sự kiếm cung nhưng đến với đời bằng bút mực giang hồ, khổ công lập thân từ văn chương, lui tới với nhau bằng chữ nghĩa. Tình đôi lứa quấn quýt trong Xuân Diệu và các thi sĩ lãng mạn, tình “tứ hải giai huynh đệ” bát ngát trong Thâm Tâm. Bài Tống Biệt Hành của ông là bài thơ về tình bạn và tình bạn thời đại có một không hai trong Thi Ca Việt Nam thời Tiền Chiến: trong tình bạn này, gia đình bị bỏ lại bên ngoài. Trong bài thơ này, tâm thức nhiệt tình của trai thời thế, ngôn ngữ khí khái của người ngang dọc, thật hiếm hoi, đã thấy hiện lên bập bùng ngọn lửa từ một bó đuốc, thứ lửa khơi dậy giữa đồng, và lửa cháy trong lòng, trong huyết quản, của những cuộc đời đầy mộng tưởng bôn ba trong một miền sông núi cuồn cuộn chuyển mình:

Tống Biệt Hành

Ðưa người ta không đưa sang sông
Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
Bóng chiều không thắm, không vàng vọt
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?

Ðưa người, ta chỉ đưa người ấy
Một giã gia đình, một dửng dưng…
– Ly khách! Ly khách! Con đường nhỏ
Chí lớn chưa về bàn tay không,
Thì không bao giờ nói trở lại!
Ba năm, mẹ già cũng đừng mong.

Ta biết ngươi buồn chiều hôm trước:
Bây giờ mùa hạ sen nở nốt,
Một chị, hai chị cũng như sen
Khuyên nốt em trai dòng lệ sót.

Ta biết ngươi buồn sáng hôm nay:
Trời chưa mùa thu, tươi lắm thay,
Em nhỏ thơ ngây đôi mắt biếc
Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay…

Người đi? Ừ nhỉ, người đi thực!
Mẹ thà coi như chiếc lá bay,
Chị thà coi như là hạt bụi,
Em thà coi như hơi rượu say.
1940
Bài này Thâm Tâm làm trong một tiệc rượu để tặng một người bạn đi kháng chiến trước ông, tên là Phạm Quang Hòa. Bữa tiệc do ông Hòa khoản đãi, có mời thêm hai người khác của nhóm tam anh, là Nguyễn Bính và Trần Huyền Trân. Trong cuốn “Thâm Tâm và T.T.KH.” do nhà xuất bản Hội Nhà Văn in năm 1991 ở Hà Nội, tác giả Hoài Việt viết như sau, theo lời kể lại của ông Hòa: “Ngày ra đi, bác có mời Thâm Tâm, Trần Huyền Trân, Nguyễn Bính cùng uống rượu chia tay. Buổi đó, ba nhà thơ đều có làm thơ tiễn bác… Bài Tống Biệt Hành chính là do Thâm Tâm viết để tặng bác. Cũng theo bác, bài đó có 4 câu cuối mà không hiểu sao tất cả các bản in từ trước tới nay đều bỏ sót.” (Thâm Tâm và T.T.KH trang 67-68). Bốn câu ấy như dưới đây, có đăng trên Tiểu Thuyết Thứ Bảy, năm 1940, mà khi in ở trong Thi Nhân Việt Nam năm 1941, không thấy hai ông Hoài Thanh Hoài Chân chép vào:

Mây thu đầu núi gió lên trăng
Cơn lạnh chiều nao đổ bóng thầm
Ly khách ven trời nghe muốn khóc
Tiếng đời xô động, tiếng hờn câm.

