Thâm Tâm – Không chỉ “Tống biệt hành” – Kiến Văn

Tháng 11 năm 1941, khi làm quyển Thi nhân Việt Nam (xuất bản năm 1942), Hoài Thanh và Hoài Chân chỉ chọn đúng một bài của Thâm Tâm. Ấy là bài Tống biệt hành. Bài thơ mà hễ cứ nói đến Thâm Tâm là người ta nghĩ ngay đến nó và ngược lại cùng lời bình rằng bài thơ đã làm “sống lại cái không khí riêng của nhiều bài thơ cổ. Điệu thơ gấp gáp. Lời thơ gắt. Câu thơ rắn rỏi, gân guốc nhưng vẫn đượm chút bâng khuâng khó hiểu của thời đại”. Bài thơ ấy, lời bình ấy sắp tròn 70 năm nay, ai đã học văn học, đã yêu thơ, đã làm thơ đều biết.
Nhưng Thâm Tâm không chỉ có Tống biệt hành với những câu mở đầu:

Đưa người ta không đưa qua sông
Sao có tiếng sóng ở trong lòng
Bóng chiều không thắm không vàng vọt
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?

Thâm Tâm, trong vẻn vẹn 33 năm sống ở trên đời (1917-1950) còn để lại những dấu ấn mà người làm văn học sử, người yêu mến văn học Việt Nam không thể bỏ qua và dửng dưng.
Thứ nhất, theo như Hoài Thanh viết trong Thi nhân Việt Nam thì trước năm 1941, Nguyễn Tuấn Trình (tên thật của Thâm Tâm) đã có tập Thơ Thâm Tâm, trong đó có Tống biệt hành.
Đọc lại những tờ báo cũ như Tiểu thuyết thứ bảy, Truyền bá, Tiểu thuyết thứ năm… xuất bản những năm trước Cách mạng Tháng Tám thấy rải rác có nhiều bài của Thâm Tâm (ký tên Tuấn Trình). Mới hay ngoài thơ, Thâm Tâm còn viết truyện ngắn, truyện vừa và kịch.
Thứ nhì, thơ Thâm Tâm trước Cách mạng Tháng Tám không chỉ là những vần thơ nói về những cuộc lên đường, ra đi, đưa tiễn như Tráng ca, Can trường hành, Tống biệt hành, Vọng nhân hành… mà còn gắn liền với những “giai thoại” văn chương, “nghi án” văn chương “vô tiền khoáng hậu” mà cho đến nay, sau gần 70 năm vẫn chưa đi đến hồi kết. Ấy là câu chuyện về các bài thơ Hai sắc hoa tigôn, Màu máu tigôn và tác giả T.T. Kh. Ấy còn là câu chuyện diễn ra ở làng Canh (ngoại ô Hà Nội) đêm rằm tháng bảy âm lịch năm 1940 để sinh ra bài thơ liên ngâm có tên Ngô sơn vọng nguyệt giữa Thâm Tâm và ba thi sĩ tài danh Nguyễn Bính, Trúc Khê, Trần Huyền Trân.
Thứ ba, nói đến Thâm Tâm là phải nói tới ông với tư cách là nhà thơ-chiến sĩ, một nhà báo-liệt sĩ.
Như mọi người đều biết, Thâm Tâm tên khai sinh là Nguyễn Tuấn Trình sinh ngày 12 tháng 5 năm 1917 trong một gia đình trung lưu (cụ thân sinh làm nghề dạy học, thân mẫu làm nghề đóng sổ sách và bán bánh kẹo) tại thị xã Hải Dương. Thuở nhỏ, ông học ở quê sau theo gia đình lên Hà Nội vừa học vừa làm nghề vẽ tranh, viết báo.
Cũng như nhiều thanh niên học sinh Hà Nội lúc bấy giờ, trong cảnh “nước mất nhà tan”, anh thanh niên Nguyễn Tuấn Trình luôn khát khao yêu thương, khát khao một cuộc dấn thân, một cuộc lên đường. Khao khát ấy đã được ông thể hiện không chỉ trong thơ mà cả trong văn, trong kịch. Trên tờ Tiểu thuyết thứ năm, số 6 ra ngày 10-11 năm 1938 ở một bài báo có nhan đề Hai trái hồng ký tên Tuấn Trình ông viết: “Vì chưng tâm hồn những lữ khách đã dày dạn lắm rồi như một trái cây mùa chín tới. Quả đã hết xanh; những ngày thơ ngây, hồn nhiên cũng hết. Hôm nay, chúng ta lên đường và trái tim đã chín không bao giờ chín nữa”.
Và kịp khi Cách mạng tháng Tám (1945) bùng nổ, chàng trai-tác giả của Tống biệt hành-đã làm một cuộc lên đường. Một cuộc lên đường không mấy dễ dàng chóng vánh, với một tương lai cơ chừng rất mong manh; một cuộc lựa chọn không bàn hơn thiệt được thua. Thâm Tâm tòng quân lên chiến khu Việt Bắc. Ở đó ông đã sống những năm tháng cực kỳ thiếu thốn, gian khổ và ác liệt nhưng cũng là những năm tháng đẹp đẽ nhất của đời ông.
Chưa đầy 5 năm trong đời quân ngũ nên ông chưa kịp làm nhiều thơ về bộ đội về cuộc chiến đấu anh hùng của dân tộc. Ông chỉ có bài Chiều mưa đường số 5 là bài khá nhất còn để lại đến hôm nay. Bài này được ông viết sau một chuyến công tác vào vùng địch hậu khu III năm 1948. Tuy nhiên, Thâm Tâm cũng đã có những đóng góp rất đáng kể trong lĩnh vực văn nghệ báo chí thời kỳ này.
Với tư cách là phóng viên mặt trận Báo Vệ quốc quân (tiền thân của Báo Quân đội nhân dân hiện nay), Thâm Tâm đã có mặt ở hầu hết các chiến dịch lớn, các trận đánh quan trọng ở Việt Bắc, Đông Bắc và đồng bằng liên khu III. Với tư cách là thư ký tòa soạn của Báo Vệ quốc quân, Thâm Tâm luôn luôn là một người làm báo mẫn cán và sáng tạo. Nhà báo Trần Cư kể: “Thâm Tâm là “nhà thơ tiền chiến” nhưng nổi tiếng là một người đã đi, đi biền biệt, đã ngồi ngồi rất dai”. Nhà văn Nguyên Hồng có lần từ Hội văn nghệ sang chơi tòa soạn báo Vệ quốc quân đã phải thốt lên khi thấy Thâm Tâm ngồi bên chồng bản thảo rằng: “Hình như cột sống của tác giả Tống biệt hành làm bằng sắt!”.
Hình ảnh Thâm Tâm còn được người đương thời nhớ trong những buổi thuyết trình tại ban biên tập báo, tại các hội nghị. Nhớ nhất là tại hội nghị văn nghệ bộ đội tháng 9-1949 nhà văn Nguyễn Huy Tưởng trong một bài tường thuật in trên tờ Văn nghệ số 11-12 năm 1949 đã viết: “Ngày 12 tháng 4, câu chuyện rất dài của Thâm Tâm về văn thơ bộ đội đã vạch ra một sự thật: Loại thơ anh hùng của cán bộ, những hình ảnh tưởng tượng, lời văn mỹ miều của những văn nghệ sĩ công tác trong bộ đội không được đội viên hoan nghênh. Trái lại họ lại thích những bài thơ hợp với đời sống của họ, những bài thơ ở bộ đội mà ra, vì bộ đội mà có, những sáng tác này trở lại ảnh hưởng bộ đội rất mạnh” . Nguyễn Huy Tưởng còn cho biết, tại hội nghị Thâm Tâm là người đầu tiên phát hiện bằng văn bản: Bác Hồ là một nhà thơ. Đó là những trang viết vừa có tính chất phát hiện vừa thành kính, xúc động…
Rất tiếc là cống hiến của Thâm Tâm chỉ kịp có vậy. Thu đông năm 1950, trên đường theo bộ đội đi chiến dịch Thâm Tâm đã mắc trọng bệnh và đột ngột nằm lại vĩnh viễn dưới chân đèo Mã Phục, cách thị xã Cao Bằng chừng hai mươi cây số – nơi báo Vệ quốc quân đặt trụ sở dã chiến. Năm ấy, nhà thơ mới 33 tuổi.
KIẾN VĂN
Quân đội Nhân dân – Thứ Năm, 24/03/2011

Tống biệt hành, một bài cổ thi hiện đại không bao giờ cũ – Nguyễn Hàn Chung

TỐNG BIỆT HÀNH
Đưa người ta không đưa qua sông
Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
Bóng chiều không úa không vàng vọt
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?
Đưa người ,ta chỉ đưa người ấy
Một giã gia đình một dửng dưng…
Ly khách !Ly khách !con đường nhỏ
Chí lớn chưa về bàn tay không
Thì không bao giờ nói trở lại!
Ba năm, mẹ già cũng đừng mong.
Ta biết người buồn chiều hôm trước
Bây giờ mùa hạ sen nở nốt,
Một chị,hai chị,cũng như sen
Khuyên nốt em trai dòng lệ sót
Ta biết người buồn sáng hôm nay
Giời chưa vào thu , tươi lắm thay,
Em nhỏ ngây thơ, đôi mắt biếc
Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay…
Người đi, ừ nhỉ người đi thực!
Mẹ thà coi như chiếc lá bay,
Chị thà coi như là hạt bụi,
Em thà coi như hơi rượu say.

Ngay từ câu thơ đầu tiên chất cổ thi đã thấm tràn con chữ “Đưa người, qua sông” chỉ là cách Việt hóa các hình ảnh có tính ước lệ về sự biệt ly trong thơ Đường nhưng không phải là sự Việt hóa đơn giản mà có sự đổi mới hơn về chất. Thâm Tâm dùng từ “qua’’ trong ngữ “qua sông” thật là đắt. Qua chứ không phải sang, dù qua và sang hàm nghĩa gần giống nhau trong nhiều văn cảnh. Nói qua người ta nghĩ đến lại. Ly khách qua sông rồi lại sẽ về chứ không phải như người tráng sĩ xưa “thử địa biệt Yên Đan” là “nhất khứ bất phục hoàn” dù trong mấy câu thơ sau tác giả có đề cập đến “không bao giờ nói trở lại”. Không nói chứ không phải là không trở lại.
Tôi không đồng ý với nhiều người cho rằng đây là cuộc chia ly nhuốm màu vĩnh biệt bởi điểm sáng thẫm mỹ của bài thơ một phần chính là sự trở về của ly khách. Nói như thế có khiên cưỡng chăng?
Người đi thấm đầy nỗi hoàng hôn trong mắt. Ngoại cảnh ‘’bóng chiều không thắm không vàng vọt’’không hề chi phối tâm trạng người đi. Nghệ thuật miêu tả bứt phá khỏi lối mòn của cổ thi’’bóng tà như giục..’’’’rừng phong thu đã…’’tạo nên một cảm quan mới mẻ. Lại nữa ‘’một giã gia đình một dửng dưng’’. Dửng dưng thế nào được khi cái gia đình ấy là mẹ, là chị.là em nghĩa là những người thân yêu nhất cần sự bảo vệ che chở của người đàn ông nhất là trong thờ binh lửa người phụ nữ, đứa con thơ yếu đuối kia vắng bóng người đàn ông trụ cột trong gia đình tránh sao khỏi những điều tai ương có thể úp chụp bất cứ lúc nào lên cuộc đời họ. Ta không thể ‘’dịch’’ hình ảnh’’ một dửng dưng’’sang bình diện lời nói hoặc khái niệm để hiểu một cách hiển ngôn. Việc thâm nhập vào hình tượng thơ rất cần sự thấu cảm (empathy) của người đọc.’’Một dửng dưng‘’là sự dồn nén đến độ tối giản của lòng thương nhớ. Quyến luyến bởi con người đã từng ‘’buồn chiều hôm trước ‘’’’sáng hôm nay’’ nghĩa là trước giờ chia biệt thì không thể nào có sự dửng dưng vô cảm khi cồn cào trong lòng là nỗi nhớ mong mẹ già,dòng lệ sót của người chị, chiếc khăn tay gói tròn thương tiếc của đứa em thơ.

