Thật thú vị khi ngẫu nhiên, tôi đọc lại bài “Muốn giảng “Tống biệt hành” nên đọc “Vọng nhân hành” đúng tròn một năm trên Văn Nghệ số 49 (9-12-2006), trang 2 của tác giả Nguyễn Cao Sơn. Bài báo in trọn một trang, trong đó có in lại nguyên văn bài Vọng nhân hành nhưng có nhiều lỗi không thống nhất trong bài Nguyễn Cao Sơn viết và văn bản.
Thứ nhất về bài viết của ông Nguyễn Cao Sơn:
“Mài gươm nét mác, chữ nhân già
rồi: Chim nhạn, chim hồng nét mướt bay
hay: Thằng phấn son nhơ… chửa kịp về!
Sau đó, ông lại viết: “Đủ khắp lượt, không quên ai, bỏ ai. Tối cứ tin rằng, năm 1941 ấy, đọc và thấy có mình trong đoạn thơ này không ít nhà thơ tài danh, bất đắc chí đã… khóc!?!”. Vậy năm 1941 là để chỉ bài Tống biệt hành hay Vọng nhân hành đây. Vì ông đang trích dẫn những câu thơ trong bài Vọng nhân hành (?!).
lại đến: Ôi ơi! bạn tóc ngoài trôi giạt
Thứ hai đối chiếu với văn bản (gọi tắt của bài “Vọng nhân hành”):
Mày gươm/ rét mướt/ chửa một / Ối ơi.
Rõ ràng chưa thống nhất về mặt văn bản trên tổng thể một bài báo. Từ đó, gây hoang mang cho người đọc, không biết ông Nguyễn Cao Sơn hay văn bản ai đúng ai sai. Hay tại lỗi mo-rát.
Tôi chợt nhớ câu ông bà ta dạy “Bút sa gà chết”. Ở đây là để chỉ sự cẩn thận trong khi viết và trích dẫn văn bản. Chúng tôi xin mạn phép lược trích một số văn bản cho cả bài viết của ông Nguyễn Cao Sơn và văn bản, đặng đối chiếu những chữ đúng sai (*). Và bài Vọng nhân hành nếu không đặt đúng vào ngữ ảnh, hoàn cảnh, thời gian ra đời của bài thơ… e rất khó để bình giảng.
Một: Trong bài “Thâm Tâm – Tráng ca thời đại”, nhà thơ Hoài Anh viết: “…Bạn bè của Thâm Tâm hồi ấy chỉ có một vài người, trong đó có Trần Huyền Trân được Thâm Tâm vẽ lên bằng vài nét: Mày gươm nét mác chữ nhân già, Hàm bạnh hình đồi (đôi) lưng cỗi đa, Nguyễn Bính, Nguyễn Tố, Phạm Quang Hòa (Người đã từng viết những câu thơ rất thú vị: Đào Tiềm hai bận dứt công danh. Quay về vườn cũ như ta đấy. Mộng tiếc gì không, nói thực mình? Vợ “dạ” trở mình cho bớt lạnh, suốt đời em chỉ biết theo anh). Ngoài ra, lại có một anh người ở Lương Yên gần Lò Lợn, không làm văn thơ nhưng tính rất hào hiệp, đã được Thâm Tâm tả trong bài Can trường hành:
Hay đâu kẻ vũ đất Lương Yên
Một sớm nghe hùng câu giớ lên
Xách gói sang Nam không hẹn lại
Chỉ hiềm chẳng đụng đến cung tên
Cũng như anh này, Nguyễn Bính sau đó vào Nam; Phạm Quang Hòa ra đi làm cách mạng; Trần Huyền Trân tham gia văn hóa cứu quốc, khi Cách mạng tháng Tám nổ ra, tất cả mọi người đều đứng chung trong hàng ngũ chiến đấu của toàn dân. Thâm Tâm vui mừng thốt lên:
Có đi ra biển xem triều nước
Mới biết muôn sông đổ một dòng
Đó là lời tâm sự ông chép vào sổ tay của một đại biểu tham dự Đại hội Văn hóa toàn quốc ờ Hà Nội đầu năm 1946, cũng là tiếng reo vui khi hòa nhập vào dòng Cách mạng (1).
Và Hoài Anh đã trích bốn câu cuối trong bài Vọng nhân hành
“… Tôi mượn thơ Thâm Tâm viết trước đây để khóc ông:
Ngoài phố mưa bay: (,) xuân bốc rượu
Tấc lòng mong mỏi cháy tê tê( .)
