Nhân đọc “Tống biệt hành”, “Vọng nhân hành” cần khắc phục, thống nhất lỗi văn bản – Nguyễn Tý

Thật thú vị khi ngẫu nhiên, tôi đọc lại bài “Muốn giảng “Tống biệt hành” nên đọc “Vọng nhân hành” đúng tròn một năm trên Văn Nghệ số 49 (9-12-2006), trang 2 của tác giả Nguyễn Cao Sơn. Bài báo in trọn một trang, trong đó có in lại nguyên văn bài Vọng nhân hành nhưng có nhiều lỗi không thống nhất trong bài Nguyễn Cao Sơn viết và văn bản.

Thứ nhất về bài viết của ông Nguyễn Cao Sơn:

“Mài gươm nét mác, chữ nhân già
rồi: Chim nhạn, chim hồng nét mướt bay
hay: Thằng phấn son nhơ… chửa kịp về!

Sau đó, ông lại viết: “Đủ khắp lượt, không quên ai, bỏ ai. Tối cứ tin rằng, năm 1941 ấy, đọc và thấy có mình trong đoạn thơ này không ít nhà thơ tài danh, bất đắc chí đã… khóc!?!”. Vậy năm 1941 là để chỉ bài Tống biệt hành hay Vọng nhân hành đây. Vì ông đang trích dẫn những câu thơ trong bài Vọng nhân hành (?!).
lại đến: Ôi ơi! bạn tóc ngoài trôi giạt

Thứ hai đối chiếu với văn bản (gọi tắt của bài “Vọng nhân hành”):
Mày gươm/ rét mướt/ chửa một / Ối ơi.

Rõ ràng chưa thống nhất về mặt văn bản trên tổng thể một bài báo. Từ đó, gây hoang mang cho người đọc, không biết ông Nguyễn Cao Sơn hay văn bản ai đúng ai sai. Hay tại lỗi mo-rát.

Tôi chợt nhớ câu ông bà ta dạy “Bút sa gà chết”. Ở đây là để chỉ sự cẩn thận trong khi viết và trích dẫn văn bản. Chúng tôi xin mạn phép lược trích một số văn bản cho cả bài viết của ông Nguyễn Cao Sơn và văn bản, đặng đối chiếu những chữ đúng sai (*). Và bài Vọng nhân hành nếu không đặt đúng vào ngữ ảnh, hoàn cảnh, thời gian ra đời của bài thơ… e rất khó để bình giảng.

Một: Trong bài “Thâm Tâm – Tráng ca thời đại”, nhà thơ Hoài Anh viết: “…Bạn bè của Thâm Tâm hồi ấy chỉ có một vài người, trong đó có Trần Huyền Trân được Thâm Tâm vẽ lên bằng vài nét: Mày gươm nét mác chữ nhân già, Hàm bạnh hình đồi (đôi) lưng cỗi đa, Nguyễn Bính, Nguyễn Tố, Phạm Quang Hòa (Người đã từng viết những câu thơ rất thú vị: Đào Tiềm hai bận dứt công danh. Quay về vườn cũ như ta đấy. Mộng tiếc gì không, nói thực mình? Vợ “dạ” trở mình cho bớt lạnh, suốt đời em chỉ biết theo anh). Ngoài ra, lại có một anh người ở Lương Yên gần Lò Lợn, không làm văn thơ nhưng tính rất hào hiệp, đã được Thâm Tâm tả trong bài Can trường hành:

Hay đâu kẻ vũ đất Lương Yên
Một sớm nghe hùng câu giớ lên
Xách gói sang Nam không hẹn lại
Chỉ hiềm chẳng đụng đến cung tên

Cũng như anh này, Nguyễn Bính sau đó vào Nam; Phạm Quang Hòa ra đi làm cách mạng; Trần Huyền Trân tham gia văn hóa cứu quốc, khi Cách mạng tháng Tám nổ ra, tất cả mọi người đều đứng chung trong hàng ngũ chiến đấu của toàn dân. Thâm Tâm vui mừng thốt lên:

Có đi ra biển xem triều nước
Mới biết muôn sông đổ một dòng

Đó là lời tâm sự ông chép vào sổ tay của một đại biểu tham dự Đại hội Văn hóa toàn quốc ờ Hà Nội đầu năm 1946, cũng là tiếng reo vui khi hòa nhập vào dòng Cách mạng (1).
Và Hoài Anh đã trích bốn câu cuối trong bài Vọng nhân hành
“… Tôi mượn thơ Thâm Tâm viết trước đây để khóc ông:
Ngoài phố mưa bay: (,)  xuân bốc rượu
Tấc lòng mong mỏi cháy tê tê( .)
– Ới (Ôi, Ối) ơi(!) bạn tác(tóc) ngoài trôi giạt
Chẳng đọc thơ ta ( , ) tất cũng về” (2).

Hai: văn bản trên website http://vi.wikipedia.org (Bách khoa toàn thư mở) có trích lại tại địa chỉ: http://annonymous.online.fr/Thivien/viewpoem.php?ID=11807 với nguyên bản “Vọng nhân hành” cũng có vài chữ khác:

Hội nhau vầy (vẫy) một tiệc quần anh
Rằng: “Đương gió bụi mờ (thì) tơi tả
Thơ ngâm giở (dở) giọng, thời chua (3) (chưa) thuận
Ới (Ối) ơi bạn tác (tóc) ngoài trôi giạt (dạt).

Ba: Nguyễn Cao Sơn viết: “Để hiểu trúng và giảng đúng Tống biệt hành, ở bài này tôi lưu ý các bạn cần đọc thêm bài Vọng nhân hành viết sau đó 3 năm của Tâm Tâm (sai lỗi mo-rát: Thâm Tâm, chúng tôi nhấn mạnh – NT), năm 1944.

Tống biệt hành được in năm 1941, như vậy Vọng nhân hành chỉ ra đời sau 3 năm”.
Thế nhưng trong văn bản của nhà giáo Trần Hà Nam (Giáo viên trường THPT chuyên Lê Quý Đôn, Qui Nhơn, Bình Định) lại viết: “…Hiểu Thâm Tâm còn nhiều hướng tiếp cận khác. Nhưng tôi cứ ám ảnh 2 câu thơ trong Vọng nhân hành viết 4 năm sau (chúng tôi nhấn mạnh – NT) bài thơ Tống biệt hành, như một nối tiếp tâm trạng và chính là cách cắt nghĩa đầy đủ hơn hình tượng “ly khách” trong bài thơ:

Sông Hồng chẳng phải xưa sông Dịch
Ta ghét hoài câu “nhất khứ hề…”
(Vọng nhân hành – Thâm Tâm)

Và dưới bài viết ghi chú thời gian sáng tác Tống biệt hành là năm 1940.

