Ly khách chưa về – Nguyễn Vũ Tiềm

Hoàng hôn màu tiễn đưa
thấy sóng, không thấy nước
đường nhỏ, chí lớn chờ
gập ghềnh một ly khách…

Bước chân vô định hay về đâu?
Bảo mẹ đừng mong làm sao được
ly khách ven trời còn muốn khóc
tiếng đời xô động dễ câm sao!

Gặp anh chiều mưa đường số 5
cùng đoàn du kích, rét căm căm
thoắt đã hoàng hôn xây mộ chí
bia tạc vào mây: Tống biệt hành.

Những phút cuối cùng của Thâm Tâm – Trúc Kỳ

Thu Đông 1950, sau mấy tháng đi theo Trung đoàn 209, tôi đang náo nức chuẩn bị cùng bộ đội hành quân tham gia chiến dịch Biên giới thì nhận được điện ở nhà gọi về gấp nhận nhiệm vụ mới. Lần theo địa chỉ ghi trong bức điện, tôi đi một mạch mấy ngày liền không nghỉ để nhanh chóng về tới nơi xem có việc gì khẩn cấp đến thế. Chỗ ở mới của cơ quan tôi là một bản nhỏ của đồng bào Nùng ở chân đèo Mã Phục, gần thị trấn An Lại, cách thị xã Cao Bằng khoảng mười tám kilômét về phía Bắc.
Anh Trương Công Cẩn lúc đó là Trưởng ban tuyên truyền Mặt trận biên giới đang ở nhà làm thường trực cơ quan. Thấy tôi về anh mừng rỡ:- Cậu đã về đấy ư, tốt quá!
Sau khi hỏi thăm tôi về tình hình học tập, công tác, sức khỏe, đi đường…. anh nói ngay: – Thâm Tâm ở ngoài kia đang bị ốm. Nhà chẳng còn ai, đi các mặt trận hết cả. Phải điện gấp cho cậu về ra thay cậu ấy.
Chiến dịch sắp bắt đầu rồi. Tôi ngủ lại một đêm nơi anh Cẩn để lấy sức. Sớm hôm sau tôi lên đường từ lúc còn tinh mơ. Anh Cẩn đưa cho tôi địa chỉ của Thâm Tâm và căn dặn:- Nếu Thâm Tâm nặng quá thì cậu cho cáng ngay về đây. Ngoài đó khi ta nổ súng địch tất sẽ ném bom dữ dội, cậu ấy sẽ khó được an toàn, mà cậu cũng sẽ không thể yên tâm làm việc được.
Tôi chào anh, ra khỏi bàn, lượn quanh mấy sườn đồi rồi cứ theo đường cái lớn mà đi. Tới chỗ Thâm Tâm còn phải đi trên ba mươi km nữa. Chiến dịch đang được chuẩn bị rất khẩn trương. Bộ đội và dân công ngược xuôi hối hả. Lừa ngựa, rồi xe vận tải, xe kéo pháo… ùn ùn chảy như một dòng suối. Chưa bao giờ đường ra mặt trận lại nhộn nhịp như lần này. Đường dài đối với tôi như được rút ngắn lại, đôi chân như càng đi càng dẻo thêm ra.
Khoảng bốn giờ chiều tôi tới nơi Thâm Tâm ở. Đó là bản Piềng, một bản ở sát núi đá, trên con đường từ Phục Hòa đi Thủy Khẩu. Thâm Tâm được điều ra đây để làm tờ báo của Mặt trận Cao Lạng. Tòa soạn mới có anh và một chú liên lạc. Theo kế hoạch thì hai anh em sẽ cùng ăn ở với bộ phận ấn loát có mười hai người được tách từ nhà in quân đội lên đây phục vụ chiến dịch. Bộ phận này có nhiệm vụ in tờ báo và tất cả các tài liệu tuyên truyền của mặt trận. Do phải mang nặng máy móc và các phương tiện ấn loát cồng kềnh, đường lại quá xa, nhiều đoạn lầy lội và đèo dốc khó đi nên anh em không đến kịp hẹn. Khi Thâm Tâm và chú liên lạc tới địa điểm thì mới có một tổ tiền trạm hai người của nhà in đang làm nhiệm vụ liên hệ với địa phương để sắp xếp trước chỗ ăn chỗ ở và nơi làm việc cho anh em. Thâm Tâm và chú liên lạc được tổ phân về một nhà trong bản. Nhưng khi tôi tìm vào nhà đó thì không thấy hai người ở đâu. Hỏi ra mới được biết hai anh em mới chuyển ra một cái lán nhỏ gần bìa rừng sau bản.
Tôi lần theo một đường mòn tới một cái lán thóc ở cách nhà dân chừng hai trăm mét. Lán được làm theo kiểu nhà sàn nhưng nhỏ hơn và rất vuông vắn. Sàn lán là một tấm phên vuông đan bằng nứa đập dập, trông như một chiếc chiếu cực dày, mỗi bề chừng ba mét. Bốn bề lán không có phên thưng, trống huếch trống hoác, lộng gió như ở ngoài đồng. Giữa sàn có một chiếc màn cá nhân còn buông thõng, bên trong có một người đang nằm, chăn trùm kín mít. Tôi đang ngó tìm chú liên lạc và tự hỏi sao Thâm Tâm lại chuyển ra một chỗ heo hút và trống trải như thế này thì chú liên lạc từ đâu đã chạy về, mang theo một cà mèn cháo. Chú reo to:
– Trời ơi, anh đến lúc nào thế? Em phải vào bản nấu cháo, ở ngoài này không có nồi cũng không có bếp.
Chừng như đoán được thắc mắc của tôi, chú tiếp ngay:
– Anh Thâm Tâm bị nặng quá, sốt li bì mấy hôm rồi. Dân sợ anh ấy chết, cái ma nó về bắt mất người trong bản nên không cho anh ấy ở trong nhà nữa. Em phải đưa tạm anh ấy ra ngoài này, không còn biết làm thế nào. Anh xem có cách nào hơn không, em cũng thấy không thể để thế này được.
Tiếng nói của chú liên lạc làm cho Thâm Tâm chợt tỉnh. Anh cố vén màn thò cổ ra ngoài và nhìn thấy tôi. Anh nói:
– Trúc Kỳ đã về đấy ư? Mình mong cậu nhiều lắm!
Chợt thấy mặt anh và nghe anh nói thều thào, tôi giật mình sững sờ cả người. Chao ôi, người hỏi tôi đấy là Thâm Tâm thật ư? Sao anh có thể biến đổi mau chóng đến thế được? Tôi còn nhớ rõ, mới hôm đầu năm, sau buổi liên hoan tiễn anh em tòa soạn đi công tác, anh nói riêng với tôi:
– Bọn mình đã thu xếp để cậu có thể đi dài ngày chuyến này được. Cậu sẽ đi theo trung đoàn anh Lê Trọng Tấn và anh Trần Độ, rồi về tham gia chiến dịch. Cậu cố gắng viết đều và viết nhiều gửi về nhé.
Giọng anh hồ hởi, mặt mày anh rạng rỡ. Mấy “chén quan hà”, như anh thường hay nói đùa với tôi, làm cho đôi má anh thêm hồng hào, người anh thêm trẻ ra.
Thế mà giờ đây, trước mặt tôi là một Thâm Tâm hoàn toàn khác. Đôi má hõm sâu làm cho khuôn mặt anh vốn đã gầy càng thêm gầy guộc. Da mặt anh vàng khè, đôi mắt anh càng vàng hơn dưới đôi quầng thâm xịt. Tiếng nói như của một người bị đứt hơi. Tôi quẳng vội ba lô xuống sàn nứa, ôm chầm lấy anh. Qua lần chăn mỏng, tôi thấy người anh chỉ những xương là xương. Và nóng, trời ơi, nóng như lửa đốt. Anh lắp bắp nói:
– Mình bại mất cậu ạ!
Tôi ghì chặt lấy anh, hối hả nói như muốn dập tắt ngay cái lời nói gở đó của anh:
– Không, cậu không thể bại được, thế nào cậu cũng khỏi!
Tôi nói át đi như vậy, cốt mong để anh đừng tuyệt vọng. Nhưng cứ nhìn đôi mắt anh như đã lạc đi, nghe giọng nói của anh bắt đầu ngọng, chính tôi cũng thấy lo lắng vô cùng.Trong tình hình này, tôi thấy không thể nào để anh ở lại đây được, mà phải đưa ngay anh về chỗ anh Cẩn, nơi đó có nhiều điều kiện và phương tiện chữa chạy cho anh hơn.Tôi buông anh ra, bảo chú liên lạc thu xếp đồ đạc cho anh, và chạy vội đi tìm tổ tiền trạm đề nghị liên hệ với địa phương xin hai dân quân tới cáng Thâm Tâm về An Lại.
Chỉ nửa tiếng sau, hai thanh niên trong bản mang cáng tới. Tôi trải chăn chiếu lên cáng rồi bế Thâm Tâm đặt vào. Lòng tôi bỗng thắt lại: Thâm Tâm của tôi nhẹ bỗng như một dúm bông, đôi mắt lờ đờ nửa tỉnh nửa mê. Tôi đắp lên mình anh một chiếc chăn dày, trùm kín chỉ để hở một chút đủ để anh thở. Màn anh được vắt lên đòn khiêng, hai bên buông xuống phủ kín cả cáng. Trên cùng là một miếng vải láng nhựa cao su để cho sương đêm không lọt được vào màn.
Chúng tôi rời bản Piềng lúc mặt trời đã khuất sau những dãy núi cao. Ai cũng rảo bước như muốn cướp thời gian. Hai dân quân muốn chóng xong việc, được trở về nhanh để kịp gặt, tôi muốn Thâm Tâm được cáng thật nhanh về nơi chữa chạy. Qua quãng đường quanh co lên dốc xuống dốc đi ra khỏi bản, chúng tôi tới đường cái đá phẳng phiu rộng rãi. Đường ra mặt trận vẫn nhộn nhịp. Nhưng tôi không còn bụng dạ nào để ý tới mọi vật chuyển động chung quanh mà chỉ chú trọng tới người trong cáng, người anh em cùng một chiến hào đang thập tử nhất sinh.