Chính vì điều ấy tác giả cho kẻ tiễn tặng người đi một chữ ‘’thà’’dành cho ba con người thương yêu nhất, xem nó là cột mốc phân lằn ranh giữa tình nhà và chí lớn. Nếu so sánh chữ thà trong Tống Biệt Hành và chữ thì trong bài thơ Thưa Mẹ Con Đi của Nguyễn Khoa Điềm thì có hơi khập khiễng song sự mâu thuẫn đầy kịch tính thì không khác nhau một chút nào bởi vì hai tiếng ấy vừa giữ nhiệm vụ chặt đứt sợi dây tơ tình vừa thể hiện sự níu giữ điều ít tìm thấy trong thơ xưa nói về nỗi niềm ly biệt. Từ thà nghe có vẻ quyết liệt dứt khoát hơn nhưng nếu ta lắng lòng mình lại sẽ thấy từ thà giống như một con người có vẻ ngoài xơ cứng, liều lĩnh nhưng lại chứa đựng bên trong một trái tim nồng cháy yêu thương đợi chờ. Đeo đôi kính thấu cảm lên ta sẽ điểm trúng ngay huyệt đạo của ly khách mà có thể con người của cuộc đời thường nhiều khi không bao giờ tìm thấy sự yếu đuối trong thái độ làm ra vẻ bất cần ấy.

Ly khách là ai? Là ai cũng được miễn người ấy ra đi vì chí lớn. Ma lực của bài thơ cuốn hút con người chẳng những toát ra từ nội dung ý tưởng,mà còn ở âm điệu trầm hùng mà bi tráng. Các phù bình thanh,trầm bình thanh đan xen vào nhau lại có sự điểm xuyết của một vài thanh trắc đan cài luyến láy tạo nên một giá trị thẩm mỹ đích thực, một sự thôi thúc thông qua giọng điệu trữ tình riêng biệt mang phong cách cá nhân của nhà thơ thể hiện sự phức điệu trong chiều sâu trong tâm tưởng con người.

Chính vì thế có thể nói Tống Biệt Hành là một bài cổ thi hiện đại không bao giờ cũ.

(Bài đạt giải I cuộc thi bình thơ của Báo Giáo Dục và Thời Đại Tháng 6 năm 2001)
Nguyễn Hàn Chung

Thâm Tâm, thi ca và huyền thoại – Nguyễn Nhã Tiên

Không phải cho đến khi thi sĩ Thâm Tâm vĩnh biệt cuộc đời, từ nửa thế kỷ nay, người ta mới nói về thơ ông và những huyền thoại tình yêu có một không hai trong làng thơ Việt lúc bấy giờ. Ngay lúc còn sinh thời, vào những năm cuối thập niên 30 và đầu thập niên 40, giữa lúc cao trào thơ mới đang hồi rực rỡ trên thi đàn, bỗng xuất hiện một Thâm Tâm Nguyễn Tuấn Trình lấp lánh sắc màu hoa Ty-gôn u buồn, lẻ loi một cõi thơ riêng với một tình yêu đắm say và dang dở. Đã nửa thế kỷ đi xa, nhưng bất cứ lúc nào nhắc về thi sĩ, ai cũng dễ liên tưởng đến một người con gái với cái tên T.T.KH đầy bí ẩn, đã đi vào thơ ông làm lộng lẫy một nỗi buồn, chon von một con đường thơ ca cô đơn và đầy nỗi niềm trắc ẩn.
Màu hoa Ty-gôn đà biến sắc
Tim người yêu cũ phủ màu tang
            Đã không biết bao nhiêu giấy mực, sục sạo tìm kiếm cho ra cái nhan sắc của người con gái ký tên T.T.KH dưới những bài thơ đăng trên báo Tiểu Thuyết Thứ Bảy và những bài thơ hồi âm của Thâm Tâm. Nhưng mọi giả thuyết vẫn là những giả thuyết. Cho dù sau này, khi nhà thơ đã qua đời, cụ Nguyễn Vỹ (thi sĩ đồng thời với ông) đã chứng minh trong những dòng hồi ký của mình về cái tên bí ẩn ấy là ai. Nhưng có vẻ như người ta cứ muốn cái tên T.T.KH kia mãi hư ảo trong khói sương, đẹp nao lòng trong những câu thơ buồn của thi sỹ. Suy cho cùng, mọi cuộc tìm kiếm, cốt là để phụ hoạ cho cái nhan sắc ấy đã bí ẩn lại càng thêm bí ẩn, đã đẹp lại càng lộng lẫy hơn đến là huyễn tưởng, hoang đường.
            Gĩa từ những câu thơ buồn, cũng như nhiều nhà thơ khác thuộc thế hệ của mình, nghe theo tiếng gọi sơn hà, ông đã có mặt trong lớp những văn nghệ sĩ đầu tiên bước vào cuộc trường chinh kháng chiến chống Pháp. Vào những năm tháng làm báo ở mặt trận biên giới phía Tây- Bắc cùng với nhà thơ Vũ Cao, thì một cơn bệnh đột biến quái ác đã cướp mất cuộc đời tài hoa của một thi sĩ. Sự nghiệp văn chương nửa đường dang dở. Gia tài văn học ông để lại không nhiều. Một số vở kịch và truyện dài, truyện ngắn và thơ đã đăng trên các tờ báo trước đó. Cho mãi đến năm 1988, nhà xuất bản văn học mới tập hợp xuất bản một tập thơ “Thơ Thâm Tâm” độ chừng vài chục bài. Ít ỏi là vậy, nhưng với một thi tài độc đáo, tác phẩm của ông đã và sẽ sống mãi với thời gian.
            Thâm Tâm tên thật là Nguyễn Tuấn Trình, ông sinh vào ngày 12/5/1917 tại thị xã Hải Dương trong một gia đình nghèo, đông con. Thời niên thiếu ông ăn học ở quê nhà, bước vào tuổi thanh niên ông và gia đình lên sinh sống ở Hà Nội. Nhờ năng khiếu hội hoạ và học ở nhà trường, Thâm Tâm bắt đầu cuộc đời vẽ vời kiếm sống. Cùng thời gian này, thơ ông đăng trên các tờ báo: Tiểu Thuyết Thứ Bảy, Ngày Nay, Tiểu Thuyết Thứ Năm… Do hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, nghèo túng, đời sống lây lất eo sèo, ông đã nhìn cuộc đời với bao nỗi buồn vây bủa. Tuy vậy, nỗi buồn đến với ông như một sự giằng xé, để rồi với một giọng điệu can trường, lúc nào cũng khao khát dấn thân với một chí cả. Cũng cốt là để giải toả bớt những u uất, vùng vẫy những mong hé mở một chân trời, những bài thơ theo thể Hành đầy khí vị cổ xưa của ông ra đời đã chinh phục trái tim người đọc suốt nhiều thế hệ nửa thế kỷ nay. Một trong những đỉnh cao ấy, chắc rằng “Tống biệt hành” là đỉnh cao nhất. Chính từ đây ông đã nghiễm nhiên ngồi chung chiếu trong thi nhân Việt Nam. Cái chí cả “Tráng sĩ nhất khứ hề” như một thứ men say cho thi sĩ bay lên trong ánh mắt hoan lạc nhìn ra một chân trời rộng mở.
Đưa người, ta không đưa sang sông
Sao có tiếng sóng ở trong lòng
….
Đưa người ta chỉ đưa người ấy
Một giã gia đình một dửng dưng
            Có thể con đường dấn thân ra đi ấy cũng là con đường mong manh và bế tắc
Chí lớn chưa về bàn tay không
Đành là vậy, nhưng thân trai tráng không thể bó tay trước số phận. Nên chí đã quyết, phải dứt áo lên đường
Người đi! ừ nhỉ người đi thật
Mẹ già coi như chiếc lá bay…
            Tưởng nhớ ông, nhắc lại một ít khí vị “Tống biệt hành”. Từ những cảm xúc có thực ấy, ta hiểu ông đến với Cách mạng như một sự khai phóng được mở toang lồng ngực hít thở, hoà nhập vào thác lũ quần chúng nhân dân trong công cuộc kháng chiến chống ngoại xâm. ý thức công dân và trái tim của một thi sĩ đầy nhạy cảm giữa lúc dân tộc đang dầu sôi lửa bỏng, đã thôi thúc thi sĩ trở thành người cầm súng xông pha chiến trường. Thời gian này, ông công tác ở báo Vệ quốc quân (tiền thân của báo Quân đội nhân dân ngày nay). Một số thơ văn của ông trong giai đoạn này đã đánh dấu một quan điểm sáng tác mới gần gũi với nhân dân và công cuộc kháng chiến
Chiều mưa đường số 5
Chiều mưa đồng rạ trắng
Đất tề sông quạnh vắng
Ngồi kín dưới nhà tranh
Nghe gió lùa ắng lặng
(Chiều mưa đường số năm)
            Tiếc thay tài năng một thi sĩ đương độ ba mươi, ông ra đi để lại bao tiếc thương cho đồng đội, nhất là nền thơ ca Việt Nam mất đi một thi tài (ông mất vào ngày 18.08.1950).
            Nửa thế kỷ trôi qua, nhớ đến nhà thơ, bất cứ ai cũng đều có thể cất lên: “Đưa người, ta không đưa sang sông…”. Cuộc đời và sự vọng tưởng một tài thơ chỉ ngần ấy. Nhưng trong mọi lớp học từ khắp mọi nơi, thì “Tống biệt hành” là một áng thơ đã khảm khắc vào tâm hồn tất cả học sinh. Và đâu đó, bên chuyện kể về những tình yêu, về một thời thơ ca vang bóng trước Cách mạng tháng Tám, người ta ít ai lại không nhớ đến cái sắc màu “hoa Ty-gôn” huyền thoại, một nỗi buồn khôn nguôi chuyện lứa đôi, mà chính thi sĩ là người gieo hạt giống mọc đến vô tận những mùa sau “Thôi em hãy giữ cành hoa úa. Kỷ niệm ngàn năm một cuộc đời”…
(Nguyễn Nhã Tiên- báo Thừa Thiên Huế)