Sau đó, trong bài “Con người lãng mạn trong TỐNG BIỆT HÀNH” (4), Trần Hà Nam nhắc lại hai câu:
“Bốn năm sau (chúng tôi nhấn mạnh – NT) khi viết Tống biệt hành, Thâm Tâm đã viết Vọng nhân hành (1944) có những câu:

Sông Hồng chẳng phải xưa sông Dịch / Ta ghét hoài câu “nhất khứ hề…”.
Như vậy,  ông Nguyễn Cao Sơn và nhà giáo Trần Hà Nam đã đưa ra thời gian sáng tác Tống biệt hành lại không thống nhất.

Được biết, sinh thời Thâm Tâm chưa in thơ thành tập. Theo Wikipedia (Bách khoa toàn thư mở) có đoạn: “Sáng tác thơ của ông được xuất bản năm 1988 trong sưu tập Thơ Thâm Tâm”. Thế nhưng ở phần Tác phẩm chính lại ghi cụ thể:

Thơ: Tống biệt hành (Thi nhân Việt Nam, 1942); Ngẫm nghĩ cố sự (**); Chào Hương Sơn; Ly biệt Vạn lý Trường thành (thơ in trên các báo trước 1945); Chiều mưa đường số 5 (1948); Thơ Thâm Tâm (1988) (***)
Kịch: Sương tháng Tám (kịch một hồi, Tiểu thuyết thứ bảy, 1939); Nga Thiên Hương; 19-8; Lối sống (1945); Lá cờ máu; Người thợ (1946).

Ở gần cuối bài viết, ông Nguyễn Cao Sơn viết: “… Hiểu thơ và giảng đúng huyền cơ tác giả, tưởng rằng đó là đã thắp một nén nhang thơm cho cố thi sĩ tài hoa Thâm Tâm vậy”.

Ông đã thành ý như thế nhưng không hiểu trong bài khi trích dẫn lại rối tung (sai với văn bản, nhiều lỗi mo-rát). Nếu cơ hồ như cách nói của ông: “Tôi không có ý định bình giảng bài Vọng nhân hành mà chỉ muốn gợi sự suy luận”, thì hà cớ gì ông lại đặt tiêu đề “Muốn giảng “Tống biệt hành” nên đọc “Vọng nhân hành” để hậu thế cứ suy diễn lung tung, rối bời cả lên, làm tội cho hàng vạn học sinh…

Chúng tôi rất mong muốn những nhà nghiên cứu, nhà văn, nhà giáo bổ sung về thời gian ra đời của Tống biệt hành là năm 1940 hay 1941. Vì đây là bài thơ duy nhất và hay nhất của Thâm Tâm được giảng dạy ở bậc trung học phổ thông (Văn học 11, Tập một, NXB Giáo dục, tái bản 2005, tr.147).

Để người đọc rõ hơn, chúng tôi xin trích nguyên văn bài Vọng nhân hành (****):

Thăng Long đất lớn chí tung hoành
Bàng bạc gương hồ ánh mắt xanh
Một lứa chung tình từ tứ chiếng
Hội nhau vầy một tiệc quần anh
Mày gươm nét mác chữ nhân già
Hàm bạnh hình đồi, lưng cỗi đa

Tay yếu đang cùng tay mạnh dắt
Chưa ngất men trời hả rượu cha
Rau đất cá sông gào chẳng đủ
Nổi bùng giữa tiệc trận phong ba
Rằng: “Đương gió bụi mờ tơi tả
Thiên hạ phải dùng thơ chúng ta!”

Thơ ngâm giở giọng, thời chua (4) thuận
Tan tiệc quần anh, người nuốt giận
Chim nhạn, chim hồng rét mướt bay
Vuốt cọp, chân voi còn lận đận
Thằng thí cho nhàm sức võ sinh
Thằng bó văn chương đôi gối hận
Thằng thư trói buộc, thằng giã quê
Thằng phấn son nhơ… chửa một về!
Sông Hồng chẳng phải xưa sông Dịch
Ta ghét hoài câu “nhất khứ hề”
Ngoài phố mưa bay: xuân bốc rượu
Tấc lòng mong mỏi cháy tê tê
– Ới ơi bạn tác ngoài trôi giạt
Chẳng đọc thơ ta tất cũng về.
(1944)

(*) Thống nhất chữ in nghiêng và đậm trước là của tác giả, sau bỏ trong ngoặc là trong văn bản bài báo trên Văn Nghệ.
(1), (2) Hoài Anh, Chân dung văn học, NXB Hội Nhà văn, 2001, trang 1185-1187.
(3), Có lẽ sai chính tả, chính xác hơn là chưa.
(4) http://www.ngoisaoblog.com/m.php?u=tranhanam&p=16547 của Trần Hà Nam ?
(**) Nhà văn Việt Nam hiện đại, NXB Hội Nhà văn, 1997, trang 15 lại ghi Ngậm ngùi cố sự. Không biết ai đúng ai sai ?
(***) Được trích thống nhất trong Nhà văn Việt Nam hiện đại (sđd) như trên. Nhưng trang website Wikipedi lại có thêm phần tác phẩm Kịch.

Chuyên đề: Văn học lãng mạn và hiện thực phê phán 1930-1945 (phần thơ): Tống biệt hành – Thâm Tâm