** *

Tính đến Thu Đông 1950, tôi mới sống với Thâm Tâm chưa đầy bốn năm. Thời gian không dài nhưng đã để lại trong tôi nhiều kỷ niệm không thể nào quên về anh. Đó là những năm đời lính xa nhà, cùng ăn ở và làm việc với nhau, vui buồn có nhau, lại trải qua những ngày kháng chiến đầy gian khổ trên núi rừng Việt Bắc.Tôi về công tác với anh ở báo Vệ quốc quân khi tòa soạn vừa mới chuyển về bản Púc thuộc huyện Định Hóa (Thái Nguyên) và đang chuẩn bị ra số 4. Không kể anh Trần Độ là Chủ nhiệm, tòa soạn lúc đó mới có sáu người, đều ở và làm việc nhờ nhà dân. Hai họa sĩ – anh Mai Văn Hiến và anh Dương Bích Liên – ở một nhà. Bốn anh em làm công tác biên tập ở một nhà rộng hơn, gồm có các anh Nguyễn Công Hoan, Thâm Tâm, Thôi Hữu và tôi. Trong bốn anh em, tôi là “út” về tuổi đời và càng là “út” về tuổi nghề. Trước ngày toàn quốc kháng chiến, ba anh đã là những nhà văn, nhà thơ được nhiều người biết đến, còn tôi vẫn là một cậu học trò.Người trực tiếp hướng dẫn tôi và giao việc cho tôi là Thâm Tâm.Nhắc đến anh, tôi không thể nào quên được hình ảnh một người nhỏ bé, mặc một bộ đồ đen ngồi thu lu, đầu cúi xuống, trước một cái bàn tự tạo bằng một tấm ván treo thấp, đang chăm chú đọc một quyển sách hoặc viết một bài gì bằng một cái bút máy rất đặc biệt, nó béo trục béo tròn và ngắn ngủn không nhô được khỏi nắm tay anh. Trừ những ngày nghỉ hoặc đi công tác, bao giờ anh cũng ngày hai buổi ngồi làm việc nghiêm túc ở đó, ít nói ít cười.