Chính do việc tác giả Thi Nhân Việt Nam bỏ đi 4 câu chót, mà sự truyền tụng sau này về bài Tống Biệt Hành đã thiếu sót. Cuộc tiễn đưa không diễn ra nơi một bờ sông, mà lại có tiếng sóng ở trong lòng, cho nên bờ sông ấy chỉ có, chỉ hiện lên giữa bốn người bạn quanh bàn rượu: Con sông Dịch, nơi Kinh Kha biệt Yên Ðan, vào Tần mưu việc lớn. Chia tay hôm nay nhưng lòng sống với Sử cũ. Cuộc phân ly không phải giữa hai người tình, đây là cuộc ly biệt gia đình. Người trai trong nhà dứt áo ra đi, bỏ lại những người đàn bà thương nhớ nhất: người mẹ, các chị và em gái. Mẹ âm thầm không nói. Chị khuyên nhủ đôi lời. Em gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay. Thế mà anh ta đi thực. Anh ta lo nghĩ lâu rồi, anh ta buồn từ chiều hôm trước, không phải anh ta mới nhất quyết vào sáng hôm nay…

Vọng Nhân Hành là một bài khác của Thâm Tâm nói rõ hơn nữa về tình bạn, và tình bạn thời đại. Mấy người trai tráng gặp nhau, mỗi người một chí, người nào cũng muốn “làm một cái gì” cho cuộc đời, cho đại sự. Thơ Thâm Tâm trong dòng cảm xúc này, gần với những tấm gương “giang hồ khí cốt” của các anh hùng Lương Sơn Bạc, những giấc mộng lấp biển vá trời của thời Xuân Thu Chiến Quốc bên Tầu.

Vọng Nhân Hành

Thăng Long đất lớn chí tung hoành
Bàng bạc gương hồ ánh mắt xanh
Một lứa chung tình từ tứ chiếng
Hội nhau vầy một tiếc quần anh.

Mày gươm nét mác chữ nhân già
Hàm bạnh hình đồi, lưng cỗi đa
Tay yếu đang cùng tay mạnh dắt
Chưa ngất men trời hả rượu cha.

Rau đất cá sông gào chẳng đủ
Nổi bùng giữa tiệc trận phong ba
Rằng: “Ðương gió bụi thì tơi tả
Thiên hạ phải dùng thơ chúng ta!”

Thơ ngâm giở giọng, thời chưa thuận
Tan tiệc quần anh, người nuốt giận
Chim nhạn, chim hồng rét mướt bay
Vuốt cọp, chân voi còn lận đận.

Thằng thí cho nhàm sức võ sinh
Thằng bó văn chương đôi gối hận
Thằng thư trói buộc, thằng giã quê
Thằng phấn son nhơ chửa một về!

Sông Hồng chẳng phải xưa Sông Dịch
Ta ghét hoài câu “nhất khứ hề”
Ngoài phố mưa bay: xuân bốc rượu
Tấc lòng mong mỏi cháy tê tê

-Ới ơi bạn tác ngoài trôi giạt
Chẳng đọc thơ ta tất cũng về.

(Tiểu Thuyết Thứ Bảy, 1944)

Thơ làm theo thể hành, là thể khẩu khí khích động, gần với hịch. Hịch dành cho quân sĩ, hành dành cho lãng tử, anh hùng. Nhận định về bài Tống Biệt Hành, hai anh em Hoài Thanh Hoài Chân viết trong Thi Nhân Việt Nam: “Ðiệu thơ gấp. Lời thơ gắt. Câu thơ rắn rỏi, gân guốc. Không mềm mại uyển chuyển như phần nhiều thơ bay giờ. Nhưng vẫn đượm chút bâng khuâng khó hiểu của thời đại.” (Thi Nhân Việt Nam, Novembre 1941, tr.290)

Cái “bâng khuâng khó hiểu của thời đại” nó nằm trong hai chữ “hờn câm” ở đoạn thơ 4 câu chót, mà ông Hoài Thanh đã bỏ đi. Hai bài thơ trên làm nên Thâm Tâm, người thi sĩ có giọng thơ hành hiệp của nam nhi thời chiến quốc, mặc dầu cuộc sống của ông không cho thấy điều đó. Nhưng thơ ông cho thấy điều đó:

Rầm trời chớp giật mưa mau,
Lửa đèn chấp chới, khói tàu mù u
Bốn phương đây bạn đó thù
Hiệu còi xoáy lộng bản đồ năm châu.