Trong phong trào Thơ mới của những nhà thơ sáng tác không nhiều nhưng ấn tượng để lại rất sâu đậm. Thâm Tâm là một trường hợp như vậy. Nét riêng trong thơ ông là giọng điệu trầm hùng và rắn rỏi, nói lên nỗi day dứt về thế sự và con người.
1. Tống biệt hành là một bài thơ hay. Đề tài “Tống biệt” là một đề tài quen thuộc trong kho tàng thơ ca Việt Nam và thơ ca thế giới. Thâm Tâm đã chọn đề tài này và viết theo thể hành, một thể thơ cổ phong có trước thơ Đường luật, viết khá tự do, phóng khoáng. Ngoài Tống biệt hành, ông còn viết một số bài thơ khác theo thể thơ này như Can trường hành, Vọng nhân hành, Tạm biệt hành.
Đề tài không mới, thể thơ cổ, nhưng tác giả lại đưa được vào đó cái không khí của thời đại mình đang sống, cái hoài bão của con người đương thời nên đã tạo ra nét độc đáo của bài thơ.
Bài thơ diễn tả tâm trạng và suy tư của “người tiễn” sau khi tiễn “người đi” (ly khách) ra đi tìm “chí lớn”. “Người tiễn” và “người đi” là hai người bạn cùng chí hướng, ôm ấp chí tung hoành, không muốn sống tầm thường. “Ta” trong bài thơ này là người tiễn; “ly khách”, “người” là “người ra đi”.
2. Đoạn đầu bài thơ (“Đưa người… mẹ già cũng đừng mong”) miêu tả nỗi lòng người đưa tiễn và sự quyết chí ra đi của người đi.
Bốn câu mở đầu cho thấy nỗi lòng xao xuyến thảng thốt của “người tiễn” khi “tống biệt” người ra đi. Ở đây có nỗi xúc động phấp phỏng, có nỗi buồn bã lo âu (Sao có tiếng sóng ở trong lòng. Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong). Tại sao người đưa tiễn lại có tâm trạng ấy? Bởi lẽ người đưa tiễn hiểu rằng mình đang tiễn một người quyết chí ra đi mà không thể khuyên can, không thể níu kéo. Người ra đi quyết hiến thân cho “ chí lớn”, quyết không trở về với “hai bày tay không”. Cho nên “không bao giờ nói trở lại”, “ba năm mẹ già cũng đừng mong”. Cuộc “tống biệt” có thể thành ra cuộc vĩnh biệt.
Con đường nhỏ ít người đi, đầy khó khăn trắc trở cuốn hút người đi rồi, đừng mong chi ngày gặp lại. Cho nên dù là cùng chí hướng, dù không phản đối việc ra đi, mà người tiễn vẫn không khỏi thảng thốt, tái tê kêu lên “Ly khách! ly khách! Con đường nhỏ”. Người tiễn gọi theo người ra đi như muốn níu kéo lại cái hình bóng dáng khuất dần trên con đường nhỏ.
3. Đoạn hai cũng là đoạn cuối bài thơ (Ta biết người buồn… như hơi rượu say)… Sau khi “người đi” đã đi rồi, người tiễn nhớ lại người ra đi và nỗi lòng “người ra đi” hiện lên trong sự nhớ lại đó.
Nếu như ở đoạn trước “người ra đi” được miêu tả có vẻ nhất quyết (“Một giã gia đình, một dửng dưng”) thì ở đoạn này tác giả miêu tả “người ra đi” cũng đầy day dứt: “Ta biết người buồn chiều hôm trước” lại “biết người buồn sáng hôm nay” nữa, chứ không phải như cái vẻ “dửng dưng” lúc ra đi.
“Ta biết người buồn chiều hôm trước” vì một chị, rồi hai chị khóc hết nước mắt “khuyên nốt em trai dòng lệ sót”. Có gì làm duyên cớ đều được đưa ra khuyên nốt, khuyên hết. Dòng lệ sót là những giọt nước mắt cuối cùng. Hết chị này đến chị kia, hết giọt nước mắt này đến giọt nước mắt khác đã chảy đến cạn kiệt để khuyên em ở lại. Trước một tình cảm như thế ta hiểu người buồn lắm. Đó chính là một nỗi cảm thông.
“Ta biết người buồn sáng hôm nay” khi “em nhỏ ngây thơ đôi mắt biếc”, “gói tròn thương tiếc” trong chiếc khăn tay đưa tặng… Như thế, hết “chiều hôm trước” đến “sáng hôm sau”, hết chị rồi đến em, tất cả những gì yêu thương ruột rà máu mủ đều muốn giữ lại người ra đi .
Nhưng người ra đi vẫn dứt áo ra đi. “Dòng lệ sót” của chị, “đôi mắt biếc” của em, rồi mẹ già “nắng ngã cành dâu” cũng không thể ngăn cản được, níu kéo được sự quyết chí ra đi của người đi. Khi người đi đã đi rồi, người tiễn vẫn như chưa dám tin:
Người đi? Ừ nhỉ, người đi thực!
“Người đi ?” với một dấu chấm hỏi như ngỡ ngàng: người đi thật rồi sao? Hai tiếng “ừ nhỉ” xen vào đây như một sự bàng hoàng đến ngẩn ngơ. “Thế là người đi thực” rồi! Người tiễn biết người ra đi đã đi thực rồi, đi thực với một sự gắng gượng, sự dằn lòng đến đau đớn:
Mẹ thà coi như chiếc lá bay
Chị thà coi như là hạt bụi
Em thà coi như hơi rượu say
“Thà coi như” lặp lại ba lần với ba người thân yêu nhất: một sự lựa chọn đau đớn, một sự “dứt áo” nặng trĩu lòng, chứ nào đâu phải cố làm ra vẻ “dửng dưng” như ở trên kia.
4. Tống biệt hành là một bài thơ “tống biệt”; có kẻ ở người đi. Người ở, lòng xao xuyến tái tê; người đi cũng đau đớn trĩu lòng. Nhưng dù sao người đi cũng quyết chí lên đường, để thực hiện chí lớn của mình, chứ nhất định không đắm mình trong sự ngột ngạt, tù túng. Cái quyết chí “ tống biệt” ấy làm cho bài thơ thật giàu chất lãng mạn và đầy hào khí.
Trong Thi nhân Việt Nam nhà phê bình Hoài Thanh thật tinh tế khi cho rằng: “Trong bài Tống biệt hành thấy sống lại cái không khí riêng của nhiều bài thơ cổ. Điệu thơ gấp. Lời thơ gắt. Câu thơ rắn rỏi, gân guốc, không mềm mại, uyển chuyển như phần nhiều thơ bây giờ. Nhưng vẫn đượm chút bâng khuâng khó hiểu của thời đại”. Bài thơ khó hiểu vì từ ngữ trong thơ hàm súc, dồn nén, nhiều chỗ tĩnh lược; giữa các dòng thơ có nhiều khoảng trống tạo thành một vẻ đẹp bí ẩn và cổ kính rất hiếm thấy trong thơ ca hiện đại.
Bài giảng của: Trung tâm Bồi dưỡng văn hóa và Luyện thi đại học Vĩnh Viễn

Tìm hiểu về Thâm Tâm – Bài văn mẫu

Thâm Tâm tên thật là Nguyễn Tuấn Trình. Sinh 12-5-1917 tại Hải Dương. Mất ở Cao Bằng năm 1950. Thâm Tâm viết không nhiều, ông mất sớm, cả đời thơ chưa được hai mươi bài. Nhưng nếu chọn mười bài tiêu biểu của thời kỳ Thơ mới, chắc chắn có Tống biệt hành. Trong kháng chiến chống Pháp, khi nền thơ còn nhiều chập chững, bài thơ Chiều mưa đường số năm đã là bài thơ hay, vững vàng về cốt cách lẫn tình cảm.
Thơ Thâm Tâm mang cốt cách cổ điển, đẫm khí vị bi phẫn giang hồ của một thời đã xa trong lịch sử ở ta hay ở một chân trời khơi gợi những Tần Hán xa vời. Giọng thơ rắn rỏi, tức tưởi. Ông có ba bài viết theo thể hành bộc lộ rõ nhất giọng thơ này Can trường hành, Tống biệt hành, Vọng nhân hành.
Hãy xem nhà thơ lãng mạn Việt Nam thời Thơ mới múa bút bên sông Hồng kiểu Kinh Kha múa gươm bên sông Dịch:

Sông Hồng chẳng phải xưa sông Dịch
Ta ghét hoài câu “nhất khứ hề”
Ngoài phố mưa bay: xuân bốc rượu
Tấc lòng mong mỏi cháy tê tê

Trong tình cảnh người mất nước, mất luôn tự do của chí làm trai, Thâm Tâm thường trực một ý chí phá bỏ thực tại bằng mộng giang hồ:

Đất trời rộng quá. Tôi không chịu
Cắm chặt sông đây một cánh bè,
Bằng cơn phẫn chí:
Đau tình không xót bằng đau nghĩa
Tay gầy cũng ném chén vô tri.