** *

Tôi đang say sưa trở lại với những ngày đã qua, bỗng có tiếng làm tôi sực tỉnh:
– Nghỉ tí đã, đồng chí à.
Tôi nhìn ra: trước mặt tôi là một dãy phố dài, đèn thắp sáng cả một vùng. Bóng người đông đúc qua lại, tiếng nói lao xao. Hồi đó máy bay địch chỉ hoạt động ban ngày, chưa dám đánh đêm, nhất là ở các thung lũng có núi đá cao chung quanh như ở đây. Cho nên phố phường đường sá ban đêm thuộc về ta. Tôi nhận ra đây là Quảng Uyên. Thế là chúng tôi đã đi được quá nửa đường. Hai dân quân tiến nhanh vào phố, đặt cáng trước một quán nước rồi ngồi hút thuốc lào. Tôi cũng thấm mệt, đặt ba lô xuống đất, sát vào cáng và đưa tay vào màn, sờ lên trán . Tôi mừng quá: Anh đã mát nhiều, tiếng thở nghe đều đều. Tôi hỏi:
– Anh thấy đỡ nhiều không?
Anh không trả lời vào câu hỏi của tôi, mà nói:
– Có cà phê phải không cậu? Cho mình một tách.
Đúng là có cà phê thật. Mùi cà phê từ một quán giải khát ở đầu phố tỏa rộng ra không gian bao quanh, thơm ngậy và đầy quyến rũ. Sao ở một thị trấn nhỏ heo hút vùng biên giới lại có thứ hàng cao cấp này? Tôi hiểu ra ngay: Quảng Uyên nằm giữa cánh đồng Ba Châu, có đường đi Trùng Khánh rồi sang Trung Quốc, có đường về An Lại và vào thị xã Cao Bằng lại có đường đi Phục Hòa rồi sang Thủy Khẩu, người xuôi ngược buôn bán đông vui….
Trong mấy năm ở với Thâm Tâm tôi thấy anh không phải là người nghiện rượu, thuốc lá hay cà phê, nhưng cũng biết anh rất sành thưởng thức các thứ đó. Rượu anh uống phải là thứ rượu cất bằng gạo nếp, vừa êm vừa ngọt giọng. Thuốc lá anh ưa hút tẩu hơn hút điếu. Mùi cà phê dậy lên từ một quán nhỏ bên đường đêm nay có lẽ đã làm sống lại trong anh chút thèm muốn hưởng thụ nhỏ nhoi mà anh đã cố quên đi trong mấy năm qua. Dưới ánh đèn của quán nước, tôi thấy hai cánh mũi anh cố hít hít phập phồng. Tôi chạy vội tới quán giải khát mua cà phê, chọn thứ thật ngon, tự tay pha lấy rồi đưa về cho anh. Tôi lấy balô kề sát vào lưng anh, để anh ngồi hơi ngả về phía sau, đưa anh tách cà phê còn bốc khói và thơm lừng. Có thấy được hai tay anh run run cầm tách, đôi môi mấp máy, đầu lưỡi đưa ra đón từng giọt cà phê và giữ lại trong mồm không nuốt vội, mới thấy niềm say sưa thưởng thức của anh. Tôi cứ ngồi đỡ lấy anh, nhìn anh nhấm nháp ngon lành cho tới khi hết tách cà phê. Tôi lấy ra châm một điếu thuốc và tẩm một ít cà phê còn sót lại trong tách, theo như anh vẫn thích làm, rồi đặt vào môi anh. Buông màn xuống cho anh xong, tôi mời hai đồng chí dân quân đi ăn phở, vì chúng tôi đều đã đói ngấu. Phở ở đây không giống phở dưới xuôi, mà làm bằng bánh đa phơi khô thái thành sợi to, gọi là bánh cao, đem chần, thêm thịt xà xíu, gan, dạ dày lợn và khoai môn thái chỉ rán giòn, trộn với nước mắm, dấm chua, dưa chuột thái vát và lạc rang để cả vỏ lụa giã dập đôi dập ba. Thứ phở này được gọi ở đây là lòng-pàn, ăn lạ miệng cũng ngon. Ăn phở xong, tôi mua về cho Thâm Tâm một bát cháo gà. Anh chỉ húp được ba bốn thìa rồi đòi nằm. Tôi đỡ anh xuống, đắp lại chăn, giắt lại màn cho anh.
Chúng tôi lại lên đường. Đã quá nửa đêm, thưa thớt người qua lại. Trời thu đầy sao. Gió thổi nhẹ. Lúa chín tỏa hương ngào ngạt. Tôi rảo bước, lòng tràn ngập một niềm vui. Thâm Tâm đã đỡ sốt, tỉnh hơn, đòi uống cà phê. Về An Lại được điều trị tốt hơn, chắc chắn anh sẽ mau khỏi. Rất có thể anh sẽ trở lại làm việc bình thường, tôi có thể lại được đi… Những ý nghĩ ấy thôi thúc tôi đi nhanh, mau chóng rút ngắn quãng đường còn lại. Hai đồng chí dân quân cũng không nói gì, lặng lẽ bước. Chẳng bao lâu trên đường dần dần có người qua lại, mỗi lúc một đông, tiếng cười nói râm ran, gọi nhau ý ới. Tiếng vó ngựa thồ hàng nặng nhọc nện trên đường đá. Từ những bản làng hai bên đường, tiếng gà gáy rộ lên, tiếp nối nhau vang mãi xa xa. Rồi thấp thoáng có ánh đèn trước mặt.
– An Lại kia rồi!
Tôi bảo hai đồng chí dân quân hãy dừng lại, rồi quay người, định hướng và tìm lối. Đây rồi, con đường đất đỏ lượn giữa hai thửa ruộng lúa chín đã đổ nghiêng tôi vừa đi sớm qua. Từ đây vào bản chỉ còn chừng ba kilômét nữa. Đường tương đối dễ đi. Tôi quay lại bảo hai đồng chí dân quân tiếp tục cáng theo tôi rồi rảo bước định chạy về cơ quan báo tin trước cho anh Cẩn.
Nhưng hai đồng chí gọi giật tôi lại một cách hoảng hốt. Tôi rụng rời chân tay, sao lại có thể thế được? Tôi không tin lời nói đó là thật, luồn tay qua chăn, sờ vào người Thâm Tâm. Trời ơi toàn thân anh đã lạnh toát, tim anh đã ngừng đập từ bao giờ. Anh đã đi thật rồi.