Thâm Tâm – Nền và đỉnh – Vương Trí Nhàn

Nếu cần chọn ra một trăm bài thơ hay nhất của thế kỷ XX, người ta nhất định phải lấy Tống biệt hành của Thâm Tâm. Song chính trong thời gian viết ra những câu thơ bất hủ ấy, tác giả còn cho in nhiều truyện ngắn mà đến nay vẫn chìm trong quên lãng. Tại sao? Qua việc tìm hiểu số phận các sáng tác của Thâm Tâm Nguyễn Tuấn Trình (1917-1950), có thể rút ra một vài quy luật chung của văn chương.
Từ những năm dúm dùm làm báo Bắc Hà với Trần Huyền Trân và Nguyễn Bính, cho tới những ngày làm thuê viết mướn cho Tiểu thuyết thứ bảy, Thâm Tâm trong đời sống văn học trước 1945 được biết tới như một kẻ khá lận đận. Qua những năm kháng chiến chống Pháp, khi Thâm Tâm chuyển về công tác ở báo Vệ quốc quân, người ta không thể nói là ông lận đận nữa, nhưng trong những ngày gian khổ ấy, tìm đâu ra chút bình tâm để trau chuốt mấy câu thơ như ý muốn! Và rồi cái chết ập đến, Thâm Tâm ra đi ở tuổi 33. Cho đến cả khi qua đời rồi, đấy vẫn là một số phận không may, ít ra là về đường văn nghiệp: Tập thơ riêng của ông mãi tới 1987 (còn sống, ông đã bảy mươi!) mới được in ra, mà lại là một tập thơ mỏng mảnh, chỉ vài chục trang, không đủ làm nên một cuốn sách có gáy. Hỡi ơi, Thâm Tâm khí phách, Thâm Tâm tài hoa! Không chừng chung quanh câu chuyện giời ơi đất hỡi về T.T.K.H., người ta còn chi ra nhiều giấy mực hơn, so với các trước tác do chính ông viết.
Chắc hẳn nhiều người đã nghĩ thế và tôi cũng nghĩ thế.
Vốn sẵn cảm tình với tác giả Can trường hành, Tống biệt hành… cho tới gần đây, có dịp đọc ít trang Tiểu thuyết thứ bảy, tờ báo chuyên về văn chương, phong cách bình dân như cơm bụi, do đó, thuộc loại phổ biến nhất, mấy năm trước 1945, tôi sung sướng nhận thấy trên Tiểu thuyết thứ bảy năm 1942-1943, cứ khoảng hai tuần một lần, loại một sáng tác văn xuôi hoặc kịch ngắn (thực chất cũng là một thứ văn xuôi biến dạng) của Thâm Tâm (khi ký tên thật Tuấn Trình, khi ký bút danh Thâm Tâm). Đến Nam Cao hồi ấy, đang độ chín của ngòi bút, cũng chỉ cho in đều đều đến thế.
Với tâm lý của một người làm nghề xuất bản, những mong săn được của quý trong sách báo lưu trữ, tôi thoáng ngạc nhiên: sao với Nam Cao, người ta đã sưu tầm sạch sành sanh, còn với Thâm Tâm, tác phẩm bỏ sót còn nhiều thế này?!
Nhưng đọc kỹ, tôi nhận ra là tôi mừng hụt. Chính tôi tưởng lầm chứ không phải người trước bỏ sót. Trong khi tác phẩm Nam Cao tự chứng tỏ sức sống mạmh mẽ ở khả năng gia nhập vào đời sống hiện đại của chúng – các thế hệ bạn đọc hôm nay vẫn có cảm tưởng nhiều truyện Nam Cao như viết dành riêng cho mình – thì (xin lỗi, cho phép tôi nói thật!), truyện ngắn của Thâm Tâm hiện ra cũ càng, xa lạ. Những gì mà vào thơ trở thành những bài thơ bi phẫn, u uất, và có một cốt cách cao quý, lúc qua văn xuôi, lại hoặc nhạt nhẽo, hoặc bơ vơ không đâu vào đâu, giống như hồi quang lờ mờ hiu hắt của một cách nghĩ cách cảm có phần lỗi thời.
Trách chi, trong một tài liệu sưu tầm nghiên cứu khá công phu như Tổng tập văn học Việt Nam, hai tập 30A và 30B, các soạn giả chỉ chọn cho Thâm Tâm có một truyện ngắn (truyện Tháng ba sấm động), ngụ ý để bạn đọc thêm cho có ý vị, trong khi Nam Cao, cũng như Nguyên Hồng, trở thành tác giả trụ cột của bộ sách.
Tôi kể những chuyện này để làm gì?
Thứ nhất, về mối quan hệ giữa đời người và sáng tác. Hoá ra, sự lận đận trong đời và những tâm huyết trong khi viết không phải là bảo đảm chắc chắn cho chất lượng tác phẩm. Người ta có thể sống rất cơ cực và gửi gắm nhiều đau đớn xót xa vào các dòng chữ mà khi in ra, tác phẩm vẫn cứ nhạt nhẽo, vơ vẩn và không làm ai cảm động. Đây là điều đã xảy ra ở nhiều người, không riêng gì Thâm Tâm.
Thứ hai, về một quy luật tồn tại trong văn học và nói chung là một đặc điểm của văn học: ở cùng một tác giả, có khi cả vài ngàn trang hậm hụi viết ra lại trôi tuột đi, trong khi một bài thơ vài chục câu viết vội trong bữa rượu tiễn bạn – như trường hợp bài Tống biệt hành – lại trở thành bất hủ và còn mãi với đời. Văn chương thật đỏng đảnh, thật tai quái chăng? Có lẽ thế. Song nếu nghĩ lại, và nhận ra rằng biết đâu, chính từ hàng ngàn trang đã viết ra kia, cố kết lại, rồi người cầm bút mới ứng tác được mấy chục câu thơ này thì người ta lại như được an ủi. Văn chương vẫn có cái lý riêng và lẽ công bằng riêng của nó!

Vương Trí Nhàn

Thâm Tâm một thời và mãi mãi – Văn Giá

Có một cách hình dung về đội ngũ những người sáng tạo văn học, căn cứ vào mức độ gắn bó với nghề ta có thể chia làm hai loại: Một, những người nếu không viết họ vẫn sống được, họ có thể bỏ bút đi làm nghề khác, ừ thì cũng có một chút lưu luyến nào đó với nghề, nhưng mà văn chương chẳng phải là…tất cả, cuộc đời còn có những thú vị khác hơn; và hai, những người nếu không viết thì không thể sống nổi, hiểu theo nghĩa cụ thể, vật chất, và cả với nghĩa tinh thần của nó. Không sống nổi bởi vì, nếu không viết văn thì họ chẳng biết làm gì, họ không có cái khả năng mưu sinh bằng những nghề khác, họ không thạo đi giữa cuộc đời.

Không sống nổi bởi vì cái đam mê văn chương như là định mệnh, nó cứ ám anh suốt đời. Có lúc rơi vào chán nản, muốn vứt hết chữ nghĩa văn chương đi, nhưng rồi bất ngờ nó lại hiện về, nó rủ rê quyến rũ anh, anh lại vồ lấy bút, lại đêm đêm độc lực viết như thiêu thân, viết như hành xác, viết đến lao lực… Nhà văn Thâm Tâm thuộc trường hợp thứ hai, nghĩa là Thâm Tâm sinh ra để làm nghệ sĩ. Như người ta vẫn thường nói: Văn chương nó chọn anh, chứ không phải anh chọn văn chương. Vâng, văn chương đã chọn Thâm Tâm để cất cánh trở thành thơ ca và truyện ngắn, trong đó có những vần thơ bất hủ, và một số áng văn xuôi đẹp đẽ.

Gia cảnh Thâm Tâm rất cơ hàn, túng quẫn. Từ Hải Dương lên Hà Nội (1938), kéo theo cả nhà gồm cha mẹ già, hai người chị cùng bốn đứa em còn nhỏ và người vợ, có đến cả chục miệng ăn như tằm ăn rỗi. Ngần ấy người dồn ép vào sống trong một căn nhà thuê tháng rộng khoảng chừng hai chục mét vuông. Thâm Tâm nhận việc đóng sách cho nhà in Mai Lĩnh rồi mang về cho cả gia đình làm, còn riêng mình thì đi vẽ tranh minh hoạ cho các báo, làm thơ, viết truyện, viết kịch, viết tạp văn…gửi đăng các báo vừa để sinh nhai, vừa thoả cái mộng văn chương hằng ấp ủ. Có nghĩa là ông viết cật lực, chẳng kén chọn gì lắm về đề tài, thể loại, nơi in…

Nhà văn Vũ Bằng kể lại: Khi đương giữ chân thư ký toà soạn cho tờ Tiểu thuyết thứ bẩy quãng năm 1941- 1943, ông thấy gia cảnh bạn mình túng thiếu, nên thường ưu tiên cho đăng của Thâm Tâm hai bài trong một số (hoặc một truyện, một thơ, hoặc một truyện, một kịch với hai bút danh: Thâm Tâm và Tuấn Trình) để bạn mình có chút đỉnh nhuận bút. Bây giờ nếu ai có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với tờ Tiểu thuyết thứ bẩy vào quãng thời gian này sẽ thấy liên tục trên các số báo có tác phẩm của Thâm Tâm với hai bút danh như vậy. Ngoài ra ông còn viết cho Truyền bá, Phổ thông bán nguyệt san (cũng của nhà Tân Dân), Tiểu thuyết thứ năm của Lê Tràng Kiều (chủ bút) và một số báo khác. Tính sơ bộ trong tài liệu mà chúng tôi sưu tầm được, ông có hàng chục bài thơ, 70 cái truyện ngắn truyện dài, trên chục vở kịch, một số tạp văn… ra đời trong quãng thời gian này. Có thể khẳng định rằng cái động cơ thôi thúc Thâm Tâm viết được nhiều như vậy chủ yếu thuộc về lý do mưu sinh, viết văn để kiếm sống, để phụ giúp vào một gia đình mà lúc nào cũng có nguy cơ đứt bữa.

Có thể ai đó sẽ cho rằng cách giải thích này không được “thơ” cho lắm, nhưng quả thật như thế (Cơm áo không đùa với khách thơ)! Mà chẳng cứ gì Thâm Tâm. Nhiều nhà văn nhà thơ ưu tú của chúng ta thời đó vướng vào nghiệp văn chương, cũng đã từng lận đận mưu sinh bằng ngòi bút. Kể từ bậc “trưởng lão” Tản Đà, cho đến Ngô Tất Tố, Lê Văn Trương, Lan Khai, Thạch Lam, Nam Cao, Tô Hoài và rất nhiều nhà văn khác. Vũ Trọng Phụng chẳng đã từng vừa ôm ngực vừa ho vừa viết, viết đến lao lực rồi chết đó sao.

Mà đã viết mưu sinh thì không thể không chạy theo số lượng. Tác phẩm được in ấn càng nhiều, thì cái nồi cơm trong mỗi bữa lại càng đầy, trong bữa ăn mọi người đỡ phải trông nồi ý tứ nhường nhau, mới dám nhìn thẳng vào mặt nhau một cách tự nhiên, thành thực. Chẳng may trong nhà có ai ốm đau, con cái có đứa nào sài đẹn mới có cái để chạy thuốc men cho đỡ tủi.

Tuy nhiên, ở những nhà văn có tài, trong số các văn phẩm ít nhiều chạy theo số lượng ấy vẫn có những tác phẩm đỉnh cao như thường. Vâng, phải có tài, người có tài thì ngay cả khi viết trong một điều kiện ngặt nghèo nhất, hoặc viết chạy theo một mục đích sát sườn nhất thì các trang viết vẫn cứ có thể lấp lánh như thường.