Khá nhiều lần Thâm Tâm ném chén trong tiệc rượu. Phẫn chí trong cơn say vì đã cố nén một cơn òa khóc trong lúc tỉnh.

Cuối thu mưa nát lòng dâu bể
Ngày muộn chuông đau chuyện đá vàng.

Thân kiếp chơi vơi trong cõi phi thời gian, dĩ vãng không có, hiện tại cũng không mà tương lai thì mịt mù sương khói.

Hôm qua không có, hôm nay mất
Ai rú trong trời tám hướng sương

Những câu thơ bi phẫn của Thâm Tâm hay lắm vì đó là tình cảm chín nhất của hồn ông. Bi phẫn một chủ thể tài tử:

Múa lưỡi đánh tan ba kẻ sỹ
Mềm môi nốc cạn một vò men
Bi phẫn nhiều khách thể xót đau:
Chim nhạn chim hồng rét mướt bay
Vuốt cọp chân voi còn lận đận
Thằng thí cho nhàm sức võ sinh
Thằng bó văn chương đôi gối hận
Thằng thư trói buộc, thằng giã quê
Thằng phấn son nhơ… chửa một về.

Rồi cả chủ thể lẫn khách thể đều bi phẫn, ấy là Tống biệt hành:

Người đi, ừ nhỉ người đi thực
Mẹ thà coi như chiếc lá bay
Chị thà coi như là hạt bụi
Em thà coi như hơi rượu say.

Trong cả nền thơ thời ấy không ai có giọng bi phẫn “chín” như Thâm Tâm, kể cả Nguyễn Bính, Trần Huyền Trân, hai bạn thơ “áo bào gốc liễu” đồng điệu với ông. Cái “chín” ấy trước hết là ở cái giọng, gồm cả âm lẫn điệu của câu thơ, sau nữa là ở một loạt hình ảnh, hình ảnh thường có tính biểu tượng cao, gợi nhiều liên tưởng lãng mạn, và cuối cùng là ở ngôn ngữ, ngôn ngữ có hơi cổ xưa và nhiều tương phản, cực đoan. Hãy nghe:

Ngậm lời tráng khí, chim bằng ốm
Chuyện lúc thương tâm, gái điếm già
Gió thốc hàng hiên, lười viễn mộng
Mưa rào mặt cát, gợi ly ca
Phiếm du mấy chốc đời như mộng
Ném chén cười cho đã mắt ta

Nhiều lần Thâm Tâm cười ngạo “cái chí lớn” của mình Chí lớn không đầy một tấc gang. Cười ngạo để giấu nỗi sầu thất bại:

Say ngùi ta đốt tương tư thảo
Bóng khói qua mây lại nhớ mình

Ngay cái mộng ra đi vào năm 1944, thì chí dù đã quyết mà lòng cứ lạnh tê. Ước ao trận gió nổi lên để giũ đi tất cả, nhưng vẫn phải mượn hơi rượu cho khí thế. Khoan nói đến nhận thức chính trị và tình hình thời cuộc, chỉ biết cái tạng cảm xúc của Thâm Tâm là vậy. Nó là cảm xúc lãng mạn. Nó có nguồn gốc từ hiện thực đời sống nhưng khi phát triển nó tựa nhiều lên tưởng tượng, nó cần hư ảo và hoang đường. Đọc loại thơ này đừng sóng nó vào hiện thực sự kiện, đừng lấy sự kiện cụ thể để cắt nghĩa cảm xúc. Làm thế là chặt cánh bay của thơ, hơn thế lại là thơ lãng mạn.
Phải chăng vì tính chất bi phẫn khao khát đổi thay, khao khát cất cánh ấy mà gặp cách mạng, Thâm Tâm sớm đứng vào hàng ngũ, thơ ông từ lãng mạn chuyển sang cách mạng khá êm thấm. Bài thơ Chiều mưa đường số Năm là một ví dụ. Vẫn một giọng thơ nội tâm đắm đuối, bài thơ mưa nhưng gợi được cảm giác ấm trong lòng người, giọng bi phẫn đã thành giọng yêu thương. Bài thơ viết năm 1946, năm 1950, Thâm Tâm mắc bệnh trên đường đi chiến dịch rồi mất. Người đọc không được thấy hết sự phong phú của hồn thơ ông trong chặng mới. Ở giai đoạn trước, ông nhập cuộc muộn, ở giai đoạn sau, ông lại ra đi quá sớm.
Ngót hai chục bài thơ cho một đời thơ tài năng như vậy, có một chất cảm xúc lạ, và riêng như vậy, quả chưa phát tiết được bao nhiêu. Phần tiềm lực còn nhiều quá, thật tiếc!

Nguồn từ: http://vanmau.com/forum/showthread.php/18068-Tìm-hiểu-tác-giả-Thâm-Tâm#ixzz1Mr3s9OmM

Thâm Tâm – Không chỉ “Tống biệt hành” – Kiến Văn

Tháng 11 năm 1941, khi làm quyển Thi nhân Việt Nam (xuất bản năm 1942), Hoài Thanh và Hoài Chân chỉ chọn đúng một bài của Thâm Tâm. Ấy là bài Tống biệt hành. Bài thơ mà hễ cứ nói đến Thâm Tâm là người ta nghĩ ngay đến nó và ngược lại cùng lời bình rằng bài thơ đã làm “sống lại cái không khí riêng của nhiều bài thơ cổ. Điệu thơ gấp gáp. Lời thơ gắt. Câu thơ rắn rỏi, gân guốc nhưng vẫn đượm chút bâng khuâng khó hiểu của thời đại”. Bài thơ ấy, lời bình ấy sắp tròn 70 năm nay, ai đã học văn học, đã yêu thơ, đã làm thơ đều biết.
Nhưng Thâm Tâm không chỉ có Tống biệt hành với những câu mở đầu:

Đưa người ta không đưa qua sông
Sao có tiếng sóng ở trong lòng
Bóng chiều không thắm không vàng vọt
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?