Lúc đến Quảng Uyên, thấy anh đã tỉnh, tôi những tưởng anh dần dần sẽ qua khỏi, có ai ngờ đâu đó chỉ là cái chớp lóe lên của một ngọn đèn sắp tắt.Tôi còn trong cơn bàng hoàng thì nghe tiếng hỏi:
– Có đi nữa không, hay để lại ở đây?
Tôi giật mình lo lắng: đưa người chết vào bản có được hay không? Phong tục đồng bào trên này rất khắt khe. Thâm Tâm còn đang ốm đã phải rời khỏi nhà ra ở ngoài bìa rừng. Bây giờ anh đã chết rồi, ai còn cho cáng vào nhà? Nhưng có thể nào lại để anh ở giữa đường cái thế này? Suy nghĩ mãi, tôi thấy đường từ đây về cơ quan cũng còn mấy kilômét nữa, cứ để hai đồng chí cáng tiếp, về gần tới nơi rồi sẽ liệu sau.Tôi vuốt mắt cho Thâm Tâm rồi tiếp tục cho cáng anh về. Khi gần tới nơi, tôi bảo dừng cáng bên vệ đường rồi chạy nhanh về báo cáo anh Cẩn đánh thức một số anh em chủ chốt còn lại ở cơ quan, rồi hội ý chớp nhoáng. Tôi nhớ lúc đó có anh Nguyễn Công Hoan và anh Võ Bá Tải, phụ trách hành chính quản trị. Anh Tải kiêm việc liên hệ với địa phương, cho biết chủ nhà là bí thư chi bộ xã và là một người rất tiến bộ. Mọi người nhất trí giao cho anh Tải đi gặp ngay đồng chí bí thư để thăm dò ý kiến. Đồng chí bí thư đã dậy rất sớm và đang hái rau ngoài vườn trước nhà. Không biết hai người trao đổi với nhau như thế nào, nhưng chỉ mấy phút sau, anh Tải đã chạy về tươi tỉnh nói:
– Đồng chí bí thư đúng là người hiếm thấy. Đồng chí ấy bảo cứ đưa anh Thâm Tâm về nhà, đặt nằm trên sàn và buông màn xuống, coi như anh đang ngủ. Đến sáng rõ mới loan tin chết.
Chúng tôi mừng thầm chạy vội ra đường để đưa Thâm Tâm về, đặt anh lên sàn và buông màn xuống. Mọi người tiếp tục công việc của mình như không có sự gì xảy ra. Người gấp chăn màn, người đi rửa mặt, đánh răng… Tôi cảm ơn hai đồng chí dân quân bản Piềng và tiễn hai đồng chí ra về.Người chủ nhà đã vượt ra ngoài những phong tục tập quán của bản làng, cho đưa người chết vào nhà mình, lại tháo cánh cửa của nhà mình và tự tay đóng quan tài cho một người anh không hề có họ hàng, cũng không hề có quen biết bao giờ. Chúng tôi khóc Thâm Tâm, lại khóc vì cảm động trước việc làm đầy tình đồng chí của anh mà cho tới bây giờ chúng tôi cũng không thể nào quên được, mặc dù từ bấy đến nay, bốn mươi hai năm đã trôi qua!
Chúng tôi mặc quần áo cho Thâm Tâm, nhìn mặt anh lần cuối cùng, bó chặt anh vào một tấm chăn mới, đặt vào quan tài rồi đậy nắp ván lên.
Lúc đó có hai người trong bản bước lên thang. Đây là hai thanh niên đã được đồng chí bí thư ngay sau khi hay tin Thâm Tâm chết, tới nhờ đi đào huyệt giúp. Nay huyệt đã đào xong, hai anh lại đến giúp đưa người chết ra đồng.
Chúng tôi xúm vào mỗi người một tay, khiêng Thâm Tâm xuống thang và đưa anh ra một bìa rừng cách bản chừng mấy trăm mét. Quãng đường không xa bao nhiêu, nhưng sao chúng tôi thấy nó dài vô tận. Người Thâm Tâm nhẹ bỗng, nhưng chân chúng tôi sao nặng trĩu, lê không nổi bước. Thương xót anh phải ra đi giữa lúc tuổi đời còn đang thanh xuân sung sức, lòng còn tràn đầy khát vọng về sáng tác, về một xã hội tốt đẹp trong tương lai. Thương xót anh phải ra đi lúc ở xa gia đình vợ con, xa hầu hết bạn bè thân thiết, ra đi lúc nào, không ai hay biết, không một lời trối trăng…
Có ai ngờ rằng chỉ mới hơn một tuần lễ thôi, cũng tại bản làng nơi đây, anh đã tay bắt mặt mừng gặp lại biết bao đồng nghiệp cùng anh hội họp đông đủ trước khi chia nhau đi xuống các đơn vị chiến đấu trên khắp chiến trường biên giới. Toàn anh em nhà báo nhà văn như Vũ Cao, Nam Cao, Nguyễn Huy Tưởng… người nào cũng hồ hởi và đầy tin tưởng, hứa với nhau và hứa với lòng mình cố gắng có những bài viết xứng tầm chiến dịch này. Anh em cũng nhớ mãi nét mặt tươi vui của anh. Anh dự định chuyến này sẽ viết, vì anh tin tưởng trận này ta nhất định thắng.
Ta đã thắng thật, thắng lớn chưa từng có kể từ ngày kháng chiến đến bây giờ. Nhưng anh đã phải nằm lại ở chân đèo Mã Phục này không kịp nhìn thấy ngày chiến thắng, không kịp gặp lại các bạn đồng nghiệp.
Đưa tang anh hôm ấy, chỉ có mấy đồng đội của anh và mấy đồng chí địa phương. Một đám tang không xe đòn, không hương nến, không một vành khăn trắng, cũng không cả một vòng hoa nhỏ.
Anh Cẩn đọc mấy lời điếu, tiếng nói chìm trong tiếng nấc. Anh em lau nước mắt, khóc không thành lời. Lặng lẽ mỗi người ném một hòn đất xuống mồ vĩnh biệt anh. Tiếng đất nện bùng bục trên nắp ván thiên, như tiếng nức nở, vang dội mãi vào lòng tôi.
9-1992
Nguồn: Văn Nghệ Quân Đội Bản vi tính trên blog của nhà văn Đỗ Bích Thúy