– Ới (Ôi, Ối) ơi(!) bạn tác(tóc) ngoài trôi giạt
Chẳng đọc thơ ta ( , ) tất cũng về” (2).
Hai: văn bản trên website http://vi.wikipedia.org (Bách khoa toàn thư mở) có trích lại tại địa chỉ: http://annonymous.online.fr/Thivien/viewpoem.php?ID=11807 với nguyên bản “Vọng nhân hành” cũng có vài chữ khác:
Hội nhau vầy (vẫy) một tiệc quần anh
Rằng: “Đương gió bụi mờ (thì) tơi tả
Thơ ngâm giở (dở) giọng, thời chua (3) (chưa) thuận
Ới (Ối) ơi bạn tác (tóc) ngoài trôi giạt (dạt).
Ba: Nguyễn Cao Sơn viết: “Để hiểu trúng và giảng đúng Tống biệt hành, ở bài này tôi lưu ý các bạn cần đọc thêm bài Vọng nhân hành viết sau đó 3 năm của Tâm Tâm (sai lỗi mo-rát: Thâm Tâm, chúng tôi nhấn mạnh – NT), năm 1944.
Tống biệt hành được in năm 1941, như vậy Vọng nhân hành chỉ ra đời sau 3 năm”.
Thế nhưng trong văn bản của nhà giáo Trần Hà Nam (Giáo viên trường THPT chuyên Lê Quý Đôn, Qui Nhơn, Bình Định) lại viết: “…Hiểu Thâm Tâm còn nhiều hướng tiếp cận khác. Nhưng tôi cứ ám ảnh 2 câu thơ trong Vọng nhân hành viết 4 năm sau (chúng tôi nhấn mạnh – NT) bài thơ Tống biệt hành, như một nối tiếp tâm trạng và chính là cách cắt nghĩa đầy đủ hơn hình tượng “ly khách” trong bài thơ:
Sông Hồng chẳng phải xưa sông Dịch
Ta ghét hoài câu “nhất khứ hề…”
(Vọng nhân hành – Thâm Tâm)
Và dưới bài viết ghi chú thời gian sáng tác Tống biệt hành là năm 1940.
Sau đó, trong bài “Con người lãng mạn trong TỐNG BIỆT HÀNH” (4), Trần Hà Nam nhắc lại hai câu:
“Bốn năm sau (chúng tôi nhấn mạnh – NT) khi viết Tống biệt hành, Thâm Tâm đã viết Vọng nhân hành (1944) có những câu:
Sông Hồng chẳng phải xưa sông Dịch / Ta ghét hoài câu “nhất khứ hề…”.
Như vậy, ông Nguyễn Cao Sơn và nhà giáo Trần Hà Nam đã đưa ra thời gian sáng tác Tống biệt hành lại không thống nhất.
Được biết, sinh thời Thâm Tâm chưa in thơ thành tập. Theo Wikipedia (Bách khoa toàn thư mở) có đoạn: “Sáng tác thơ của ông được xuất bản năm 1988 trong sưu tập Thơ Thâm Tâm”. Thế nhưng ở phần Tác phẩm chính lại ghi cụ thể:
Thơ: Tống biệt hành (Thi nhân Việt Nam, 1942); Ngẫm nghĩ cố sự (**); Chào Hương Sơn; Ly biệt Vạn lý Trường thành (thơ in trên các báo trước 1945); Chiều mưa đường số 5 (1948); Thơ Thâm Tâm (1988) (***)
Kịch: Sương tháng Tám (kịch một hồi, Tiểu thuyết thứ bảy, 1939); Nga Thiên Hương; 19-8; Lối sống (1945); Lá cờ máu; Người thợ (1946).
Ở gần cuối bài viết, ông Nguyễn Cao Sơn viết: “… Hiểu thơ và giảng đúng huyền cơ tác giả, tưởng rằng đó là đã thắp một nén nhang thơm cho cố thi sĩ tài hoa Thâm Tâm vậy”.
Ông đã thành ý như thế nhưng không hiểu trong bài khi trích dẫn lại rối tung (sai với văn bản, nhiều lỗi mo-rát). Nếu cơ hồ như cách nói của ông: “Tôi không có ý định bình giảng bài Vọng nhân hành mà chỉ muốn gợi sự suy luận”, thì hà cớ gì ông lại đặt tiêu đề “Muốn giảng “Tống biệt hành” nên đọc “Vọng nhân hành” để hậu thế cứ suy diễn lung tung, rối bời cả lên, làm tội cho hàng vạn học sinh…
Chúng tôi rất mong muốn những nhà nghiên cứu, nhà văn, nhà giáo bổ sung về thời gian ra đời của Tống biệt hành là năm 1940 hay 1941. Vì đây là bài thơ duy nhất và hay nhất của Thâm Tâm được giảng dạy ở bậc trung học phổ thông (Văn học 11, Tập một, NXB Giáo dục, tái bản 2005, tr.147).