Tống biệt hành của Thâm Tâm là một thi phẩm thuộc vào hàng đỉnh cao sáng giá như vậy. Xin kể lại một kỷ niệm thời còn học đại học vào quãng những năm sau ngày giải phóng miền Nam 1975, lúc bấy giờ hầu hết Thơ Mới đang còn bị định kiến, bị hiểu lầm. Cho nên trong giới sinh viên, ai biết được bài nào liền thì thụt đọc hoặc chép cho nhau, vì thế nên có tình trạng tam sao thất bản. Riêng với bài Tống biệt hành, lứa sinh viên bọn tôi chỉ biết có bốn câu đầu. Vì là thể hành, nên đoán chắc bài thơ sẽ còn dài nữa, nhưng chẳng mấy ai biết phần tiếp theo là như thế nào, mà hỏi thầy thì không dám. Thôi thì đành ngâm nga bốn câu thơ đầu:

Đưa người, ta không đưa qua sông
Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
Bóng chiều không thắm không vàng vọt
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?

Phải thừa nhận rằng bốn câu mở đầu này có một sức quyến rũ mê người. Và hầu hết trong số chúng tôi đều coi mấy câu thơ ấy viết về tình yêu, viết về cuộc tiễn biệt của trai gái yêu nhau nào đó. Bảo là nỗi buồn nặng trĩu trong lòng đôi người yêu nhau kẻ đi người ở có gì là sai đâu. Chúng tôi lại còn ngâm nga, thậm chí viết tặng vào sổ tay bạn gái như một gửi gắm vu vơ. Sau này, khi định kiến đối với Thơ Mới dần được gỡ bỏ, tư liệu về Thơ Mới được công bố công khai, rộng rãi, mới biết rằng không phải như thế. Hoá ra bài thơ là câu chuyện và tâm sự của hai người đàn ông tráng chí nặng tình tiễn biệt nhau, một ở lại một lên đường vì chí lớn.Thậm chí lại có tư liệu cho biết nhà thơ Thâm Tâm viết tặng cho một người bạn hoạt động bí mật trong tổ chức cách mạng nhân lần tiễn bạn đi chiến khu chiến đấu (1).

Tuy nhiên, không vì thế mà ý nghĩa bài thơ bị bó hẹp vào một cách giải thích cụ thể nào, hoặc vẻ đẹp của nó bị suy giảm. Bài thơ đã được đưa vào trong chương trình văn THPT. Bài thơ đã gây ra những thảo luận, tranh luận sôi nổi một dạo. Có những cách hiểu khác nhau ít nhiều, điều này càng chứng tỏ tầm vóc của thi phẩm. Một tác phẩm hay, nó không chịu nằm yên trong một cách hiểu duy nhất nào, mà nó luôn muốn vượt thoát để đến với tất thảy mọi người, thuộc về mọi người. Như hương của một loài hoa quý, nó dâng tặng mọi người, nhưng hễ ai có ý định “nhốt” mùi hương lại đều cảm thấy ít nhiều thất bại. Với bài thơ bất hủ này, nhà văn Vũ Bằng, một người bạn đàn anh của Thâm Tâm đã tặng Thâm Tâm một thi hiệu nghe lạ lạ và thú vị: Nhà phù thuỷ hô sóng vào lòng và gọi hoàng hôn lên mắt(2).

Cũng lại Vũ Bằng, ông bảo Thâm Tâm là một người ốm yếu mà can đảm((3) 3), ý muốn nói thân hình Thâm Tâm thì nhỏ bé, da hơi đen, hơi gầy, ít nói, mà làm thơ viết văn thì hay nói đến cái tráng chí, cái hùng khí của con người. Quả thật, trong thơ của Thâm Tâm, thấy ông nói rất nhiều về niềm sầu hận, có khi trực tiếp, có khi xa gần gián tiếp:

Tan tiệc quần anh, người nuốt giận
Thằng bó văn chương đôi gối hận
Chán ngắt gia tình sầu ngất ngất
Già teo thân thế hận mang mang
Tro tàn có đốt không hồng nữa
Thắt lạnh bên lòng nỗi hận thương
Lòng ai bầm tím, ai buồn tối
Cũng tại rừng đời lạc lối ra

Sầu hận là một trạng thái tâm lý chỉ có đến giai đoạn cuối của phong trào Thơ Mới mới xuất hiện, nghĩa là vào quãng từ 1940 trở đi. Trước đó chỉ có thấy sầu mộng (Lưu Trọng Lư, Thế Lữ…), sầu đơn, sầu tủi, u sầu (Xuân Diệu, Nguyễn Bính…). Những nỗi sầu đó về cơ bản vẫn không nằm ngoài một chữ tình. Vượt ra khỏi chữ tình một chút, với Huy Cận, lại là vũ trụ sầu. Đến thời này, sự bế tắc của đời sống cá nhân nghệ sĩ đã lên đến tột đỉnh. Vũ Hoàng Chương phải kêu lên: Lũ chúng ta lạc loài dăm bảy đứa- Bị quê hương ruồng bỏ, giống nòi khinh. Trần Huyền Trân thì: Kinh thành mây đỏ như son- Cái lồng eo hẹp giam con chim trời. Đến Nguyễn Bính, cũng đã chán cảnh “giang hồ vặt”: Đất khách cùng đường ta khóc ta. Ngay cả Xuân Diệu của những năm 42-43 khi đang lưu lạc ở Mỹ Tho cũng đã bắt đầu thấy nhắc đến hai chữ “sầu hận”: Ngủ đi, ngủ đi, sầu hận muôn năm (Riêng tây)…

Nếu như các trạng thái sầu trên kia có nguyên do trực tiếp từ tâm tình cá nhân thì đến sầu hận, nguyên do lại bắt nguồn từ thời thế, từ những vang động xã hội. Một câu hỏi trực diện đặt ra cho bất cứ người nghệ sĩ nào lúc này là: Đi về đâu? Câu hỏi đó lập tức bắt người nghệ sĩ phải đối mặt với thời cuộc. Đi tìm giải pháp cho cách thế tồn tại của cuộc đời, mỗi người lựa chọn theo những cách khác nhau. Có người vùi mình vào những hưởng thụ cá nhân, nên bế tắc lại càng bế tắc. Có người nỗ lực tìm đường đổi thay số phận, không chịu bị cuộc sống đè bẹp. Trong những nỗ lực cảm động đó, có Thâm Tâm. Thơ ca cũng như văn xuôi của Thâm Tâm có khá nhiều tác phẩm trình bày hình ảnh người ra đi. Người ra đi này thường được đặt trong tình huống tống biệt, chia ly. Thông thường người ra đi là một người mang sầu hận, ôm chí lớn, và bữa rượu tiễn biệt đều có những nhân vật mang dáng dấp trượng phu hoặc chiến binh thời trung đại. Uống rượu thì phải ném vỡ tan chén rượu, phải tỏ chí ngang tàng, lắm khi nói lời thề thốt:

Thở phù hơi rượu đua tranh
Quăng tay chén khói tan thành trời mưa
Ly khách! Ly khách! Con đường nhỏ
Chí lớn chưa về bàn tay không

Có người rắp tâm ôm chí lớn nhưng không thành, quyết nuôi chí phục thù. Hình ảnh Huyền Sinh trong truyện ngắn Lá quạt hoa quỳ là một người như vậy. Chí lớn không có cơ thực hiện, người yêu bị Quỷ vương chiếm đoạt, chàng tưởng như lâm vào tuyệt vọng. Chàng giả điên để chờ thời. Người điên này chiều chiều thả vào trời đất tiếng sáo ai oán của mình. Thế rồi một hôm, một người có dáng trượng phu đến gặp rủ đi. Từ bấy chàng điên mất tích. Chàng đã lên đường. Đó là một hình ảnh ẩn dụ, nhuốm mầu bi tráng.

Tất cả những điều đó nói với chúng ta rằng Thâm Tâm thuộc trong số không nhiều các nhà văn có khí cốt mạnh mẽ lúc bấy giờ. Họ không thích kêu rên, than khóc. Cũng không muốn chết chìm vào trong những khoái thú cá nhân. Họ muốn đổi thay, muốn lên đường. Dòng huyết mạch chảy mạnh mẽ trong cơ thể họ. Quả tim trẻ tuổi đang đập rộn trong lồng ngực họ. Thơ của Thâm Tâm, Trần Huyền Trân có cái ngang tàng, khoẻ khoắn, dám đi “ngược gió” giữa đời. Sự thực là sầu hận và chí lớn đã tạo nên cái “chút bâng khuâng khó hiểu của thời đại” trong Tống biệt hành như Hoài Thanh đã từng cảm nhận. Tôi nghĩ rằng nếu nói lúc viết Tống biệt hành (1940-1941) Thâm Tâm đã đứng vào hàng ngũ hoạt động cách mạng thì e hơi sớm, nhưng bảo là Thâm Tâm đã cảm nhận được không khí sục sôi đang diễn ra từng ngày từng giờ của thời đại do những người cách mạng khởi xướng và lãnh đạo và đồng tình với nó thì chắc chắn là đã có. Cho nên, như một tất yếu, sau Cách mạng tháng Tám, Thâm Tâm rất sớm đi theo kháng chiến, đứng vào hàng ngũ những người cách mạng đánh đuổi kẻ thù xâm lược.

Nhưng nếu chỉ nói như thế không thôi, thì Thâm Tâm không đi xa hơn là mấy so với các nhà thơ trung đại. Cái điều làm cho Thâm Tâm trở thành điệu hồn Thơ Mới, Tống biệt hành trở thành thi phẩm Thơ Mới là ở chỗ: Nhà thơ đã thể hiện được một cách sâu sắc và thành thực đến cảm động cái mối giằng xé giữa con người tráng chí (con người tỏ mình trước cuộc đời) với con người tình nghĩa (con người vừa mang bổn phận hiếu đễ với gia đình, vừa thuận theo cái tình cảm tự nhiên mà ai cũng có với người thân, với bạn bè). Mối giằng xé này đã làm vọt ra những câu thơ đứng vào hàng tuyệt bút. Hãy thử lắng nghe xem đằng sau cái vẻ rất Kinh Kha kia là niềm day dứt, nỗi xót thương của một người nặng tình biết bao nhiêu, tưởng như những giọt nước mắt cố nén nay chực vỡ oà:

Người đi? Ừ nhỉ người đi thực!
Mẹ thà coi như chiếc lá bay,
Chị thà coi như là hạt bụi,
Em thà coi như hơi rượu say.

Bài thơ đã chạm vào nỗi lòng muôn thưở của kiếp người, thứ tấm lòng thuộc về nhân loại. Chính vì thế, bài thơ đã đi vào bất tử. Không có cái tôi Thơ Mới, các nhà thơ của chúng ta làm sao có thể đập vỡ được cái vỏ ước lệ thuộc về cái ta trung đại để bước vào cái tôi nhân văn phổ quát.

Như ta đã biết, sau này Thâm Tâm đi theo kháng chiến. Ông là thư ký Toà soạn báo Vệ quốc quân (tiền thân của báo Quân đội nhân dân ngày nay) có trụ sở đóng tại vùng căn cứ kháng chiến thuộc tỉnh Cao Bằng. Theo các tài liệu trong hồi ức của bạn bè đồng chí, Thâm Tâm là một người làm báo tận tuỵ, rất có trách nhiệm trước công việc, trước bạn đọc. Chỉ một cái địa danh in sai trên bản in thử mà ông đã băng rừng gần chục cây số qua suối lũ, hổ rừng đe doạ để sửa((4) 4). Ông mất vì bệnh sốt rét rừng. Cũng là do làm việc quá sức, ăn uống kham khổ, lại khí hậu khắc nghiệt mà ra cả. Đồng đội ông kể lại rằng khi phát hiện ra Thâm Tâm bị ốm thì đã vội cáng nhà thơ về trạm xá của đơn vị cách chừng một ngày đường đi bộ để điều trị, tiếc thay trên đường nhà thơ đã lặng lẽ tắt thở, không kịp trăng trối điều gì. Lúc ấy vào rạng sáng một ngày thu sương trên núi rừng Việt Bắc – 18.8.1950.