Đi tìm hai sắc hoa Ti gôn – Tân Linh

Thật hiếm thấy tác giả nào mà cuộc đời và thơ văn đã để lại câu chuyện như huyền thoại, khiến đau đầu bao thế hệ như Thâm Tâm. Suốt nửa thế kỷ qua, bí mật về nhà thơ và huyền thoại T.T.Kh. vẫn còn là một thách đố. Ông có phải là tác giả của những bài thơ đề tên ông? Một trong những bí mật về Thâm Tâm và bài thơ Hai sắc hoa Ti gôn gắn với tác giả T.T.Kh. được xem là một huyền thoại đẹp, làm ngẩn ngơ bạn đọc nhiều thế hệ. Người ta muốn biết T.T.Kh là ai, nam hay nữ, có tồn tại hay không tồn tại? Dẫu vậy vẫn chưa có một công trình khoa học nào thuyết phục, xác tín để khép lại vấn đề.

Mải đi tìm câu trả lời còn bỏ ngỏ, một ngày cuối năm, tôi chợt giật mình khi đọc được cuốn sách có tên là Huyền thoại hoa Ti gôn. Cuốn sách dày 650 trang, khổ lớn, đề cập một cách công phu về tác giả Tống biệt hành và nghi án văn chương gắn với tác giả T.T.Kh. Có thể nói, đây là lần đầu tiên có một tác giả đã trả lại cho Thâm Tâm gương mặt thật từng bị sương khói huyền thoại và uẩn khúc thời gian làm mờ đi cái tài hoa cùng những thất vọng trong cuộc đời và tình trường của ông…

Bằng phương pháp khoa học, Ngọc Thiên Hoa đã đi tìm sự thật qua muôn vàn tư liệu văn bản, để rồi phát hiện ra đâu là Chân-Giả trong câu chuyện dài bảy mươi hai năm chưa có hồi kết. Qua bút pháp, chất giọng thơ Thâm Tâm, đã hé lộ sự thật, như chính ông đã từng thú nhận lúc còn sống: Suốt từ năm 1937 đến 1939, chỉ có ba bài thơ chính thức của T.T.Kh do chính tôi sáng tác mà thôi: Hai sắc hoa Ti gôn; Bài thơ thứ nhất; Bài thơ cuối cùng. Ngoài ra, các bài như Đan áo cho chồng, ký T.T.Kh; bài Các anh hãy uống cho say, ký Thâm Tâm, đều do các bạn tôi tự soạn ra cả. Nếu kể hết thì nhiều lắm… (). Cuộc tình của Thâm Tâm và cô Trần Thị Khánh tan vỡ từ năm 1937. Đó là một tình yêu lãng mạn có thật giữa chàng thi sĩ nghèo và cô tiểu thư 17 tuổi xinh đẹp Hà thành tên T.T.Kh. Chỉ vì lễ giáo mà nàng phải thuận theo thầy mẹ, đành lấy người không yêu, một thương gia luống tuổi, để lại nỗi đau khổ, nhớ thương cho Thâm Tâm.