Thâm Tâm, trong vẻn vẹn 33 năm sống ở trên đời (1917-1950) còn để lại những dấu ấn mà người làm văn học sử, người yêu mến văn học Việt Nam không thể bỏ qua và dửng dưng.
Thứ nhất, theo như Hoài Thanh viết trong Thi nhân Việt Nam thì trước năm 1941, Nguyễn Tuấn Trình (tên thật của Thâm Tâm) đã có tập Thơ Thâm Tâm, trong đó có Tống biệt hành.
Đọc lại những tờ báo cũ như Tiểu thuyết thứ bảy, Truyền bá, Tiểu thuyết thứ năm… xuất bản những năm trước Cách mạng Tháng Tám thấy rải rác có nhiều bài của Thâm Tâm (ký tên Tuấn Trình). Mới hay ngoài thơ, Thâm Tâm còn viết truyện ngắn, truyện vừa và kịch.
Thứ nhì, thơ Thâm Tâm trước Cách mạng Tháng Tám không chỉ là những vần thơ nói về những cuộc lên đường, ra đi, đưa tiễn như Tráng ca, Can trường hành, Tống biệt hành, Vọng nhân hành… mà còn gắn liền với những “giai thoại” văn chương, “nghi án” văn chương “vô tiền khoáng hậu” mà cho đến nay, sau gần 70 năm vẫn chưa đi đến hồi kết. Ấy là câu chuyện về các bài thơ Hai sắc hoa tigôn, Màu máu tigôn và tác giả T.T. Kh. Ấy còn là câu chuyện diễn ra ở làng Canh (ngoại ô Hà Nội) đêm rằm tháng bảy âm lịch năm 1940 để sinh ra bài thơ liên ngâm có tên Ngô sơn vọng nguyệt giữa Thâm Tâm và ba thi sĩ tài danh Nguyễn Bính, Trúc Khê, Trần Huyền Trân.
Thứ ba, nói đến Thâm Tâm là phải nói tới ông với tư cách là nhà thơ-chiến sĩ, một nhà báo-liệt sĩ.
Như mọi người đều biết, Thâm Tâm tên khai sinh là Nguyễn Tuấn Trình sinh ngày 12 tháng 5 năm 1917 trong một gia đình trung lưu (cụ thân sinh làm nghề dạy học, thân mẫu làm nghề đóng sổ sách và bán bánh kẹo) tại thị xã Hải Dương. Thuở nhỏ, ông học ở quê sau theo gia đình lên Hà Nội vừa học vừa làm nghề vẽ tranh, viết báo.
Cũng như nhiều thanh niên học sinh Hà Nội lúc bấy giờ, trong cảnh “nước mất nhà tan”, anh thanh niên Nguyễn Tuấn Trình luôn khát khao yêu thương, khát khao một cuộc dấn thân, một cuộc lên đường. Khao khát ấy đã được ông thể hiện không chỉ trong thơ mà cả trong văn, trong kịch. Trên tờ Tiểu thuyết thứ năm, số 6 ra ngày 10-11 năm 1938 ở một bài báo có nhan đề Hai trái hồng ký tên Tuấn Trình ông viết: “Vì chưng tâm hồn những lữ khách đã dày dạn lắm rồi như một trái cây mùa chín tới. Quả đã hết xanh; những ngày thơ ngây, hồn nhiên cũng hết. Hôm nay, chúng ta lên đường và trái tim đã chín không bao giờ chín nữa”.
Và kịp khi Cách mạng tháng Tám (1945) bùng nổ, chàng trai-tác giả của Tống biệt hành-đã làm một cuộc lên đường. Một cuộc lên đường không mấy dễ dàng chóng vánh, với một tương lai cơ chừng rất mong manh; một cuộc lựa chọn không bàn hơn thiệt được thua. Thâm Tâm tòng quân lên chiến khu Việt Bắc. Ở đó ông đã sống những năm tháng cực kỳ thiếu thốn, gian khổ và ác liệt nhưng cũng là những năm tháng đẹp đẽ nhất của đời ông.
Chưa đầy 5 năm trong đời quân ngũ nên ông chưa kịp làm nhiều thơ về bộ đội về cuộc chiến đấu anh hùng của dân tộc. Ông chỉ có bài Chiều mưa đường số 5 là bài khá nhất còn để lại đến hôm nay. Bài này được ông viết sau một chuyến công tác vào vùng địch hậu khu III năm 1948. Tuy nhiên, Thâm Tâm cũng đã có những đóng góp rất đáng kể trong lĩnh vực văn nghệ báo chí thời kỳ này.
Với tư cách là phóng viên mặt trận Báo Vệ quốc quân (tiền thân của Báo Quân đội nhân dân hiện nay), Thâm Tâm đã có mặt ở hầu hết các chiến dịch lớn, các trận đánh quan trọng ở Việt Bắc, Đông Bắc và đồng bằng liên khu III. Với tư cách là thư ký tòa soạn của Báo Vệ quốc quân, Thâm Tâm luôn luôn là một người làm báo mẫn cán và sáng tạo. Nhà báo Trần Cư kể: “Thâm Tâm là “nhà thơ tiền chiến” nhưng nổi tiếng là một người đã đi, đi biền biệt, đã ngồi ngồi rất dai”. Nhà văn Nguyên Hồng có lần từ Hội văn nghệ sang chơi tòa soạn báo Vệ quốc quân đã phải thốt lên khi thấy Thâm Tâm ngồi bên chồng bản thảo rằng: “Hình như cột sống của tác giả Tống biệt hành làm bằng sắt!”.
Hình ảnh Thâm Tâm còn được người đương thời nhớ trong những buổi thuyết trình tại ban biên tập báo, tại các hội nghị. Nhớ nhất là tại hội nghị văn nghệ bộ đội tháng 9-1949 nhà văn Nguyễn Huy Tưởng trong một bài tường thuật in trên tờ Văn nghệ số 11-12 năm 1949 đã viết: “Ngày 12 tháng 4, câu chuyện rất dài của Thâm Tâm về văn thơ bộ đội đã vạch ra một sự thật: Loại thơ anh hùng của cán bộ, những hình ảnh tưởng tượng, lời văn mỹ miều của những văn nghệ sĩ công tác trong bộ đội không được đội viên hoan nghênh. Trái lại họ lại thích những bài thơ hợp với đời sống của họ, những bài thơ ở bộ đội mà ra, vì bộ đội mà có, những sáng tác này trở lại ảnh hưởng bộ đội rất mạnh” . Nguyễn Huy Tưởng còn cho biết, tại hội nghị Thâm Tâm là người đầu tiên phát hiện bằng văn bản: Bác Hồ là một nhà thơ. Đó là những trang viết vừa có tính chất phát hiện vừa thành kính, xúc động…
Rất tiếc là cống hiến của Thâm Tâm chỉ kịp có vậy. Thu đông năm 1950, trên đường theo bộ đội đi chiến dịch Thâm Tâm đã mắc trọng bệnh và đột ngột nằm lại vĩnh viễn dưới chân đèo Mã Phục, cách thị xã Cao Bằng chừng hai mươi cây số – nơi báo Vệ quốc quân đặt trụ sở dã chiến. Năm ấy, nhà thơ mới 33 tuổi.
KIẾN VĂN
Quân đội Nhân dân – Thứ Năm, 24/03/2011