Để người đọc rõ hơn, chúng tôi xin trích nguyên văn bài Vọng nhân hành (****):
Thăng Long đất lớn chí tung hoành
Bàng bạc gương hồ ánh mắt xanh
Một lứa chung tình từ tứ chiếng
Hội nhau vầy một tiệc quần anh
Mày gươm nét mác chữ nhân già
Hàm bạnh hình đồi, lưng cỗi đa
Tay yếu đang cùng tay mạnh dắt
Chưa ngất men trời hả rượu cha
Rau đất cá sông gào chẳng đủ
Nổi bùng giữa tiệc trận phong ba
Rằng: “Đương gió bụi mờ tơi tả
Thiên hạ phải dùng thơ chúng ta!”
Thơ ngâm giở giọng, thời chua (4) thuận
Tan tiệc quần anh, người nuốt giận
Chim nhạn, chim hồng rét mướt bay
Vuốt cọp, chân voi còn lận đận
Thằng thí cho nhàm sức võ sinh
Thằng bó văn chương đôi gối hận
Thằng thư trói buộc, thằng giã quê
Thằng phấn son nhơ… chửa một về!
Sông Hồng chẳng phải xưa sông Dịch
Ta ghét hoài câu “nhất khứ hề”
Ngoài phố mưa bay: xuân bốc rượu
Tấc lòng mong mỏi cháy tê tê
– Ới ơi bạn tác ngoài trôi giạt
Chẳng đọc thơ ta tất cũng về.
(1944)
(*) Thống nhất chữ in nghiêng và đậm trước là của tác giả, sau bỏ trong ngoặc là trong văn bản bài báo trên Văn Nghệ.
(1), (2) Hoài Anh, Chân dung văn học, NXB Hội Nhà văn, 2001, trang 1185-1187.
(3), Có lẽ sai chính tả, chính xác hơn là chưa.
(4) http://www.ngoisaoblog.com/m.php?u=tranhanam&p=16547 của Trần Hà Nam ?
(**) Nhà văn Việt Nam hiện đại, NXB Hội Nhà văn, 1997, trang 15 lại ghi Ngậm ngùi cố sự. Không biết ai đúng ai sai ?
(***) Được trích thống nhất trong Nhà văn Việt Nam hiện đại (sđd) như trên. Nhưng trang website Wikipedi lại có thêm phần tác phẩm Kịch.
Sông Hồng chẳng phải xưa sông Dịch
Ta ghét hoài câu “nhất khứ hề”
Ngoài phố mưa bay: xuân bốc rượu
Tấc lòng mong mỏi cháy tê tê
Đất trời rộng quá. Tôi không chịu
Cắm chặt sông đây một cánh bè,
Bằng cơn phẫn chí:
Đau tình không xót bằng đau nghĩa
Tay gầy cũng ném chén vô tri.
Cuối thu mưa nát lòng dâu bể
Ngày muộn chuông đau chuyện đá vàng.
Hôm qua không có, hôm nay mất
Ai rú trong trời tám hướng sương
Múa lưỡi đánh tan ba kẻ sỹ
Mềm môi nốc cạn một vò men
Bi phẫn nhiều khách thể xót đau:
Chim nhạn chim hồng rét mướt bay
Vuốt cọp chân voi còn lận đận
Thằng thí cho nhàm sức võ sinh
Thằng bó văn chương đôi gối hận
Thằng thư trói buộc, thằng giã quê
Thằng phấn son nhơ… chửa một về.
Người đi, ừ nhỉ người đi thực
Mẹ thà coi như chiếc lá bay
Chị thà coi như là hạt bụi
Em thà coi như hơi rượu say.
Ngậm lời tráng khí, chim bằng ốm
Chuyện lúc thương tâm, gái điếm già
Gió thốc hàng hiên, lười viễn mộng
Mưa rào mặt cát, gợi ly ca
Phiếm du mấy chốc đời như mộng
Ném chén cười cho đã mắt ta
Say ngùi ta đốt tương tư thảo
Bóng khói qua mây lại nhớ mình
Nguồn từ: http://vanmau.com/forum/showthread.php/18068-Tìm-hiểu-tác-giả-Thâm-Tâm#ixzz1Mr3s9OmM
Đưa người ta không đưa qua sông
Sao có tiếng sóng ở trong lòng
Bóng chiều không thắm không vàng vọt
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?