– A, cơn thảo muội bắt đầu
Tuổi xanh theo gió ngâm câu dặm dài…

(Thâm Tâm, Tráng Ca, 1944)

Còn gì rõ ràng hơn? Thơ ông không nhiều, song niềm thao thức về sự vận động của thời đại hiện ra rất rõ. Ông đã lên đường tham gia kháng chiến rất tích cực. Tích cực hơn là người ta biết. Ông từ trần trong một lán người Thượng (Lán Na Pò) trên vùng Việt Bắc, vì bị sốt rét ngã nước, trong khi đi công tác. Hôm ấy là ngày 18 tháng 8, 1950, ông vừa qua tuổi 33 được 3 tháng, 6 ngày (ông sinh ngày 12 tháng 5, 1917), và đang là Thư ký Tòa soạn tờ báo kháng chiến tên là Vệ Quốc Quân. Năm 1950 thanh niên đi kháng chiến chưa rõ lắm về các chủ trương của ông Hồ, coi việc kháng chiến là việc cứu nước đuổi thực dân xâm lược Pháp. Ðó là thời rực rỡ của những thơ văn thắm thiết tình Yêu Nước. Một phóng viên báo Vệ Quốc Quân kể lại như sau: “…Tới Cao Bằng, bỗng một hôm anh [Thâm Tâm] kêu mệt. Anh sốt, nằm ở một căn nhà sàn, gần biên giới… Tôi cũng tưởng anh chỉ sốt bình thường một hai ngày rồi qua khỏi. Ðến một buổi chiều, tôi được cử xuống đơn vị. Trước khi đi, tôi vào ngồi với anh một lát. Tôi nắm tay anh, thấy rất nóng. Mắt anh vàng hơn ngày thường. Anh bảo tôi đưa anh sang một chỗ nằm khác cho thoáng hơn. Tôi ôm lấy lưng anh, dắt đi. Anh vừa run lẩy bẩy vừa khẽ bảo:

– Mình thấy trong người thế nào ấy. Cậu đi khỏe nhé.

Tôi không thể ngờ đó là câu cuối cùng của anh nói với tôi. Ở đơn vị được một tuần, một hôm bỗng Thôi Hữu gặp tôi, báo tin là Thâm Tâm đã mất.” (Hoài Việt, Thâm Tâm và T.T.KH, tr. 19).

Trong tập Văn Học I, NXB Tác Phẩm Mới in tại Hà Nội vào năm 1985, Từ Bích Hoàng viết: “…dọc đường đi lên biên giới (thu 1950), khi tới Quảng Uyên thì Thâm Tâm bị sốt cao, anh em trong đoàn phải gửi anh lại… Anh được đưa vào một nhà sàn ở Nà Pò và được một chú liên lạc viên đêm ngày săn sóc chu đáo. Tuy ốm nặng nhưng anh không kêu than và cũng không giối giăng lại gì khi mất. Anh được chôn cất luôn tại bản Nà Pò. Chú liên lạc, sau khi anh mất, đã xin được bà con dân bản một mảnh vải trắng làm khăn tang và chỉ duy nhất đó là người để tang cho Thâm Tâm.” (trang 140).

Năm 1945 ông đã đi, góp cái thân thể nhỏ nhoi, thêm cánh tay gầy guộc cho kháng chiến. Nhưng kháng chiến không để lại gì trong thơ Thâm Tâm. Những gì ông để lại là những gì đã viết trên Tiểu Thuyết Thứ Bảy, giai đoạn từ 1937 tới khoảng 1944. Hào khí trong thơ Thâm Tâm có trước giai đoạn kháng chiến. Cái sức lực suy nhược ấy không cất nổi gánh nặng ở đời, nhưng biến thành Thơ, thành Hành, trở thành hào khí của những bài thơ, bài hành nổi tiếng nhất trong những bài thơ bài hành Việt Nam, về tâm huyết trai trẻ của một nước đang sống trong thời bị trị, mặc dù xung quanh tràn ngập những sáng tác lãng mạn, của một nền thi ca lãng mạn và tượng trưng, với những Xuân Diệu, Lưu Trọng Lư, Huy Cận, Bích Khê,… Rõ ràng Thâm Tâm thuộc dòng Thơ Chính Khí ngay từ đầu, và cho tới khi nằm xuống.