Tống biệt hành, một bài cổ thi hiện đại không bao giờ cũ – Nguyễn Hàn Chung

TỐNG BIỆT HÀNH
Đưa người ta không đưa qua sông
Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
Bóng chiều không úa không vàng vọt
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?
Đưa người ,ta chỉ đưa người ấy
Một giã gia đình một dửng dưng…
Ly khách !Ly khách !con đường nhỏ
Chí lớn chưa về bàn tay không
Thì không bao giờ nói trở lại!
Ba năm, mẹ già cũng đừng mong.
Ta biết người buồn chiều hôm trước
Bây giờ mùa hạ sen nở nốt,
Một chị,hai chị,cũng như sen
Khuyên nốt em trai dòng lệ sót
Ta biết người buồn sáng hôm nay
Giời chưa vào thu , tươi lắm thay,
Em nhỏ ngây thơ, đôi mắt biếc
Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay…
Người đi, ừ nhỉ người đi thực!
Mẹ thà coi như chiếc lá bay,
Chị thà coi như là hạt bụi,
Em thà coi như hơi rượu say.

Ngay từ câu thơ đầu tiên chất cổ thi đã thấm tràn con chữ “Đưa người, qua sông” chỉ là cách Việt hóa các hình ảnh có tính ước lệ về sự biệt ly trong thơ Đường nhưng không phải là sự Việt hóa đơn giản mà có sự đổi mới hơn về chất. Thâm Tâm dùng từ “qua’’ trong ngữ “qua sông” thật là đắt. Qua chứ không phải sang, dù qua và sang hàm nghĩa gần giống nhau trong nhiều văn cảnh. Nói qua người ta nghĩ đến lại. Ly khách qua sông rồi lại sẽ về chứ không phải như người tráng sĩ xưa “thử địa biệt Yên Đan” là “nhất khứ bất phục hoàn” dù trong mấy câu thơ sau tác giả có đề cập đến “không bao giờ nói trở lại”. Không nói chứ không phải là không trở lại.
Tôi không đồng ý với nhiều người cho rằng đây là cuộc chia ly nhuốm màu vĩnh biệt bởi điểm sáng thẫm mỹ của bài thơ một phần chính là sự trở về của ly khách. Nói như thế có khiên cưỡng chăng?
Người đi thấm đầy nỗi hoàng hôn trong mắt. Ngoại cảnh ‘’bóng chiều không thắm không vàng vọt’’không hề chi phối tâm trạng người đi. Nghệ thuật miêu tả bứt phá khỏi lối mòn của cổ thi’’bóng tà như giục..’’’’rừng phong thu đã…’’tạo nên một cảm quan mới mẻ. Lại nữa ‘’một giã gia đình một dửng dưng’’. Dửng dưng thế nào được khi cái gia đình ấy là mẹ, là chị.là em nghĩa là những người thân yêu nhất cần sự bảo vệ che chở của người đàn ông nhất là trong thờ binh lửa người phụ nữ, đứa con thơ yếu đuối kia vắng bóng người đàn ông trụ cột trong gia đình tránh sao khỏi những điều tai ương có thể úp chụp bất cứ lúc nào lên cuộc đời họ. Ta không thể ‘’dịch’’ hình ảnh’’ một dửng dưng’’sang bình diện lời nói hoặc khái niệm để hiểu một cách hiển ngôn. Việc thâm nhập vào hình tượng thơ rất cần sự thấu cảm (empathy) của người đọc.’’Một dửng dưng‘’là sự dồn nén đến độ tối giản của lòng thương nhớ. Quyến luyến bởi con người đã từng ‘’buồn chiều hôm trước ‘’’’sáng hôm nay’’ nghĩa là trước giờ chia biệt thì không thể nào có sự dửng dưng vô cảm khi cồn cào trong lòng là nỗi nhớ mong mẹ già,dòng lệ sót của người chị, chiếc khăn tay gói tròn thương tiếc của đứa em thơ.

Chính vì điều ấy tác giả cho kẻ tiễn tặng người đi một chữ ‘’thà’’dành cho ba con người thương yêu nhất, xem nó là cột mốc phân lằn ranh giữa tình nhà và chí lớn. Nếu so sánh chữ thà trong Tống Biệt Hành và chữ thì trong bài thơ Thưa Mẹ Con Đi của Nguyễn Khoa Điềm thì có hơi khập khiễng song sự mâu thuẫn đầy kịch tính thì không khác nhau một chút nào bởi vì hai tiếng ấy vừa giữ nhiệm vụ chặt đứt sợi dây tơ tình vừa thể hiện sự níu giữ điều ít tìm thấy trong thơ xưa nói về nỗi niềm ly biệt. Từ thà nghe có vẻ quyết liệt dứt khoát hơn nhưng nếu ta lắng lòng mình lại sẽ thấy từ thà giống như một con người có vẻ ngoài xơ cứng, liều lĩnh nhưng lại chứa đựng bên trong một trái tim nồng cháy yêu thương đợi chờ. Đeo đôi kính thấu cảm lên ta sẽ điểm trúng ngay huyệt đạo của ly khách mà có thể con người của cuộc đời thường nhiều khi không bao giờ tìm thấy sự yếu đuối trong thái độ làm ra vẻ bất cần ấy.

Ly khách là ai? Là ai cũng được miễn người ấy ra đi vì chí lớn. Ma lực của bài thơ cuốn hút con người chẳng những toát ra từ nội dung ý tưởng,mà còn ở âm điệu trầm hùng mà bi tráng. Các phù bình thanh,trầm bình thanh đan xen vào nhau lại có sự điểm xuyết của một vài thanh trắc đan cài luyến láy tạo nên một giá trị thẩm mỹ đích thực, một sự thôi thúc thông qua giọng điệu trữ tình riêng biệt mang phong cách cá nhân của nhà thơ thể hiện sự phức điệu trong chiều sâu trong tâm tưởng con người.

Chính vì thế có thể nói Tống Biệt Hành là một bài cổ thi hiện đại không bao giờ cũ.