Thâm Tâm đến với thơ mới muộn màng với làn hơi cổ điển đậm nét phóng khoáng giang hồ, nhưng thoát ra khỏi bi phẫn để đến với cách mạng, mang hơi thở người chiến sĩ trên từng cây số lại chỉ ngắn ngủi hơn ba năm. Như vậy mười năm sống đời nghệ sĩ (1936-1945), với mối tình như hoa như hương dù đã chia cách, dù có cố quên đi, nhưng dư âm một cuộc tình vẫn chi phối hầu hết những sáng tác để đời của nhà thơ tài năng mạng yểu này…

Tác giả đã đặt nghi ngờ những bài thơ không phải Khánh làm. Theo Thâm Tâm và Nguyễn Vĩ: Kh. yêu thơ nhưng không biết làm thơ. Nội dung từng bài chứng tỏ Kh. không thể tự mình dám ghi rõ ràng tình yêu của mình lên giấy khi đã lấy chồng. Và cho dù có khả năng, nhưng hoàn cảnh không cho phép. Những câu thơ ngoại tình tư tưởng không có khả năng ra đời trong bối cảnh cũ: Chồng tôi vẫn biết tôi thương nhớ/ Người ấy cho nên vẫn hững hờ…

Ngọc Thiên Hoa có lẽ đã tin theo Nguyễn Vĩ: chàng yêu nhớ đơn phương với mặc cảm của một nghệ sĩ nghèo bị người yêu bỏ rơi… Vì một chút tự ái văn nghệ đối với mấy người kia, Tuấn Trình đã phải thức một đêm theo lời anh, làm một bài thơ đề là Hai sắc hoa Ti gôn, ký T.T.Kh. với thâm ý là để Trần Huyền Trân và Vũ Trọng Can tin là của Khánh làm, để thương tiếc mối tình tan vỡ. Muốn giữ tính cách bí mật, Tuấn Trình dán kín bao thư, rồi nhờ cô em họ là con gái của người cô ở góc Cửa Nam mang thư đến tòa báo… Anh mượn tên cô để làm thơ kể chuyện tình duyên cũ… Vì những câu thơ như thế, ở thời đại này cũng không ai dám đọc giữa gia đình riêng của mình chứ đừng nói cách đây 2/3 thế kỷ: Nếu biết rằng tôi đã có chồng/ Trời ơi người ấy có buồn không?/ Có thầm nghĩ tới loài hoa vỡ/ Tựa trái tim phai, tựa máu hồng?

Vâng! Khó có người đàn bà nào thời ấy dám xé rào để viết nên những câu thơ nồng nàn lãng mạn như vậy rồi lại đem đăng báo: Tạm kết câu chuyện, Ngọc Thiên Hoa đã viết: Riêng bài thơ đầy tấm chân tình, đầy nước mắt nuốt ngược vô lòng trong thi pháp ẩn dụ bức họa Hai sắc hoa Ti gôn, là chính do… Thâm Tâm làm.

Chuyện tình T.T.Kh với Hai sắc hoa Ti gôn là một huyền thoại đẹp, hấp dẫn trong thi ca. Nhưng tác giả cuốn sách, vâng, chính tác giả Ngọc Thiên Hoa cũng đã làm một việc rất khoa học khi chị viết: Độc giả cũng sẽ cùng cười, chau mày, bực bội khi đọc xong cuốn Huyền thoại hoa Ti gôn. Những vấn đề còn tồn đọng, chờ người yêu văn học, quý mến Thâm Tâm tiếp bước đi tìm thi pháp cho Thâm Tâm và nhóm bạn…

TÂN LINH

Tuổi xuân, những trang thơ, những cuộc đời – Nguyên An

TUỔI XUÂN, NHỮNG TRANG THƠ, NHỮNG CUỘC ĐỜI

Nguyên An

Đưa người ta không đưa qua sông

Sao có tiếng sỏng ở trong lòng

Bóng chiều không thắm, không vàng vọt

Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong.

                                   (Tống biệt hành)

ÔI NÚI THẲM RỪNG SÂU

TRUNG ĐỘI CŨ VỀ ĐÂU?

Các nhà nghiên cứu lịch sử và những người có nhiều quan tâm, có nhiều hiểu biết về văn chương dân tộc mỗi khi nhìn lại sự phát triền của văn chương Việt Nam vào những năm bốn mươi và năm mươi vừa qua đều có chung một ý nghĩ là: Năm 1945, với cái mốc chói lọi là sự thành công của cuộc Cách mạng tháng Tám vĩ đại, đời sống vật chất và đời sống tinh thần dân tộc (trong dó có hoạt động sáng tác và nghiên cứu văn chương) đã bước sang một bước ngoặt mà trước dó chưa hề có. Kể từ đây, muôn triệu người Việt Nam không phân biệt lứa tuổi và tầng lớp, đã từ thân phận làm thuê cơ cực cho bọn cướp nước và bè lũ tay sai của chúng mà dần dần xác lập được quyền làm chủ thực sự của mình đối với nước nhà. Kể từ đây, hoạt động sáng tác và nghiên cứu văn chương không còn là mảnh đất giành riêng cho một số người đang quẩn quanh với “cái tôi” chật hẹp, mà hoạt động đó đang dần dần được coi là một mặt trận có đóng góp tích cực vào sự nghiệp bảo vệ và xây dựng Tổ quốc của hàng triệu người. Trên mặt trận này, các nhà văn, nhà thơ, các nhà nghiên cứu, phê bình, dịch thuật đang trở thành những chiến sĩ thực thụ.

Sự thay đổi lớn lao và kỳ diệu đó có thể được chúng ta nhận thấy ngay trong việc tìm hiểu quá trình lao động của một số tác giả đang được kể tới trong tập sách này. Họ là Hồng Nguyên, Hoàng Lộc, Thôi Hữu, Trần Mai Ninh, và Thâm Tâm.