Người viết bài này đã cùng thân nhân gia đình Thâm Tâm và một số nhà văn nhà thơ khác của tỉnh Cao Bằng cất công đi tìm mộ nhà thơ Thâm Tâm. Thật kỳ công. Khung cảnh nơi đây đã khác hẳn. Năm mươi năm vật đổi sao dời. Khi xác định được đúng ngôi mộ rồi, thì hài cốt nhà thơ đã dược bốc dỡ, di dời về nghĩa trang huyện Quảng Hoà. Nhưng tiếc thay, về tới đây, khi chưa kịp gắn bia mộ, sơ đồ mộ chí còn trong túi hồ sơ, thì chẳng may trong vụ tháng 2-1979, hồ sơ bị những kẻ ngoại bang đốt sạch. Vậy là ngôi mộ Thâm Tâm hiện giờ không rõ đích xác ngôi mộ nào, nhưng chỉ biết chắc chắn là đã có mặt trong các hàng mộ liệt sĩ vô danh tại Nghĩa trang Quảng Hoà. Tên Anh đã hoà cùng tên Đất Nước.

Khi Thâm Tâm mất, hành trang chẳng có gì. Sau này gia đình nhà thơ được đơn vị trao lại một chiếc ba lô, trong đó còn một vài thứ gồm mấy trang ghi chép có tính chất nhật ký, cuốn Đại đội Kim Sơn của tác giả mới in, một bài tham luận tại Đại hội văn nghệ, sáu bức ảnh chụp hình nhà thơ và các bạn văn nghệ kháng chiến, một chiếc bút máy và một cái thìa nhỏ. Tất cả chỉ có thế. Bà quả phụ Thâm Tâm lâu nay vẫn đặt chiếc thìa nhỏ đó lên ban thờ linh hồn Thâm Tâm, như một kỷ vật thân thương duy nhất còn giữ được.

Tuy nhiên, còn có một thứ hành trang vô giá mà Thâm Tâm để lại đó là các áng văn thơ. Ông viết không phải là nhiều. Cũng không thể nói đó là một sự nghiệp đồ sộ. Nhưng lạ lùng thay, văn chương không phục tùng quy luật của số lượng, mà chỉ tuân theo quy luật về chất. Với Tống biệt hành, với vài ba truyện ngắn, thí dụ như Thuốc mê chẳng hạn, Thâm Tâm vĩnh viễn có chỗ đứng riêng trong nền văn chương dân tộc.

Núi rừng Việt Bắc, con người Việt Bắc cùng Đất Nước đã tiễn đưa Thâm Tâm vào cõi mây trời cách đây năm mươi năm có lẻ. Cuộc tống biệt này không có ngày đoàn tụ. Mỗi khi nhớ về ông, bỗng lại có sương khói hoàng hôn và những gợn sóng lòng ba động.

————————————————————————————

(1) Theo tài liệu của ông Hoài Việt, trong bài Thêm một chút tư liệu về bài Tống biệt hành, in trong Thâm Tâm và T.T.Kh, Nxb Văn học, 1997

(2), (3) Xem thêm trong bài Thâm Tâm: Nhà phù thuỷ hô sóng vào lòng và gọi hoàng hôn lên mắt, in trong Vũ Bằng- Mười chín chân dung nhà văn cùng thời (Văn Giá sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu), Nxb ĐHQG- Trung tâm Văn hoá và Ngôn ngữ Đông Tây, 2002.

(4) Xem bài Những phút cuối cùng của Thâm Tâm của nhà báo Trúc Kỳ, in trong Thâm Tâm và T.T.Kh (Sđd).

Nguồn: Thâm Tâm một thời và mãi mãi

Thâm Tâm tự tống biệt mình (Về bài thơ TỐNG BIỆT HÀNH của Thâm Tâm) – Vũ Bình Lục

“Tống biệt hành” của Thâm Tâm, như tôi thiển nghĩ, chỉ là bài thơ kiểu tự tình, tự đối diện với chính mình, tự phân thân như một thủ pháp nghệ thuật. Các hình ảnh, hình tượng thơ và cấu trúc hình thức, phải chăng, chỉ là cách biểu hiện độc đáo của tâm trạng, trong một bối cảnh đặc biệt nào đó của nhân vật trữ tình? Có thể là chính tác giả, cùng với những xúc cảm chân thành, khi quyết định bước chân vào trường tranh đấu đầy hiểm nguy, linh cảm sẽ có thể hy sinh. Một phần, cũng có thể tác giả trình bày như một ký thác tâm tư tình cảm của những người lính “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” chẳng hạn… Cũng chẳng nên rạch ròi quá làm gì, bởi thơ là nghệ thuật tuyệt diệu của trí tưởng tượng, phập phồng thực ảo, huyền bí sâu xa. Người đọc cảm nhận ở “Tống biệt hành” một tấm chân tình, một nỗi niềm trung thực, sáng trong, nhuốm màu bi tráng của một thời khốc liệt và oanh liệt của dân tộc đã qua.

Đưa người ta không đưa qua sông
Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
Bóng chiều không thắm không vàng vọt
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?

Đưa người, ta chỉ đưa người ấy
Một giã gia đình, một dửng dưng…
-Ly khách! Ly khách! Con đường nhỏ
Chí lớn chưa về bàn tay không
Thì không bao giờ nói trở lại!
Ba năm mẹ già cũng đừng mong

Ta biết người buồn chiều hôm trước
Bây giờ mùa hạ sen nở nốt
Một chị, hai chị cũng như sen
Khuyên nốt em trai dòng lệ sót

Ta biết người buồn sáng hôm nay
Trời chưa mùa thu, tươi lắm thay
Em nhỏ ngây thơ đôi mắt biếc
Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay…

Người đi? Ừ nhỉ người đi thực!
Mẹ thà coi như chiếc lá bay
Chị thà coi như là hạt bụi
Em thà coi như hơi rượu say…

Thâm Tâm (1917-1950) sáng tác chưa nhiều, tuy nhiên, chỉ với “Chiều mưa đường số 5” và “Tống biệt hành”, tên tuổi ông cũng đã khắc sâu vào lịch sử văn chương nước nhà, như một nhà thơ nổi tiếng. Và có giọng điệu riêng, đầy ấn tượng!

Bài thơ “Tống biệt hành”, thực ra cũng chỉ mới được tôn vinh trở lại từ khi có tư tưởng đổi mới. Hơn thế, nó còn được đưa vào sách giáo khoa, được nghiên cứu, bình giải, như một bài thơ đặc sắc của thơ ca tiếng Việt thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Đó cũng là một sự công bằng lịch sử!

Tuy nhiên, “Tống biệt hành” của Thâm Tâm, quả là một bài thơ có nội hàm phong phú. Đã xảy ra rất nhiều tranh biện về bài thơ này, cả về giá trị nội dung và nghệ thuật. Nhìn chung, cũng chưa hẳn là “xuôi chèo mát mái”, chưa hẳn người đọc người nghe đã tâm phục khẩu phục! Điều ấy cho hay, “Tống biệt hành” là một bài thơ chứa nhiều uẩn súc trong các hình ảnh, hình tượng thơ, trong cấu trúc thẩm mỹ, trong bối cảnh sáng tác…

Ngay cái tên bài thơ, toàn là từ Hán Việt. Có người hiểu “Hành” ở đây là một thể thơ (Thể Hành). Nhưng nếu ghép đầy đủ cả ba từ Hán Việt này thành một cụm từ, thì đơn giản chỉ là “Tiễn biệt người ra đi”…Thế thôi!

Vậy thì ai tiễn ai? Căn cứ vào bề mặt câu chữ “Đưa người ta không đưa qua sông”…thì có vẻ như tác giả bài thơ (Ta), cùng với gia đình (mẹ, một chị, hai chị và em gái) tiễn một người nào đó ra đi, một người bạn chẳng hạn, như tiễn biệt một tráng sỹ đi làm một công việc đặc biệt gì đó, vì nghĩa lớn, cao cả, ví như việc tiễn chàng hiệp sỹ Kinh Kha đi tiêu diệt Tần Thuỷ Hoàng, đã diễn ra ở bên Tàu cách đây mấy nghìn năm.

Tôi cho rằng, nhân vật trữ tình “Ta” với “Người” ở đây có lẽ chỉ là một. Nghĩa là “ta” cùng với gia đình tiễn biệt chính “Ta”, chứ chẳng phải là tiễn đưa một ai khác! Hãy đọc lại đoạn thơ mở đầu thử xem: “Đưa người ta không đưa qua sông/ sao có tiếng sóng ở trong lòng? / Nắng chiều không thắm không vàng vọt / sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?”…

Hãy khoan nói về nghệ thuật sử dụng các vần “bằng”, “trắc”, về nhịp thơ… để tạo dựng âm thanh, tiết tấu, gợi mở tâm trạng, gợi mở không gian bi tráng của đoạn thơ mở đầu, chỉ nói về bối cảnh tiễn đưa. Rằng “ta” tiễn một người ra đi, chẳng qua sông sâu biển rộng gì sất, mà nghe rõ như có tiếng sóng đang vỗ ào ạt trong lòng. Đấy là hỏi chính mình, đồng thời khẳng định đó chính là cảm xúc của chính mình, cảm xúc của một cuộc ra đi, linh cảm hình như là chẳng có ngày trở lại. Thế nên, đó là một cảm xúc buồn, mơ hồ buồn. “Nắng chiều không thắm không vàng vọt / sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?” Nỗi buồn đã nhuốm vào cả thiên nhiên, đến như ráng chiều cũng giài giại đi, “không thắm không vàng vọt”, ấy thế mà người ra đi cũng nhuốm đầy hoàng hôn trong đôi mắt trong veo, ráo hoảnh của mình.
Đoạn thơ mở đầu đã thấy dự báo một cuộc chia ly vĩnh viễn, như một định mệnh. Xốn xang buồn, bi tráng, nhưng vẫn làm chủ được mình, bởi đã trải qua bao vật vã nghĩ suy, rồi mới đi đến một quyết định dứt khoát. Người đọc thấy nể trọng một nhân cách lớn, không dối mình, không dối người, không lãng mạn viển vông, cũng không lên gân to tát. Bởi đó chính là tiếng nói của trái tim, nhân bản! Hãy nghe người thơ chiến sỹ tâm sự:“Đưa người, ta chỉ đưa người ấy / một giã gia đình, một dửng dưng”…Thế là “ta” tiễn biệt chính “ta”, “ta chỉ đưa người ấy”, nên mới “một giã gia đình, một dửng dưng”. Một khi mục tiêu đã xác định, chí đã quyết, thì “chí lớn chưa về bàn tay không / thì không bao giờ nói trở lại”, thì “ba năm mẹ già cũng đừng mong”! Cảm giác như người ra đi đang bừng bừng nghĩa khí, bất giác thốt lên những lời ca tráng sỹ, như cố xua đi, gạt phăng đi những cảm xúc có phần yếu đuối đang len lỏi trong tâm hồn tuổi trẻ yêu đời. Đó cũng là một cảm xúc chân thành, không phải chỉ Thâm Tâm mới có.