Như mọi người đều biết, Thâm Tâm tên khai sinh là Nguyễn Tuấn Trình sinh ngày 12 tháng 5 năm 1917 trong một gia đình trung lưu (cụ thân sinh làm nghề dạy học, thân mẫu làm nghề đóng sổ sách và bán bánh kẹo) tại thị xã Hải Dương. Thuở nhỏ, ông học ở quê sau theo gia đình lên Hà Nội vừa học vừa làm nghề vẽ tranh, viết báo.
Quân đội Nhân dân – Thứ Năm, 24/03/2011
Đưa người ta không đưa qua sông
Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
Bóng chiều không úa không vàng vọt
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?
Đưa người ,ta chỉ đưa người ấy
Một giã gia đình một dửng dưng…
Ly khách !Ly khách !con đường nhỏ
Chí lớn chưa về bàn tay không
Thì không bao giờ nói trở lại!
Ba năm, mẹ già cũng đừng mong.
Ta biết người buồn chiều hôm trước
Bây giờ mùa hạ sen nở nốt,
Một chị,hai chị,cũng như sen
Khuyên nốt em trai dòng lệ sót
Ta biết người buồn sáng hôm nay
Giời chưa vào thu , tươi lắm thay,
Em nhỏ ngây thơ, đôi mắt biếc
Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay…
Người đi, ừ nhỉ người đi thực!
Mẹ thà coi như chiếc lá bay,
Chị thà coi như là hạt bụi,
Em thà coi như hơi rượu say.
Chính vì điều ấy tác giả cho kẻ tiễn tặng người đi một chữ ‘’thà’’dành cho ba con người thương yêu nhất, xem nó là cột mốc phân lằn ranh giữa tình nhà và chí lớn. Nếu so sánh chữ thà trong Tống Biệt Hành và chữ thì trong bài thơ Thưa Mẹ Con Đi của Nguyễn Khoa Điềm thì có hơi khập khiễng song sự mâu thuẫn đầy kịch tính thì không khác nhau một chút nào bởi vì hai tiếng ấy vừa giữ nhiệm vụ chặt đứt sợi dây tơ tình vừa thể hiện sự níu giữ điều ít tìm thấy trong thơ xưa nói về nỗi niềm ly biệt. Từ thà nghe có vẻ quyết liệt dứt khoát hơn nhưng nếu ta lắng lòng mình lại sẽ thấy từ thà giống như một con người có vẻ ngoài xơ cứng, liều lĩnh nhưng lại chứa đựng bên trong một trái tim nồng cháy yêu thương đợi chờ. Đeo đôi kính thấu cảm lên ta sẽ điểm trúng ngay huyệt đạo của ly khách mà có thể con người của cuộc đời thường nhiều khi không bao giờ tìm thấy sự yếu đuối trong thái độ làm ra vẻ bất cần ấy.
Ly khách là ai? Là ai cũng được miễn người ấy ra đi vì chí lớn. Ma lực của bài thơ cuốn hút con người chẳng những toát ra từ nội dung ý tưởng,mà còn ở âm điệu trầm hùng mà bi tráng. Các phù bình thanh,trầm bình thanh đan xen vào nhau lại có sự điểm xuyết của một vài thanh trắc đan cài luyến láy tạo nên một giá trị thẩm mỹ đích thực, một sự thôi thúc thông qua giọng điệu trữ tình riêng biệt mang phong cách cá nhân của nhà thơ thể hiện sự phức điệu trong chiều sâu trong tâm tưởng con người.
Chính vì thế có thể nói Tống Biệt Hành là một bài cổ thi hiện đại không bao giờ cũ.
(Bài đạt giải I cuộc thi bình thơ của Báo Giáo Dục và Thời Đại Tháng 6 năm 2001)
Nguyễn Hàn Chung
Màu hoa Ty-gôn đà biến sắcTim người yêu cũ phủ màu tang
Đưa người, ta không đưa sang sôngSao có tiếng sóng ở trong lòng….Đưa người ta chỉ đưa người ấyMột giã gia đình một dửng dưng
Chí lớn chưa về bàn tay không
Người đi! ừ nhỉ người đi thậtMẹ già coi như chiếc lá bay…
Chiều mưa đường số 5Chiều mưa đồng rạ trắngĐất tề sông quạnh vắngNgồi kín dưới nhà tranhNghe gió lùa ắng lặng(Chiều mưa đường số năm)
Vương Trí Nhàn
