(Bài đạt giải I cuộc thi bình thơ của Báo Giáo Dục và Thời Đại Tháng 6 năm 2001)
Nguyễn Hàn Chung

Thâm Tâm, thi ca và huyền thoại – Nguyễn Nhã Tiên

Không phải cho đến khi thi sĩ Thâm Tâm vĩnh biệt cuộc đời, từ nửa thế kỷ nay, người ta mới nói về thơ ông và những huyền thoại tình yêu có một không hai trong làng thơ Việt lúc bấy giờ. Ngay lúc còn sinh thời, vào những năm cuối thập niên 30 và đầu thập niên 40, giữa lúc cao trào thơ mới đang hồi rực rỡ trên thi đàn, bỗng xuất hiện một Thâm Tâm Nguyễn Tuấn Trình lấp lánh sắc màu hoa Ty-gôn u buồn, lẻ loi một cõi thơ riêng với một tình yêu đắm say và dang dở. Đã nửa thế kỷ đi xa, nhưng bất cứ lúc nào nhắc về thi sĩ, ai cũng dễ liên tưởng đến một người con gái với cái tên T.T.KH đầy bí ẩn, đã đi vào thơ ông làm lộng lẫy một nỗi buồn, chon von một con đường thơ ca cô đơn và đầy nỗi niềm trắc ẩn.
Màu hoa Ty-gôn đà biến sắc
Tim người yêu cũ phủ màu tang
            Đã không biết bao nhiêu giấy mực, sục sạo tìm kiếm cho ra cái nhan sắc của người con gái ký tên T.T.KH dưới những bài thơ đăng trên báo Tiểu Thuyết Thứ Bảy và những bài thơ hồi âm của Thâm Tâm. Nhưng mọi giả thuyết vẫn là những giả thuyết. Cho dù sau này, khi nhà thơ đã qua đời, cụ Nguyễn Vỹ (thi sĩ đồng thời với ông) đã chứng minh trong những dòng hồi ký của mình về cái tên bí ẩn ấy là ai. Nhưng có vẻ như người ta cứ muốn cái tên T.T.KH kia mãi hư ảo trong khói sương, đẹp nao lòng trong những câu thơ buồn của thi sỹ. Suy cho cùng, mọi cuộc tìm kiếm, cốt là để phụ hoạ cho cái nhan sắc ấy đã bí ẩn lại càng thêm bí ẩn, đã đẹp lại càng lộng lẫy hơn đến là huyễn tưởng, hoang đường.
            Gĩa từ những câu thơ buồn, cũng như nhiều nhà thơ khác thuộc thế hệ của mình, nghe theo tiếng gọi sơn hà, ông đã có mặt trong lớp những văn nghệ sĩ đầu tiên bước vào cuộc trường chinh kháng chiến chống Pháp. Vào những năm tháng làm báo ở mặt trận biên giới phía Tây- Bắc cùng với nhà thơ Vũ Cao, thì một cơn bệnh đột biến quái ác đã cướp mất cuộc đời tài hoa của một thi sĩ. Sự nghiệp văn chương nửa đường dang dở. Gia tài văn học ông để lại không nhiều. Một số vở kịch và truyện dài, truyện ngắn và thơ đã đăng trên các tờ báo trước đó. Cho mãi đến năm 1988, nhà xuất bản văn học mới tập hợp xuất bản một tập thơ “Thơ Thâm Tâm” độ chừng vài chục bài. Ít ỏi là vậy, nhưng với một thi tài độc đáo, tác phẩm của ông đã và sẽ sống mãi với thời gian.
            Thâm Tâm tên thật là Nguyễn Tuấn Trình, ông sinh vào ngày 12/5/1917 tại thị xã Hải Dương trong một gia đình nghèo, đông con. Thời niên thiếu ông ăn học ở quê nhà, bước vào tuổi thanh niên ông và gia đình lên sinh sống ở Hà Nội. Nhờ năng khiếu hội hoạ và học ở nhà trường, Thâm Tâm bắt đầu cuộc đời vẽ vời kiếm sống. Cùng thời gian này, thơ ông đăng trên các tờ báo: Tiểu Thuyết Thứ Bảy, Ngày Nay, Tiểu Thuyết Thứ Năm… Do hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, nghèo túng, đời sống lây lất eo sèo, ông đã nhìn cuộc đời với bao nỗi buồn vây bủa. Tuy vậy, nỗi buồn đến với ông như một sự giằng xé, để rồi với một giọng điệu can trường, lúc nào cũng khao khát dấn thân với một chí cả. Cũng cốt là để giải toả bớt những u uất, vùng vẫy những mong hé mở một chân trời, những bài thơ theo thể Hành đầy khí vị cổ xưa của ông ra đời đã chinh phục trái tim người đọc suốt nhiều thế hệ nửa thế kỷ nay. Một trong những đỉnh cao ấy, chắc rằng “Tống biệt hành” là đỉnh cao nhất. Chính từ đây ông đã nghiễm nhiên ngồi chung chiếu trong thi nhân Việt Nam. Cái chí cả “Tráng sĩ nhất khứ hề” như một thứ men say cho thi sĩ bay lên trong ánh mắt hoan lạc nhìn ra một chân trời rộng mở.
Đưa người, ta không đưa sang sông
Sao có tiếng sóng ở trong lòng
….
Đưa người ta chỉ đưa người ấy
Một giã gia đình một dửng dưng
            Có thể con đường dấn thân ra đi ấy cũng là con đường mong manh và bế tắc
Chí lớn chưa về bàn tay không
Đành là vậy, nhưng thân trai tráng không thể bó tay trước số phận. Nên chí đã quyết, phải dứt áo lên đường
Người đi! ừ nhỉ người đi thật
Mẹ già coi như chiếc lá bay…
            Tưởng nhớ ông, nhắc lại một ít khí vị “Tống biệt hành”. Từ những cảm xúc có thực ấy, ta hiểu ông đến với Cách mạng như một sự khai phóng được mở toang lồng ngực hít thở, hoà nhập vào thác lũ quần chúng nhân dân trong công cuộc kháng chiến chống ngoại xâm. ý thức công dân và trái tim của một thi sĩ đầy nhạy cảm giữa lúc dân tộc đang dầu sôi lửa bỏng, đã thôi thúc thi sĩ trở thành người cầm súng xông pha chiến trường. Thời gian này, ông công tác ở báo Vệ quốc quân (tiền thân của báo Quân đội nhân dân ngày nay). Một số thơ văn của ông trong giai đoạn này đã đánh dấu một quan điểm sáng tác mới gần gũi với nhân dân và công cuộc kháng chiến
Chiều mưa đường số 5
Chiều mưa đồng rạ trắng
Đất tề sông quạnh vắng
Ngồi kín dưới nhà tranh
Nghe gió lùa ắng lặng
(Chiều mưa đường số năm)
            Tiếc thay tài năng một thi sĩ đương độ ba mươi, ông ra đi để lại bao tiếc thương cho đồng đội, nhất là nền thơ ca Việt Nam mất đi một thi tài (ông mất vào ngày 18.08.1950).
            Nửa thế kỷ trôi qua, nhớ đến nhà thơ, bất cứ ai cũng đều có thể cất lên: “Đưa người, ta không đưa sang sông…”. Cuộc đời và sự vọng tưởng một tài thơ chỉ ngần ấy. Nhưng trong mọi lớp học từ khắp mọi nơi, thì “Tống biệt hành” là một áng thơ đã khảm khắc vào tâm hồn tất cả học sinh. Và đâu đó, bên chuyện kể về những tình yêu, về một thời thơ ca vang bóng trước Cách mạng tháng Tám, người ta ít ai lại không nhớ đến cái sắc màu “hoa Ty-gôn” huyền thoại, một nỗi buồn khôn nguôi chuyện lứa đôi, mà chính thi sĩ là người gieo hạt giống mọc đến vô tận những mùa sau “Thôi em hãy giữ cành hoa úa. Kỷ niệm ngàn năm một cuộc đời”…
(Nguyễn Nhã Tiên- báo Thừa Thiên Huế)