Tuy nhiên, để có một quyết tâm cao độ, dứt khoát như vậy, thật không đơn giản chút nào. Hãy nghe tác giả trình bày:

“Ta biết người buồn chiều hôm trước”, “Ta biết người buồn sáng hôm nay”. Thế nghĩa là buồn đã mấy ngày, trăn trở đã mấy ngày, chứ đâu phải đi vào chỗ hiểm nguy, vào chỗ có thể hy sinh mà bảo là tươi vui ngay cho được? Có lẽ người ra đi suy nghĩ lung lắm, phần thương mẹ già, em nhỏ, các chị gái chưa chồng, chiến tranh loạn lạc thế này, trai tráng ra đi hết cả, “bây giờ mùa hạ sen nở nốt”, biết đâu rồi “một chị hai chị cũng như sen”, nở rồi cũng sẽ tàn? Có thể các chị “khuyên nốt em trai” bằng những dòng lệ xót xa thương cảm, còn sót lại, sau khi đã chảy nhiều rồi. Còn cô em gái bé bỏng ngây thơ, thương anh, cũng chỉ biết “gói tròn thương tiếc”, gói lại những giọt nước mắt xót thương anh trong chính chiếc khăn tay bé nhỏ của mình…

Cuối cùng, những buồn thương, những xót xa trong buổi tiễn đưa người ra đi rồi cũng tạm lắng dịu. Tác giả dường như vừa chợt tỉnh cơn mơ: “Người đi? ừ nhỉ người đi thực!”. Thế là đi thật rồi, chia ly thật rồi! Bao vật vã giằng xé, lại dồn nén, rồi bật ra những lời tâm sự chí tình. “Ly khách” dường như đang nói lời tâm huyết với mẹ, với chị và với em, xem như lời dặn dò sâu nặng: Với mẹ, thì xin mẹ hãy coi con như một chiếc lá, một chiếc lá xanh, một “chiếc lá bay”…Với chị, xin hãy cứ coi thằng em trai này như một hạt bụi trên đời, thân cát bụi lại trở về cát bụi, thế thôi. Còn với đứa em bé nhỏ “mắt ngây thơ”, tình cảm anh em, hãy xem đó chỉ là một thoáng tươi đẹp trong đời, “như hơi rượu say”, rồi sẽ dần nguôi quên…

“Tống biệt hành” của Thâm Tâm, như tôi thiển nghĩ, chỉ là bài thơ kiểu tự tình, tự đối diện với chính mình, tự phân thân như một thủ pháp nghệ thuật. Các hình ảnh, hình tượng thơ và cấu trúc hình thức, phải chăng, chỉ là cách biểu hiện độc đáo của tâm trạng, trong một bối cảnh đặc biệt nào đó của nhân vật trữ tình? Có thể là chính tác giả, cùng với những xúc cảm chân thành, khi quyết định bước chân vào trường tranh đấu đầy hiểm nguy, linh cảm sẽ có thể hy sinh. Một phần, cũng có thể tác giả trình bày như một ký thác tâm tư tình cảm của những người lính “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” chẳng hạn… Cũng chẳng nên rạch ròi quá làm gì, bởi thơ là nghệ thuật tuyệt diệu của trí tưởng tượng, phập phồng thực ảo, huyền bí sâu xa. Người đọc cảm nhận ở “Tống biệt hành” một tấm chân tình, một nỗi niềm trung thực, sáng trong, nhuốm màu bi tráng của một thời khốc liệt và oanh liệt của dân tộc đã qua.

Thâm Tâm (Liệt sỹ Nguyễn Tuấn Trình), chàng trai Xứ Đông tràn đầy nhiệt huyết đã ngã xuống khi tuổi đời đang sung sức. Vậy nên, “Tống biệt hành” có thể xem là một bài thơ dự báo định mệnh. Đó là một bài thơ rất lạ, đến nay còn lạ, khiến người đời sau phải rơi nước mắt, phải nghĩ ngợi mãi chưa thôi!

Hà Nội 15-10-2010

Thâm Tâm với danh tác “Tống biệt hành” – Huyền Viêm

Đưa người ta không đưa qua sông
Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
Bóng chiều không thắm, không vàng vọt
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?