Nguồn: Dong tho chinh khi-nguoi-viet.com

Tống biệt hành – Khúc hòa tấu trầm hùng bi tráng – Nguyễn Tống

Li biệt, tiễn đưa, rồi bâng khuâng hoài nhớ là những hiện tượng thường tình trong cuộc sống của con người. Nó cũng là một chủ để phổ biến của thi ca. Bới, hơn ai hết, thi sĩ vốn có một trái tim đa cảm; mà phút giây tiễn biệt người thân, thường xao động những tình cảm dạt dào trong miền sâu thẳm của cõi lòng, để rồi tràn tuôn thành những vần thơ chân thành tha thiết. Người đọc từng hình dung  đôi mắt đăm đăm của Lí Bạch dõi theo bóng của Mạnh Hạo Nhiên xuôi dòng Trường Giang, như đang cố khắc ghi một lần cuối cùng nhân ảnh của bạn trong tâm tưởng bùi ngùi, vào tháng ba, mùa hoa khói nơi lầu Hoàng Hạc năm xưa.

“Cô phàm viễn ảnh bích không tận

Duy kiến Trường Giang thiên tế lưu”

Dịch thơ:

“Bóng buồm đã khuất bầu không

Trông theo chỉ thấy dòng sông bên trời”

(Ngô Tất Tố)

Trong những năm 40 của thời hiện đại, giữa bầu không khí rộn ràng của thi đàn Thơ Mới, Thâm Tâm lại tìm về giai điệu “Hành” vốn từng ngân vọng ở Trung Hoa trước thời Đường, Tống, để tấu nên khúc “Tống biệt hành” như một bản độc tấu trầm hùng bi tráng, “đượm chút bâng khuâng khó hiểu của thời đại”, làm cho các văn nhân, thi sĩ phải giật mình ngỡ ngàng với âm thanh lạ mà đã như quen, đưa ta về một thời xa vắng . Giọng thơ gợi ra những liên cảm trân trọng ở bạn đọc về đối thể trữ tình có dáng dấp và lí tưởng như chàng Kinh Kha năm xưa bên bờ sống Dịch Thuỷ, từ giả thái tử Đan và quân dân nước Yên để vào đất Tần mưu chí lớn: hành thích tên bạo chúa Tần Thuỷ Hoàng

“Đưa người ta không đưa qua sống

Sao có tiếng sóng ở trong lòng

Bóng chiều không thắm không vàng vọt

Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong”

Lời thơ vang lên làm ta không khỏi băn khoăn bởi thơ hết sức lạnh lùng, hờ hững. Nếu không có tình cảm sâu nặng, ai cần phải tiễn đưa gượng ép làm gì? Câu thơ mở bài là ý niệm của lí trí tỉnh táo, được khách thể hoá thêm mối quan hệ bằng hữu thân thiết thành hai đại từ nhân xưng “Người và Ta” nghe hết sức xa lạ.

“Đưa người ta chỉ đưa người ấy

Một giã gia đình, một dửng dưng”

Không gian tiễn đưa là dòng sông lạnh như muốn mượn sự vô cảm cách ngăn của tạo hoá để cho việc tiễn đưa diễn ra nhanh chóng, không có điều kiện lưu luyến vấn vương. Dẫu như vậy, trong cõi lòng sâu thẳm của kẻ tiễn đưa vẫn dậy lên những con sóng tình cảm xôn xao, dù không qua sông chòng chành trên sóng nước. Bóng chiều vẫn chưa thay đổi gì lắm trong khảnh khắc ngắn ngủi của cuộc chia tay; nhưng hoàng hôn – ngấn lệ bồi hồi – đã dâng đầy đôi mắt trong trẻo. Đây là cảnh tiễn đưa giữa các đấng nam nhi, tất nhiên không có những dòng lệ chan chứa như “Giang Châu Tư Mã đẫm mùi áo xanh”. Thực ra, vẻ tỉnh táo bên ngoài chỉ là một sự kềm nén cảm xúc có tính giả tạo; còn bên trong đang hình thành dần một khoảng trống lạnh tâm tư, như Hàn Mặc Tử từng ngậm ngùi:

“Người đi một nửa hồn tôi mất

Một nửa hồn tôi bỗng dại khờ”

Chỉ khúc dạo đầu mà sao có tới ba từ “không” phủ định vang lên với những câu nghi vẫn tu từ “Sao có…”, “Sao đầy…” như là một sự thẩm định tình cảm bằng hữu sâu nặng giữa kẻ đưa tiễn với người ra đi. Chính trong trạng thái lắng lòng ấy, chủ thể trữ tình đã nghe vang động lên nhịp chân trầm lặng của li khách trên con đường nhỏ mang theo hoài bão lớn của người ra đi; nghe cả lời tâm niệm thầm kín đầy tính hi sinh trong dòng suy nghĩ lựa chọn đầy khó khăn của kẻ ra đi:

“Li khách Li khách con đường nhỏ

Chí lớn chưa về bàn tay không

Thì không bao giờ nói trở lại

Ba năm mẹ già cũng đừng mong”

Ý thơ đột ngột chuyển từ tiết tấu mênh mang sâu lắng, sang rắn rỏi dứt khoát với những từ phủ định những bịn rịn, yếu mềm như “không bao giờ…, cũng đừng mong” . Những tín hiệu nghệ thuật này góp phần làm nổi bật phong thái hiên ngang của tráng sĩ ra đi vì đại nghiệp, như Chính Hữu tưng phản ánh trong “Ngày về”:

“Nhớ đêm ra đi đất trời bốc lửa

Cả đô thành nghi ngút cháy sau lưng

Những chàng trai chưa trắng nợ anh hùng

Hồn mười phương phất phơ cờ đỏ thắm

Rách tả tơi rồi đôi giày vạn dặm

Bụi trường chinh phai bạc áo hào hoa”

Người mẹ thân thương yêu kính xuất hiện trong tâm thức của kẻ lên đường không hề là hình ảnh mỏng manh mờ nhạt. Nhưng khi đặt tình nhà trong tương quan với nghĩa nước, lòng hiếu thảo với sự tồn vinh của Tổ quốc, thì chắc ai cũng đồng cảm với sự chọn lựa của nhân vật trữ tình, chí lớn chưa thành thì dẫu ba năm mẹ già cũng đừng mong…

Đề tài li biệt thường phủ một gam màu mờ xám quan san như buổi Thúc Sinh từ giã Thuý Kiều. Các thi nhân thường chọn thời gian lá úa thu tàn để cho thiên nhiên “than thầm tiễn biệt”, “sau lưng thềm nắng lá rơi đầy” đưa bước người đi. Ở đây, người tiễn đưa thấu hiểu được nổi buồn liễm kết trong tâm tưởng kẻ lên đường từ khi xác định cho mình một lẽ sống mới.

Ta biết người buồn chiều hôm trước,

Bây giờ mùa hạ sen nở nốt,

Một chị, hai chị cũng như sen,

Khuyên nốt em trai dòng lệ sót.

Ta biết người buồn sáng hôm nay

Giời chưa mua thu tươi lắm thay

Em nhỏ thơ ngây đôi mắt biếc

Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay…

Ý thơ đột nhiên chuyển vào một sắc màu tươi vui rực rỡ của mùa hạ chói chang. Xét về lô gic diễn đạt thì lạc điệu vô cùng, lẽ nào Thâm Tâm không hiểu ra điều ấy, đây thực ra là một sự lạc điệu có tính cần thiết – một sáng tạo nghệ thuật độc đáo của thi nhân. Người đi để lại sau lưng là cả một gánh nặng gia đình đáng ra mình phải có trọng trách chu toàn: Mẹ già chỉ như chiếc bóng lay lắt với thời gian, những người chị yêu quí như những đoá hoa sen đáng tôn thờ, người em thơ ngây đang cần bàn tay anh dìu dắt… Ngôi nhà xưa với bao nghĩa tình ghi tâm khắc cốt đâu dễ gì xoá mơ trong kí ức để cho khỏi nặng lòng nhẹ bước viễn du. Phải chăng vì thế mà thi nhân cố đưa vào một bầu không khí tươi vui rực rỡ để làm nhoà bớt hoàng hôn trong mắt, giúp cho người ra đi tạm thời quên lãng trăm mối tơ vương đôi đường nặng nhẹ khó chu toàn đê lên đường vì chí lớn.