Thâm Tâm – Nền và đỉnh – Vương Trí Nhàn

Nếu cần chọn ra một trăm bài thơ hay nhất của thế kỷ XX, người ta nhất định phải lấy Tống biệt hành của Thâm Tâm. Song chính trong thời gian viết ra những câu thơ bất hủ ấy, tác giả còn cho in nhiều truyện ngắn mà đến nay vẫn chìm trong quên lãng. Tại sao? Qua việc tìm hiểu số phận các sáng tác của Thâm Tâm Nguyễn Tuấn Trình (1917-1950), có thể rút ra một vài quy luật chung của văn chương.
Từ những năm dúm dùm làm báo Bắc Hà với Trần Huyền Trân và Nguyễn Bính, cho tới những ngày làm thuê viết mướn cho Tiểu thuyết thứ bảy, Thâm Tâm trong đời sống văn học trước 1945 được biết tới như một kẻ khá lận đận. Qua những năm kháng chiến chống Pháp, khi Thâm Tâm chuyển về công tác ở báo Vệ quốc quân, người ta không thể nói là ông lận đận nữa, nhưng trong những ngày gian khổ ấy, tìm đâu ra chút bình tâm để trau chuốt mấy câu thơ như ý muốn! Và rồi cái chết ập đến, Thâm Tâm ra đi ở tuổi 33. Cho đến cả khi qua đời rồi, đấy vẫn là một số phận không may, ít ra là về đường văn nghiệp: Tập thơ riêng của ông mãi tới 1987 (còn sống, ông đã bảy mươi!) mới được in ra, mà lại là một tập thơ mỏng mảnh, chỉ vài chục trang, không đủ làm nên một cuốn sách có gáy. Hỡi ơi, Thâm Tâm khí phách, Thâm Tâm tài hoa! Không chừng chung quanh câu chuyện giời ơi đất hỡi về T.T.K.H., người ta còn chi ra nhiều giấy mực hơn, so với các trước tác do chính ông viết.
Chắc hẳn nhiều người đã nghĩ thế và tôi cũng nghĩ thế.
Vốn sẵn cảm tình với tác giả Can trường hành, Tống biệt hành… cho tới gần đây, có dịp đọc ít trang Tiểu thuyết thứ bảy, tờ báo chuyên về văn chương, phong cách bình dân như cơm bụi, do đó, thuộc loại phổ biến nhất, mấy năm trước 1945, tôi sung sướng nhận thấy trên Tiểu thuyết thứ bảy năm 1942-1943, cứ khoảng hai tuần một lần, loại một sáng tác văn xuôi hoặc kịch ngắn (thực chất cũng là một thứ văn xuôi biến dạng) của Thâm Tâm (khi ký tên thật Tuấn Trình, khi ký bút danh Thâm Tâm). Đến Nam Cao hồi ấy, đang độ chín của ngòi bút, cũng chỉ cho in đều đều đến thế.
Với tâm lý của một người làm nghề xuất bản, những mong săn được của quý trong sách báo lưu trữ, tôi thoáng ngạc nhiên: sao với Nam Cao, người ta đã sưu tầm sạch sành sanh, còn với Thâm Tâm, tác phẩm bỏ sót còn nhiều thế này?!
Nhưng đọc kỹ, tôi nhận ra là tôi mừng hụt. Chính tôi tưởng lầm chứ không phải người trước bỏ sót. Trong khi tác phẩm Nam Cao tự chứng tỏ sức sống mạmh mẽ ở khả năng gia nhập vào đời sống hiện đại của chúng – các thế hệ bạn đọc hôm nay vẫn có cảm tưởng nhiều truyện Nam Cao như viết dành riêng cho mình – thì (xin lỗi, cho phép tôi nói thật!), truyện ngắn của Thâm Tâm hiện ra cũ càng, xa lạ. Những gì mà vào thơ trở thành những bài thơ bi phẫn, u uất, và có một cốt cách cao quý, lúc qua văn xuôi, lại hoặc nhạt nhẽo, hoặc bơ vơ không đâu vào đâu, giống như hồi quang lờ mờ hiu hắt của một cách nghĩ cách cảm có phần lỗi thời.
Trách chi, trong một tài liệu sưu tầm nghiên cứu khá công phu như Tổng tập văn học Việt Nam, hai tập 30A và 30B, các soạn giả chỉ chọn cho Thâm Tâm có một truyện ngắn (truyện Tháng ba sấm động), ngụ ý để bạn đọc thêm cho có ý vị, trong khi Nam Cao, cũng như Nguyên Hồng, trở thành tác giả trụ cột của bộ sách.
Tôi kể những chuyện này để làm gì?
Thứ nhất, về mối quan hệ giữa đời người và sáng tác. Hoá ra, sự lận đận trong đời và những tâm huyết trong khi viết không phải là bảo đảm chắc chắn cho chất lượng tác phẩm. Người ta có thể sống rất cơ cực và gửi gắm nhiều đau đớn xót xa vào các dòng chữ mà khi in ra, tác phẩm vẫn cứ nhạt nhẽo, vơ vẩn và không làm ai cảm động. Đây là điều đã xảy ra ở nhiều người, không riêng gì Thâm Tâm.
Thứ hai, về một quy luật tồn tại trong văn học và nói chung là một đặc điểm của văn học: ở cùng một tác giả, có khi cả vài ngàn trang hậm hụi viết ra lại trôi tuột đi, trong khi một bài thơ vài chục câu viết vội trong bữa rượu tiễn bạn – như trường hợp bài Tống biệt hành – lại trở thành bất hủ và còn mãi với đời. Văn chương thật đỏng đảnh, thật tai quái chăng? Có lẽ thế. Song nếu nghĩ lại, và nhận ra rằng biết đâu, chính từ hàng ngàn trang đã viết ra kia, cố kết lại, rồi người cầm bút mới ứng tác được mấy chục câu thơ này thì người ta lại như được an ủi. Văn chương vẫn có cái lý riêng và lẽ công bằng riêng của nó!

Vương Trí Nhàn