Đó là bốn câu thơ mở đầu cho bài “Tống biệt hành”, bài thơ đã làm nên sự nghiệp văn chương của Thâm Tâm.
Thâm Tâm tên thật là Nguyễn Tuấn Trình, sinh ngày 12.5.1917 tại Hải Dương, xuất thân trong một gia đình nhà nho nghèo và đông con. Sau khi học hết bậc tiểu học, ông phải ở nhà giúp gia đình đóng sách và nấu bánh kẹo. Khoảng năm 1938, ông cùng gia đình lên Hà Nội sống bằng nghề vẽ tranh Bờ Hồ, làm đồ gốm và bắt đầu viết văn. Ông cộng tác với Tiểu Thuyết Thứ Bảy, Tiểu Thuyết Thứ Năm, Ngày nay, Bắc Hà.
Sau Cách mạng tháng tám, ông công tác ở Hội Văn hóa cứu quốc và làm biên tập viên cho tạp chí Tiên Phong. Khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, ông nhập ngũ, làm thư ký tòa soạn báo Vệ quốc quân (tiền thân của báo Quân đội nhân dân), cơ quan ngôn luận của Quân đội nhân dân Việt Nam. Ông vừa làm thơ, viết tin, soạn kịch, vừa trình bày và vẽ tranh châm biếm.
Năm 1950, Thâm Tâm đi chiến dịch Cao Lạng để làm báo ngoài tiền tuyến. Ngày 18 tháng 8, một cơn sốt rét ác tính đã cướp mất đời ông ở tuổi 33 tại xã Phi Hải, huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng.
Lúc đầu, vì dùng văn chương để làm kế mưu sinh nên Thâm Tâm viết nhiều thể loại. Về truyện, ông có tiểu thuyết Thuốc mê (1943), Đại đội Kim Sơn (1948). Về kịch có các vở Sương tháng tám (1939), 19 tháng 8 (viết chung với Trần Huyền Trân), Lối sống, Nga Thiên Hương, Đầu quân vào Nam (1945), Lá cờ máu (1946). Về tiểu luận có Văn thơ bộ đội (1949).
Nhưng chỉ có thơ mới làm cho Thâm Tâm nổi tiếng. Thơ của ông để lại không nhiều, khoảng 20 bài, trong đó có bài Tống biệt hành đã mang lại cho ông vòng nguyệt quế. Bài thơ này thành công nhất, được Hoài Thanh, Hoài Chân tuyển vào cuốn Thi nhân Việt Nam và người yêu thơ nào cũng biết.
Trước Cách mạng tháng tám, thơ Thâm Tâm rất buồn. Nhà thơ Vũ Cao – tác giả bài thơ Núi đôi – cũng có nhận xét như thế :
-“Trước cách mạng, tôi chỉ đọc Thâm Tâm vài truyện ngắn, vài bài thơ. Thơ anh rất buồn, cái buồn của những người bất đắc chí, chỉ biết đi là đi, chia biệt, mong nhớ, đượm cái khí thế “trượng phu” thời cổ, hào hùng thì ít, u hoài thì nhiều :
Chim nhạn chim hồng rét mướt bay,
Vuốt cọp, chân voi còn lận đận…”
(Vọng nhân hành)
Thâm Tâm buồn vì nhiều lẽ : vì “sinh bất phùng thời”, vì hoàn cảnh khó khăn, vì bạn bè ly tán…
Tai hại bao nhiêu sự thực đời,
Trừng lên, dập hết mộng. Như người
Tưởng yên ổn sống trong khung cổ,
Vụt tiếng kèn vang nhắc… hiện thời.
(Mơ thuở thanh bình)
Trong khi đó, cuộc sống của tác giả và gia đình gặp biết bao nỗi khó khăn :
Sinh ta, cha ném bút rồi,
Rừng nho tàn rụng cho đời sang xuân.
Nuôi ta, mẹ héo từng năm,
Vắt bầu sữa cạn, tê chân máu gầy.
Dạy ta ba bảy ông thầy,
Gươm dài sách rộng, biển đầy núi vơi.
Nhà ta cầm đợ tay người,
Kép bông đâu áo, ngọt bùi đâu cơm?
(Tráng ca)
Vì hoàn cảnh của đất nước, bạn bè của tác giả phải ra đi, mỗi người một phương trời, không hẹn ngày tái ngộ :
Ngươi chẳng thấy
Vì đời ta buồn như thế đấy,
Cho nên tri kỷ tếch phương trời
Chén rượu ngồi suông vắng cả người !
(Can trường hành)
Nỗi buồn của Thâm Tâm bàng bạc qua các trang thơ. Nghĩ đến chuyện cũ (cố sự) thì nỗi buồn cao vời vợi :
Chán ngán nhân tình sầu chất ngất
(Ngậm ngùi cố sự)
Nghĩ đến cuộc đời mình rày đây mai đó, chẳng biết sẽ trôi giạt về đâu nên lại càng buồn :
Nước mạnh như thác một con thuyền,
Ta lênh đênh hoài, sầu biết mấy !
(Can trường hành)
Vì buồn nên đi vãng cảnh cho đỡ buồn, nhưng cảnh Hương sơn cũng không thể làm vui một tấm lòng sầu não :
Khói sương trời đã nhuốm sầu thời gian
(Chào Hương sơn)
Sống dưới thời Pháp thuộc, làm dân một nước nô lệ, thơ Thâm Tâm biểu lộ nỗi bất bình với thời cuộc, nỗi u uất của thời đại và tâm trạng bế tắc không lối thoát. Nỗi đau của Thâm Tâm cũng là nỗi đau của những người cùng thế hệ :
Bọn ta một lớp lìa nhà,
Cháo hàng cơm chợ, ngồi ca lúa đồng.
(Tráng ca)
Muốn làm được việc lớn nhưng sức chưa đủ, thời chưa thuận và “vuốt cọp chân voi còn lận đận” nên:
Thằng thí cho nhàm sức võ sinh,
Thằng bó văn chương đôi gối hận.
Thằng thư trói buộc, thằng giả quê,
Thằng phấn son nhơ… chuửa một về.
(Vọng nhân hành)
Nói như Bùi văn Trọng Cường:“gam màu chủ đạo của hồn thơ Thâm Tâm là trầm và lạnh” quả không sai.
Buồn và bế tắc như vậy thì chỉ còn một lối thoát : ra đi. Vì thế trong thơ, Thâm Tâm luôn nhắc đến những từ như : ra đi, chia tay, lên đường, những trường đình, khói tàu, hiệu còi xoáy lộng, thét roi, phiếm du, xách gói sang Nam v.v… Nhưng đi đâu?
Tôi sẽ đi và chưa biết đi đâu (Bùi Giáng)
Thật vậy, đó là tâm trạng chung của thanh niên Việt Nam trước năm 1945. Họ muốn ra đi nhưng không có định hướng, chẳng biết đi đâu, về đâu, miễn là thoát ly khỏi cái bầu không khí ngột ngạt lúc bấy giờ.
Nhưng đi thì phải xa quê, xa bạn bè người thân, nỗi lưu luyến bùi ngùi làm se lòng người ly khách:
Trời hỡi ! Mai này tôi phải đi,
Thơ này rồi chẳng đọc ai nghe.
Đời nhiều nhưng có dăm người bạn
Thì viễn ly không hứa hẹn về.
(Ngược gió)
Nhưng chuyện ra đi vẫn thôi thúc hoài làm cho tác giả không yên nên mới quyết lòng dứt khoát:
Tiệc này đêm cuối, mai chia ly,
Anh cố lưu tôi có ích gì.
Đời người say tỉnh được bao dịp?
Xin cạn chén rượu để tôi đi.
(Lưu biệt)
Trong thơ Thâm Tâm, khung cảnh chia tay, lên đường như thế có thể thấy ở nhiều bài thơ:
Sáng mai qua bến Ninh Cơ lạnh,
Sẽ thấy se lòng trận gió tê.
Giọng đàn lưu luyến làm chi nữa,
Tôi quyết đi rồi, tôi phải đi.
(Lưu biệt)
Khi nghe cơn gió lên là lại muốn ra đi, không hẹn ngày về:
Hay đâu kẻ vũ đất Lương Yên
Một sớm nghe bùng cơn gió lên
Xách gói sang Nam không hẹn lại,
Chỉ hiềm chẳng đụng đến cung tên !
(Can trường hành)
Nhưng trong các văn thi phẩm của Thâm Tâm, chỉ có bài thơ “Tống biệt hành” là có thể đứng mãi được với đời. Bài thơ hay và lạ này “đượm chút bâng khuâng khó hiểu của thời đại” (Hoài Thanh). Đã có rất nhiều bài viết về Tống biệt hành (nên ở đây chúng tôi không đi sâu vào chi tiết), hầu hết đều khen nhưng vẫn có chỗ bất đồng ở ba câu cuối. Có người đã viết :“Nếu kể tên mười nhà thơ Việt Nam lớn nhất, không chắc có Thâm Tâm, nhưng chọn mười bài thơ mới hay nhất khó có thể bỏ qua Tống biệt hành”. Điều ấy đúng. Bài thơ mở đầu bằng bốn câu rất lạ:
Đưa người ta không đưa qua sông
Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
Bóng chiều không thắm, không vàng vọt
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?
Lạ là ở chỗ ý tương phản : không đưa qua sông sao lại có tiếng sóng? Bóng chiều không thắm cũng không vàng vọt sao trong mắt lại có bóng hoàng hôn? Lạ và hay cũng là ở đó.
Những câu tiếp theo nói về chí khí của người ra đi : nếu không thành công thì sẽ không có ngày “qui cố hương”:
Chí lớn chưa về bàn tay không
Thì không bao giờ nói trở lại,
Ba năm mẹ già cũng đừng mong.
Tuy vậy, người ra đi làm sao tránh khỏi nỗi buồn vì còn mẹ già, hai chị và em thơ, những người chân yếu tay mềm rất cần một đấng nam nhi để làm nơi nương tựa :
Ta biết ngươi buồn chiều hôm trước,
…. Ta biết ngươi buồn sáng hôm nay.
Và đoạn kết, lời lẽ cứng rắn, cương quyết, ly khách quyết lòng dứt áo ra đi :
Người đi ! Ừ nhỉ, người đi thực !
Mẹ thà coi như chiếc lá bay.
Chị thà coi như là hạt bụi,
Em thà coi như hơi rượu say !
Có hai ý kiến trái ngược nhau về khổ thơ này. Ý kiến thứ nhất cho rằng người ra đi coi mẹ như chiếc lá bay, coi chị như hạt bụi và coi em như hơi rượu say. Như thế có vẻ dửng dưng, tàn nhẫn quá.
Ý kiến thứ hai cho rằng : thà mẹ coi con (ly khách) như lá bay, chị coi em như hạt bụi và em gái coi anh như hơi rượu say. Ý là người ly khách muốn mẹ, chị và em coi mình như vậy để đỡ nhớ nhung, thương tiếc, bận lòng. Ý này dành cho người ra đi một sự thiệt thòi nhưng có thể chấp nhận được nên phần đông ngả về ý kiến này.
“Ta hãy chú ý cách ví von :“chiếc lá bay, hạt bụi, hơi rượu say”đều là những hình ảnh động (vì hạt bụi cũng bay, càng bay mạnh, còn rượu thì tất nhiên bốc hơi và biến đi đâu mất) như vậy sẽ không ứng với những người ở lại nhà, tiếp tục sống một cuộc đời tĩnh tại, tù túng. Nếu các hình ảnh ấy vận vào người ra đi, người sắp dấn thân vào một cuộc phiêu lưu vô định, dễ thường hợp hơn chăng?” (Đỗ Lai Thúy). Ý kiến này nghe ra rất có lý.
Vậy còn người ly khách trong bài là ai? Có hai nhân vật được nêu lên.
Theo ông Ngọc Giao, một nhà văn viết cho Tiểu Thuyết Thứ Bảy cùng với Thâm Tâm thì bài thơ “Tống biệt hành” bất tử của Thâm Tâm chính là tác giả gửi tâm sự vào đó trong bữa rượu tại nhà Lê Văn Trương chia tay một người bạn tên là Viễn sắp đi xa… Thâm Tâm ứng khẩu đọc bài thơ ấy trên chum rượu bên hồ. Cũng theo ông Ngọc Giao thì “anh chàng Viễn – một tay đồ tể khét tiếng ở lò sát sinh Lò Đúc – làm nghề chọc tiết lợn nhưng Viễn rất yêu mến, hiểu biết về văn học, hào hiệp như một hảo hán thời Đông Chu liệt quốc” (Hoài Việt) (1).
“Nhưng theo ông Phạm Quang Hòa, nguyên Giám đốc sở Thông Tin Liên khu X (Việt Bắc) thì Thâm Tâm viết bài thơ này là để tặng ông ngày ông tìm lên chiến khu. Trước lúc ra đi, ông có mời ba người bạn thân là Trần Huyền Trân, Nguyễn Bính và Thâm Tâm đến uống rượu tiễn. Mỗi người làm một bài thơ tặng ông. Thâm Tâm làm bài thơ Tống biệt hành, Nguyễn Bính có bài Chia tay, còn bài thơ của Trần Huyền Trân thì ông không nhớ.
Trong bài Tống biệt hành có một số người phụ nữ được nhắc đến, đó là hai người chị của ông (một chị dâu, một người bạn gái của chị dâu) và cô em gái chính là người yêu của ông lúc đó mới 16 tuổi” (Hoài Việt).
Ba người này khiến cho ta thấy có chỗ không ổn. Từ trước tới nay, đọc Tống biệt hành, ai cũng hiểu là hai chị và em gái nói trong bài đều là chị em ruột của người ly khách. Trường hợp của ông Phạm Quang Hòa thì một là chị dâu, một là bạn của chị dâu (xa lắc), một là người yêu (chưa cưới) thì đâu phải là người trong gia đình (trừ chị dâu), đâu phải là ruột thịt để mà có một mối tình thâm sâu như thế? Điều này rất đáng ngờ và ly khách vẫn mãi mãi là ẩn số như T.T.Kh. vậy. Nếu ta biết rõ một T.T.Kh. bằng xương bằng thịt có lẽ ta sẽ thất vọng biết bao !
Theo nhà thơ Vũ Cao thì Thâm Tâm có nước da đen sạm, người gầy gò, nét mặt lạnh lùng đến khắc khổ. Trong sinh hoạt thường ngày, ông là người kín đáo, ít nói. Chỉ đôi khi có món “cải thiện”, anh em tổ chức bữa ăn tươi, kiếm thêm chút rượu uống và chuyện trò vui vẻ thì ông mới góp đôi ba câu chuyện, nhưng cũng không dài. Thường những khi đó, ông hay lấy giấy bút ra ngồi im lặng ký họa khuôn mặt các cô gái, cô nào cũng béo và đề thơ kèm bên cạnh. Anh em đùa rằng : Anh gầy thế mà sao cô nào cũng béo? Thâm Tâm chỉ cười không nói (Từ Bích Hoàng).
Vậy con người lạnh lùng khắc khổ ấy có biết yêu không? Có đấy. Bài thơ đầu tiên của Thâm Tâm là một bài thơ tình nhan đề “Đây cảnh cũ, đâu người xưa?” (1941) do bà Oanh, chị của Thâm Tâm đọc lại. Bài thơ này ông ký bút hiệu Trăm Năm. Theo đó thì Thâm Tâm gửi gắm mối tình đầu cho một thiếu nữ tên Trinh :
Gặp Trinh trong bóng xuân đào,
Đang khi quãng gió dạt dào chim ca. 
Má hồng, hồng đượm hương hoa,
Rung rinh đọng giọt phấn nhòa sương rơi….(2)
Bài thơ cứ thế kéo dài đến 22 câu lục bát. Chắc chắn mối tình này không thành nhưng cũng không ai biết cô Trinh nói trong bài là ai. Năm 1939, Tiểu Thuyết Thứ Bảy đăng ba bài thơ Hai sắc hoa ti-gôn, Bài thơ thứ nhất và Bài thơ cuối cùng ký bút hiệu T.T.Kh. khiến dư luận xôn xao trong làng văn. Mọi người đồn đãi rằng T.T.Kh. là người yêu của Thâm Tâm. Nhưng bà Kim Chi, một người bạn cố tri của Thâm Tâm cho hay thơ T.T.Kh. là do Thâm Tâm làm. Rồi một người khác, trên đường hành quân cùng Thâm Tâm đã hỏi ông và người này cũng khẳng định mấy bài thơ ký T.T.Kh. là một cái tên không có thật. Nhà nghiên cứu văn học Hoài Anh, trong một bài báo, cũng cho là những bài thơ ký T.T.Kh. là thơ của Thâm Tâm (Hoài Việt). Như thế là đã rõ.
Thơ Thâm Tâm buổi đầu chịu ảnh hưởng của xu hướng lãng mạn trong phong trào thơ mới nên có tư tưởng thoát ly như Thế Lữ với Giây phút chạnh lòng hay Nguyễn Bính với Hành phương Nam. Thơ ông lại có vẻ bi tráng, mang hơi hướng cổ phong và hào hùng như các tráng sĩ thời xưa. Sau Cách mạng, thơ ông có chuyển hướng, sát thời cuộc hơn như bài “Chiều mưa đường số 5” được nhiều người khen ngợi.
***
Theo nhà báo lão thành Trúc Kỳ, người đồng đội của Thâm Tâm, cùng làm báo Vệ quốc quân ngày đó, thì năm 1950, khi ở Trung Quốc về, ông nhận được điện phải đến gấp cơ quan ở một bản nhỏ dưới chân đèo Mã Phục, gần thị trấn An Lại, cách thị xã Cao Bằng khoảng 18 cây số về phía Bắc. Ông được lệnh về thay Thâm Tâm đang bị ốm nặng.
Sáng hôm sau, ông lên đường đến chỗ Thâm Tâm, cách đó hơn 30 cây số nữa. Chiến dịch Cao Lạng đang được chuẩn bị rất khẩn trương. Thâm Tâm nằm giữa một cái lán, bốn bề trống huếch trống hoác, lộng gió như ở ngoài đồng. Thâm Tâm hoàn toàn khác hẳn. Ông sốt rất cao, đôi má lõm sâu, da mặt vàng khè, mắt càng vàng hơn dưới đôi quầng thâm xịt. Trúc Kỳ ôm choàng lấy Thâm Tâm mà khóc.
Thấy không thể để Thâm Tâm như vậy được, Trúc Kỳ liên hệ với địa phương xin hai dân quân tới cáng Thâm Tâm về An Lại để có phương tiện chữa chạy hơn. Đoàn rời bản Piềng lúc hơn 5 giờ chiều. Họ đi suốt đêm, gần sáng thì đến An Lại. Bỗng một người dân quân hốt hoảng gọi to :
– Mân thai gia lố ! (Nó đã chết rồi !).
Trúc Kỳ rụng rời tay chân. Biết làm thế nào bây giờ? Đồng bào thiểu số có tục không cho mang người chết vào nhà. Biết người bí thư chi bộ là người tiến bộ, ông Võ Bá Tải phụ trách Hành chánh Quản trị đến thăm dò ý kiến rồi tươi tỉnh chạy về nói :“Đồng chí bí thư đúng là người rất hiếm thấy. Đồng chí bảo cứ đưa anh Thâm Tâm vào nhà, đặt nằm trên sàn và buông màn xuống coi như đang ngủ, đến sáng rõ mới loan tin chết”.
Lát sau, người chủ nhà lặng lẽ hạ tất cả bộ cửa gỗ xuống rồi một mình hì hục đục đục cưa cưa : anh đóng cỗ áo quan cho Thâm Tâm !
Trúc Kỳ và các bạn mặc quần áo cho Thâm Tâm, nhìn mặt ông lần cuối, bó chặt ông bằng tấm chăn mới, khênh ông đặt vào quan tài rồi đậy nắp ván lên. Thân nhân không có ở đây, chỉ có đồng chí, bạn bè tiễn đưa ông đến nơi an nghỉ cuối cùng ở chân đèo Mã Phục (3).
Ngày 17-8-2000, gia đình anh Nguyễn Tuấn Khoa – con trai của nhà thơ Thâm Tâm – cùng với đoàn làm phim đài Truyền hình VN về thăm Cao Bằng, nơi đã an táng Thâm Tâm gần 50 năm về trước. Nhưng mộ của Thâm Tâm đã được UBND huyện Quảng Hòa qui tập về nghĩa trang liệt sĩ của huyện từ những năm sáu mươi. Nghĩa trang đã thay đổi địa điểm đến bốn lần. Ông chủ tịch huyện Quảng Hòa Nông Vĩnh Trung cho biết : lúc qui tập phần mộ các liệt sĩ về nghĩa trang thì cũng chỉ đánh số và vẽ lại sơ đồ. Nào ngờ tháng 2-1979, kho tài liệu lưu trữ của huyện đặt tại một hang đá đã bị đốt phá sạch, trong đó có sơ đồ mộ liệt sĩ. Bây giờ ở nghĩa trang, riêng khu mộ liệt sĩ chống Pháp gồm 151 ngôi, chỉ một ngôi duy nhất có tên, còn lại đồng loạt là ghi dòng chữ : Liệt sĩ chống Pháp. Phần mộ Thâm Tâm cũng “vô danh” trong số 150 ngôi còn lại.
Đoàn tìm đến nhà người bí thư năm xưa đã giấu vợ con cho phép đưa thi hài Thâm Tâm vào nhà và tháo cửa gỗ để đóng quan tài cho Thâm Tâm. Ông đã mất từ lâu, chỉ còn người cháu nội giúp phát hiện ra vùng đất trũng vốn là ngôi mộ của nhà thơ Thâm Tâm, nay cỏ mọc xanh um vẫn được bà con hương khói giữ gìn chu đáo.
Sau khi đặt mâm lễ hoa quả thắp hương xong, vợ chồng anh Nguyễn Tuấn Khoa xin phép bà con dân bản lấy một nắm đất gói vào vuông vải điều để mang về thờ. Bầu không khí lặng lẽ, trang nghiêm và cảm động (4).