Thâm Tâm thật sâu sắc và tinh tế trong việc sắp xếp thứ tự xuất hiện rồi lui dần của những người thân: từ mẹ già, chị gái đến em thơ ngây. Cuối cũng trong phút biệt li chỉ còn lại kẻ tiễn, người đi không mang tình huyết thống. Có như thế người đi mới nhẹ bước lên đường. Đó quả là một sự sắp xếp hết sức ý nhị phù hợp với tâm trạng của con người.

Cuối cùng, tất cả tình cảm nén lại được vỡ oà sau lúc chia xa. Những giả định dối lòng trước hiện thực ngậm ngùi li biệt được thừa nhận cùng nhau khi chuyện đã rồi:

“Người đi? Ừ nhỉ người đi thực!

Mẹ thà coi như chiếc lá bay.

Chị thà coi như là hạt bụi.

Em thà coi như hơi rượu say.”

Khổ kết bài thơ là một sự cộng hưởng hoà điệu của nhiều tiếng lòng khác nhau. Mọi mối quan hệ tình cảm sâu nặng về nhau đều tạm thời “thà coi như” nhẹ vô cùng. Có thể người mẹ coi đứa con dứt ruột đẻ ra như một chiếc là bay vèo vào lòng Tổ Quốc đê góp thêm màu xanh cho đất nước. Người chị coi người em yêu quí như hạt bụi hoà vào Đất Mẹ góp thêm phù sa cho hoa trái tương lai. Người em xem người anh thần tượng như hơi rượu nồng tan loảng phôi phai trong hồn thơ trẻ vô tư. Có như vậy mới tạo điều kiện đứa con, đứa em, người anh yêu quí lên đường mưu chí lớn. Và ngược lại, người con cũng tạm xem người mẹ tôn thờ của mình là chiếc lá vàng sắp trở về trong cõi vô thường, coi những người chị quí như sen chỉ là hạt bụi cay cay trong mắt; và coi người em hồn nhiên ngây thơ như hơi men nồng loãng tan trong miền cảm giác, mới có thể dứt áo ra đi, để lại mái nhà xưa với bao người thân yêu một đời vương thương nhớ.

Bài thơ khép lại với một bản hợp tấu đa thanh đồng điệu có khả năng đồng vọng mãi trong trường liên cảm mến mộ của bạn đọc nhiều thế hệ đã qua cho đến hôm nay, và tin rằng mai sau vần thơ “Tống biệt hành” vẫn còn ngân vọng.

(Bài do PGS-TS. Phạm Quang Trung biên tập)

(*) Nguyễn Tống: Thạc sỹ Văn học, Giáo viên Trường Quốc học Huế.

Nỗi lòng uẩn khúc của hình tượng ” người ra đi” trong bài thơ ” Tống biệt hành ” của Thâm Tâm – Trần Liên

Trong cuộc đời, mỗi con người ai cũng đã từng chứng kiến những cảnh chia li tiễn biệt, không cuộc chia ly nào giống cuộc chia ly nào và đây ta bắt gặp ở bài thơ “Tống Biệt Hành” một cảnh chia ly rất đặc biệt.