(1) Trích trong “Hồi ức về Thâm Tâm”, tạp chí Văn học số 3-1991.
(2) Tư liệu của Phương Thảo.
(3) Tóm tắt bài “Những phút cuối cùng của Thâm Tâm” của Trúc Kỳ.
(4) Văn Giá – Về Việt Bắc tảo mộ nhà thơ Thâm Tâm.

Người đưa tiễn trong Tống biệt hành – Mai Văn Hoan

Khi phân tích, bình giảng, tranh luận về Tống biệt hành của Thâm Tâm các bài viết thường quan tâm đặc biệt đến hình tượng người ra đi. Người ra đi là ai? Một chiến sĩ cách mạng? Một đấng trượng phu? Hay một chàng lãng tử? Người đưa tiễn đã được nhắc đến nhưng chưa được quan tâm đúng mức. Trong khi đó theo tôi mấu chốt bài thơ chính lại nằm ở người đưa tiễn. Ngay hình tượng người ra đi cũng chủ yếu được thể hiện qua lời của người đưa tiễn. Ở bài thơ này Thâm Tâm đã nhập thân vào người đưa tiễn. Người đưa tiễn vừa là nhân vật trữ tình vừa là đối tượng trữ tình. “TA” đang nói với “TA”. “TA” đang nói với chính lòng mình. Vấn đề đặt ra là “TA” có quan hệ thế nào với người ra đi? Đó là chìa khóa để giải mã những khoảng trống, những nét mờ trong những câu thơ, đoạn thơ gây nhiều tranh cãi.

Nếu đọc lướt qua Tống biệt hành rất dễ ngộ nhận “TA” là một đấng nam nhi, bởi cái chất giọng rắn rỏi, gân guốc mà Thâm Tâm tạo nên trong bài thơ. Đọc kĩ lại, tôi nhận thấy ngoài chất giọng rắn rỏi, gân guốc, Tống biệt hành còn ẩn chứa một chất giọng khác rất sâu lắng, rất trữ tình và đầy nữ tính. Kiểu xưng “TA” và gọi người ra đi là “NGƯỜI” đã phần nào giúp tôi đoán được mối quan hệ của họ. Tú Xương đã từng nhắn gửi với người mình yêu: “Ta nhớ người xa cách núi sông…”; Nguyễn Du cũng từng để nàng Kiều tự dằn vặt mình: “Vì ta khăng khít cho người dở dang…”. Qua giọng thơ trữ tình, qua cách xưng hô và chủ yếu là qua sự bộc bạch nội tâm trong Tống biệt hành, tôi tin chắc rằng Thâm Tâm đã nhập vai bạn gái của người ra đi. Nàng rất hiểu, rất yêu chàng trai nhưng tình yêu đang còn dồn nén trong lòng. Chính sự dồn nén ấy đã tạo ra chất giọng trữ tình, sâu lắng rất khó nhận diện trong suốt bài thơ.

Hãy thử đọc lại bốn câu mở đầu:

Đưa người ta không đưa qua sông
Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
Bóng chiều không thẳm, không vàng vọt,
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?

Đôi “mắt trong” chứa đầy “hoàng hôn” kia chỉ có thể là mắt của phái đẹp? Nếu nói đây là mắt của “em nhỏ ngây thơ” thì không hợp với hai câu trên. “Tiếng sóng lòng” và “hoàng hôn” chỉ có “TA” nghe, “TA” thấy, “TA” ngạc nhiên và “TA” tự đặt câu hỏi với chính mình. Có người bắt bẻ: Sao “TA” lại thấy hoàng hôn trong mắt “TA” được? Xin thưa: “Tiếng sóng” và “hoàng hôn” ở đây đâu nghe bằng tai đâu thấy bằng mắt. “Tiếng sóng” và “hoàng hôn” không ở ngoài vào mà từ trong ra. Đó chính là nỗi vấn vương, nỗi buồn mênh mông của người đưa tiễn. Nàng ngạc nhiên chính vì mãi đến lúc đưa tiễn nàng mới cảm hết nỗi trống vắng trong tâm hồn khi biết rằng người mà mình thầm yêu, trộm nhớ ra đi khi không hẹn ngày trở lại. Nàng tự thú với lòng:

Đưa người, ta chỉ đưa người ấy
Một giã gia đình, một dửng dưng…

“Ta chỉ đưa người ấy” là một cách nói tránh rất tế nhị, rất kín đáo. Điều nàng muốn khẳng định với mình là: ta yêu người ấy! Có điều giữa ta và chàng chưa ai dám thể hiện ra bên ngoài. Cả hai cố làm ra vẻ “dửng dưng”. Những người xung quanh không một ai biết “tiếng sóng” trong lòng và “hoàng hôn” trong mắt người đưa tiễn. Nàng mượn giọng của chàng nói với mẹ “Ba năm mẹ già cũng đừng mong”. Thực ra nàng đang nói với chính mình. Nàng đang linh cảm về nỗi đợi chờ khắc khoải của người thân cả của chính nàng. Ẩn sau câu thơ mạnh mẽ, dứt khoát kia là nỗi nhói đau của lòng người đưa tiễn. Nàng bộc lộ kín đáo quá nên ít người để ý. Nàng tiếp tục nói với mình:

… Ta biết người buồn chiều hôm trước

… Ta biết người buồn sáng hôm nay…

“Ta biết” chứ không phải “ta thấy”. Nỗi buồn kia chàng có để lộ ra bên ngoài đâu mà có thể thấy. “Ta biết” là vì ta quá hiểu chàng, quá hiểu nội tâm của chàng. Phải là người tri âm, tri kỷ mới biết một cách sâu sắc như vậy. Biết, nên không những nàng cảm thương cho mẹ, cho các chị, cho em chàng mà còn cho chính nàng.

Khổ kết bài thơ vẫn là lời độc thoại của người đưa tiễn:

Người đi? Ừ nhỉ, người đi thực?
Mẹ thà coi như chiếc lá bay,
Chị thà coi như là hạt bụi,
Em thà coi như hơi rượu say.

“Người ấy” đã ra đi mà nàng vẫn không tin. Nhưng sự thực vẫn là sự thực! Sự thực ấy làm lòng nàng quặn thắt. Câu thơ chứa đựng nỗi niềm đầy luyến tiếc, đầy day dứt của người đưa tiễn. Nàng mượn lời chàng để thể hiện cái quyết tâm sắt đá của chàng. Nếu hiểu: xin mẹ hãy coi con như chiếc lá, xin chị hãy coi em như hạt bụi, xin em hãy coi anh như hơi rượu thì vừa không phù hợp với cấu trúc câu thơ lẫn ý đồ của tác giả. Cần phải phân biệt sự khác nhau của hai cách diễn đạt… Nếu người ra đi coi mẹ như chiếc lá, coi chị như hạt bụi, coi em như hơi rượu thì đúng là không lôgíc, không đúng với bản chất của chàng. Nhưng ở đây Thâm Tâm viết: “Mẹ thà coi”… “Chị thà coi”… “Em thà coi”… “Thà coi” có nghĩa là không muốn như vậy, nhưng buộc phải làm như vậy. “Thà chết chứ không chịu làm nô lệ!”. Chết ai có muốn, nhưng sống trong nô lệ còn đau khổ hơn nên thà chết, thà hy sinh để giành cho được độc lập tự do! Chàng đâu có muốn xa mẹ, xa các chị, xa em, xa cái người đang yêu chàng tha thiết nhưng vì tiếng gọi của lý tưởng chàng đành hy sinh tất cả. Nên nhớ rằng đây không phải là lời của người ra đi mà là độc thoại nội tâm của người đưa tiễn. Nàng ý thức được sự hy sinh cao cả của chàng nên không hề trách móc, oán giận chàng. Tất cả những trạng thái tình cảm đó nàng dồn nén vào bên trong, nàng tự biết với lòng mình.

Không tìm hiểu mối quan hệ giữa người ra đi với người đưa tiễn, không đi sâu phân tích nội tâm của người đưa tiễn thì rất khó lí giải được một số câu thơ có vẻ “bí hiểm” trong Tống biệt hành.

Mai Văn Hoan, Trường Quốc Học Huế