Trước hết, ta cần biết người ra đi ở đây là ai? Đó là một “trang nam nhi” ôm”chí lớn” với khát vọng lên đường lập công. Nhưng cái đặc biệt đáng chú ý ở đây là anh ta lại có một gia cảnh rất nặng nề, éo le: đó là một mẹ già, hai chị luống tuổi chưa chồng và một em thơ còn nhỏ dại. Đáng lẽ ra anh phải ở nhà để phụng dưỡng mẹ già, cùng hai chị nuôi dạy em thơ thì mới phải đạo. Nhưng anh lại quyết tâm dứt áo ra đi để lại trong lòng người thân sự bạc bẽo, vô tâm của mình đối với họ:”Mẹ thà coi như chiếc lá bay/ Chị thà coi như là hạt bụi / Em thà coi như hơi rượu say” . Điệp từ “Thà coi” được nhắc lại sau mỗi đại từ xưng hô nhằm nhấn mạnh sự lạnh lùng, dửng dưng, dứt khoát quyết tâm ra đi bỏ lại cả một gia cảnh nặng nề đang cần ở anh một chỗ dựa.

Có phải anh ta bạc bẽo vô tình thật không? Ta hãy xem người bạn tri kỷ nhân vật “Ta ” cảm nhận được điều gì sau vẻ bề ngoài lạnh lùng ấy:

“Ta biết người buồn chiều hôm trước/ Ta biết người buồn sáng hôm nay” Tưởng rằng trang nam nhi ấy ra đi dửng dưng, kiêu bạt… Nhưng không đằng sau khuôn mặt tưởng chừng như vô cảm ấy, lạnh lùng ấy là những đợt sóng lòng ngổn ngang day dứt đầy uẩn khúc. Đó chính là một nỗi buồn triền miên” từ chiều hôm trướcđến sáng hôm sau Anh phải đối diện với chính mình đấu tranh để lựa chọn giữa tình và chí. Bổn phận núi kéo anh ở lại, khát vọng lại giục anh lên đường,anh phải chọn sao đây? Nếu như chỉ một bên nặng thì không sao, đằng này bên nào cũng sâu nặng. Cuối cùng, anh đã quyết định ra đi ; điều đó thuận với thời điểm lịch sử lúc bấy giờ, rất cần những thanh niên có chí lên đường để lập công phục vụ Tổ quốc- ” Nước có yên thì nhà mới ấm” Đó là trách nhiệm thiêng liêng cao cả của thế hệ thanh niên lúc bấy giờ.

Để có thể ra đi anh ta phải rắn lòng mình, bề ngoài phải tỏ ra dứt khoát lạnh lùng, dứt khoát ” Chí lớn chưa về bàn tay không/ Thì không bao giờ nói trở lại” những người chỉ nhìn thấy vẻ bề ngoài bề ngoài nên thấy anh là kẻ vô tình, bạc bẽo; chỉ có Ta, người bạn tri kỉ, người đưa tiễn anh mới thấu hiểu được nỗi lòng uẩn khúc bên trong của anh : đó là một nỗi buồn day dứt khôn nguôi ” Đưa người ta không đưa qua sông/ Sao có tiếng sóng ở trong lòng/ Bóng chiều không thắm không vàng vọt/ Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong” .Một sự đồng cảm thật kỳ diệu”trong mắt trong” ; “chứa đầy hoàng hôn”- Nỗi buồn vô tận không hiện ra ở vẻ bề ngoài mà phải nhìn thấu bằng cả tấm lòng đồng cảm của một người bạn tri kỉ mới thấu hiểu được tâm can đang giằng xé, day dứt của trang nam nhi phải lên đường vì chí lớnvì trách nhiệm đối với đất nước.

Như vậy, hình ảnh người ra đi trong bài thơ ” Tống biệt hành” được Thâm Tâm xây dựng bằng sự tương phản giữa vẻ bên ngoài và nội tâm bên trong. Bên ngoài tưởng dửng dưng , lạnh lùng, kiêu bạt mà bên tronglại đầy lưu luyến ngậm ngùi, giằng xé buồn bã; đây chính là nỗi lòng uẩn khúc của hình tượng người ra đi. Kết hợp với lời thơ nhẹ nhàng sâu lắng, lời ít ý nhiều đã làm nên sức hấp dẫn , sức sống trong lòng bạn đọc đối với bài thơ ” Tống biệt hành” của Thâm Tâm – Nhà thơ, người chiến sỹ đã hy sinh vì Tổ quốc.

Nguồn: NỖI LÒNG UẨN KHÚC CỦA HÌNH TƯỢNG ” NGƯỜI RA ĐI”