Xuất thân trong một gia đình nhà giáo nghèo và đông con ở thị xã Hải Dương, hồi còn nhỏ nhà thơ Thâm Tâm có tên là Nguyễn Tuấn Trình. Khi học hết lớp nhất, người con thứ ba này của gia đình đông con kia phải ở nhà giúp bố mẹ làm thêm nghề đóng sách và nấu bánh kẹo. Năm 1938, khi Thâm Tâm 21 tuổi, gia đình chuyển lên Hà Nội. Thời gian này nhờ có chút ít năng khiếu hội họa và cũng dã nhanh nhẹn trong lao động kiếm sống, Thâm Tâm bỏ tiền ra mua giấy bút và các loại màu để vẽ tranh sơn thủy đem bán cho khách xa về vãn cảnh Hồ Gươm. Hà Nội và trung tâm của nó là Hồ Gươm vào thời gian sôi nổi của phong trào dân chủ 1936 – 1939 này đã là nơi giúp Nguyễn Tuấn Trình – Thâm Tâm hiểu thêm nhiều về mọi sự đời và mọi lẽ sống. Nhiều khuôn hình cần lao và mỏi mệt vì gánh nặng của thuế khóa thực dân, nhiều gương mặt hào hứng với khí thế cách mạng buổi được ra công khai, và nhiều dáng dấp quá phè phỡn vì no đủ, áp bức… tất cả, tất cả đều soi bóng nước Hồ Gươm, đều như có dịp thoáng hiện trên những bức tranh vẽ vội để sinh sống cho qua ngày của Thâm Tâm. Đó là những bức tranh có núi non, sông bến, và con người gợi một vẻ hơi hiu quạnh, buồn buồn.

Rồi cũng như bao nhiêu thanh niên giàu xúc động và có tư chất lúc bấy giờ, Thâm Tâm lại làm thơ. Đó là vào đầu những năm bốn mươi, sau khi đã phản bội lại phong trào dân chủ, thực dân Pháp quay ra đàn áp khốc liệt các biểu hiện của lòng yêu nước và các tổ chức cách mạng, các chiến sĩ yêu nước lại rút vào hoạt động bí mật. Ngày lại ngày đi về trên các đường phố Hà Nội, Thâm Tâm không còn thấy những gương mặt hào hứng, tin tưởng của buổi nào. Căn nhà nhỏ của gia đình Anh ở ô Cầu Dền như buồn tẻ hơn, chật chội hơn. Cuộc sống chung và riêng là vậy, nên nhiều người đọc thơ Thâm Tâm in trên báo Tiểu thuyết thứ bảy và báo Truyền bá thời gian này đều cho là thơ Thâm Tâm rất buồn. Các bài thơ ấy đượm cái chất trượng phu thời cổ, hào hùng thì ít, u hoài thì nhiều (1), Thơ Anh là tấm lòng Anh nuối tiếc, bâng khuâng với những kỷ niệm vừa êm đềm đẹp đẽ vừa như có phần khó chia sẻ hết được với một ai. Tên các bài thơ, chỉ là tên bài thôi, cũng đã nói lên những điều ấy: Lưu biệt, Chào Hương Sơn, Ngậm ngùi cố sự, Vọng nhân hành, Tống biệt hành, Hoa gạo…

     Đưa người ta không đưa qua sông

    Sao có tiếng sóng ở trong lòng

    Bóng chiều không thắm, không vàng vọt

    Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?

                                      (Tống biệt hành)

Mấy dòng thơ trên, Thâm Tâm đã viết cách đây hơn bốn mươi năm. Từ đấy đến nay, không biết đã có bao nhiêu người thuộc? Không biết đã có bao nhiêu người nao lòng khi tự nhẩm lại mấy dòng thơ này vào mỗi một lúc nào đó của đời mình? Chỉ biết là buồn thì có buồn, nhưng nỗi buồn ấy trong Tống biệt hành của Thâm Tâm đã không làm người ta mềm yếu và hèn kém đi, trái lại, nó làm cho người ta biết quý một tình bạn chân chính hơn lên rất nhiều.

Với Tống biệt hành, qua mấy câu mở đầu như vậy, Thâm Tâm đã tự tạo nên một sự đối lập khiến nhiều người kinh ngạc: Con người này vốn nhỏ bé và ít nói đến mức khô khan khó gần – Hẳn là cuộc sống cực nhọc đã khiến anh sắt lại mà không có chỗ cho những ba động của tâm hồn đấy chăng?  Thế thì cái tiếng sóng ở trong lòng và cái ánh hoàng hôn trong mắt trong kia lại ở đâu ra?

Sau này, khi quen biết Thâm Tâm trong những ngày tham gia cướp chính quyền hồi Cách mạng tháng Tám ở Hà Nội và cùng đi với Anh trên những nẻo dường Việt Bắc rồi khu III kháng chiến, mọi người đã càng hiểu Anh mà mến phục anh, mà bớt dần nỗi kinh ngạc kia đi.

Lớp người đã chứng kiến, đã hòa nhịp mình vào những ngày đổi đời của toàn dân tộc ở Hà Nội dạo tháng Tám năm 1945 chắc không thể nào quên được sự rộn ràng náo nức, sự căng thẳng và hào hứng của những ngày này: Thanh niên cứu quốc vẽ và dán áp phích hoan hô cách mạng, cổ vũ toàn dân kiến quốc. Thiếu nhi tập hợp từng đoàn khua trống ếch rền vang đường phố. Dân chúng các phường, các ngõ nô nức thu dọn vệ sinh và góp tiền mua công trái. Những đơn vị vệ quốc quân nghiêm trang hành quân… Từ căn nhà nhỏ trước đó ít lâu đã là nơi đi về, gặp gỡ của những chiến sĩ cách mạng hoạt động bí mật của gia đình ở ô Cầu Dền, Thâm Tâm mới vào giữa tuổi hai mươi mà đã có lúc đăm chiêu trầm mặc như một người già khắc kỷ giờ đã vụt trẻ lại. Cách mạng là ngày hội của quần chúng lao khổ, trong đó có Anh và gia đình Anh. Thâm Tâm đi suốt ngày. Khả năng hội họa của Anh được sử dụng và phát triển. Những áp phích của Anh chưa thật đẹp, nhưng đã diễn tả được lòng hăng hái của Anh và những người như Anh. Người ta nhận ra ở đây một niềm say mê và một ý thức công dân tích cực đối với chế độ mới. Để tập hợp, tổ chức và hướng dẫn giới văn nghệ sĩ và giới khoa học tham gia xây dụng chế độ mới, Hội Văn hóa Cứu quốc bắt tay xuất bản tờ báo Tiên Phong. Số một của Tiên Phong được chuẩn bị từ trước ngày tổng khởi nghĩa, sau buổi cách mạng thành công mới ra mắt mọi người. Ở trang bìa của Tiên Phong số này vẽ một lá cờ đỏ sao vàng to lồng lộng làm nền cho cả trang, bức vẽ ấy là do Thâm Tâm thực hiện. Thời gian này, ngoài việc vẽ áp phích và tham gia mọi hoạt động tổ chức dưới sự chỉ đạo của các chiến sĩ dày kinh nghiệm, Thâm Tâm – qua sự nhớ lại của một số bạn bè Anh, có viết một vở kịch nói tên là Nga Thiên Hương và được ban kịch Tháng Tám diễn ở Nhà hát lớn Hà Nội.

Kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Theo lời kêu gọi tha thiết và mạnh mẽ của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm..., toàn dân tộc bắt đầu tiến hành cuộc kháng chiến chống Pháp toàn dân toàn diện với niềm tin tất thắng. Thâm Tâm bàn với gia đình tản cư về quê, còn mình thì gia nhập quân đội. Sau nhiều trận chiến đấu quyết liệt, nhiều đơn vị bộ đội chủ lực của ta rút về thành lập các chiến khu ở Việt Bắc, ở miền tây Bình Trị Thiên, ở miền Đông Nam Bộ, ở vùng rừng U Minh… Bước vào tuổi ba mươi, Thâm Tâm đã tỏ ra có nhiều từng trải, già dặn trong công tác. Riêng về nghề làm báo, Anh cũng là người thành thạo từ khâu tổ chức bài, biên tập bản thảo đến việc trình bày, minh họa báo… Anh được trên tín nhiệm giao nhiệm vụ Thư ký tòa soạn báo Vệ quốc quân ngay từ buổi đầu Vệ quốc quân ra đời. Ở cương vị này, Thâm Tâm, cũng như nhiều cây viết đã lăn lộn với hoạt động báo chí – văn nghệ từ trước, nay đang hăm hở và quyết tâm phục vụ kháng chiến với tất cả khả năng và tấm lòng của mình, Anh đã làm hết mình. Dưới sự lãnh đạo của Quân ủy Trung ương mà trực tiếp là chủ bút Vệ quốc quân Trần Độ và nhờ sự mẫn cán của các thành viên khác trong tòa soạn như Thôi Hữu, Trần Đăng, Từ Bích Hoàng, Vũ Cao, Trúc Kỳ… báo Vệ quốc quân đã đến với chiến sĩ và đồng bào đều đặn với nội dung khá phong phú, hình thức trình bày và phong cách viết linh hoạt. Trên Vệ quốc quân, thỉnh thoảng cũng có đăng vài bài thơ của Thâm Tâm. Những bài viết này chưa tiếp nối thành công của thơ Thâm Tâm trước đó. Thâm Tâm cũng tự biết như vậy, nhưng Anh không bận lòng nhiều về sự thành đạt hay chưa thành đạt của mình trong chuyện sáng tác này. Anh đang vui với cuộc kháng chiến, với sự có mặt thực sự tích cực của mình và nhữrg văn nghệ sĩ nguyện đi theo kháng chiến như mình. Anh cũng biết là con đường sáng tạo văn chương để phục vụ cuộc sống mới và con người mới là con đường không ít gian nan đối với những người đã nhuộm một nỗi buồn, đã quen một lối viết cũ từ trước như mình. Trên tờ Văn nghệ số 5 ra vào tháng 9 năm 1948, Thâm Tâm với bút danh là T.T. đã viết một bức thư đề ngày 8-8-1948, trong thư có một đoạn tâm sự:

Với tôi, thật ra cái cầu sáng tác bắc qua con suối nước lũ của công tác mình đang phụ trách, càng chật vật lắm. Quyết tâm có tác phẩm, Anh hãy tin ở sự cố gắng của tôi. Còn hay hoặc dở, đó lại là vấn đề khác, nói trong một lúc khác…

Do công việc nhiều nên phải dàn xếp mãi, đến giữa năm 1948 Thâm Tâm mới có dịp đi một chuyến công tác dài ngày và xa cơ quan. Lần ấy Anh từ Việt Bắc trở về vùng địch hậu liên khu III. Một chiều mưa, ngồi trên căn nhà tranh quạnh vắng, Thâm Tâm nhớ cồn cào miền Việt Bắc xa xăm. Qua màn mưa trắng đục trên cánh đồng xa, Anh như thấy hiện lên những nguời và cảnh Việt Bác qua đôi mắt sao đăm đăm – chứa cả trời mây nặng của mình. Anh ghi vội lòng mình bằng những dòng thơ năm chữ. Bài Chiều mua đường số 5 ra đời. Bài thơ, như một trang nhật ký tâm trạng này đã cho thấy đến lúc này, Thâm Tâm đã tìm lại được nét tinh tế, tình cảm chừng mực, sâu đậm là cách quen thuộc của Thâm Tâm (2). Qua nỗi nhớ được ghi lại bằng một điệu thơ hơi buồn, bài Chiều mua đường số 5 của Thâm Tâm cũng đã giúp bạn đọc bấy giờ hiểu Anh hơn và hiểu thêm về một phần của cuộc kháng chiến chống Pháp ngày ấy :

Chiều mưa ngàn mai nở

Hoa phới bay màu xuân

Bếp sàn gây ngọn lửa

Chén trà ngát tình dân.

Chiều mưa lùa các cửa

Ngày bộ đội hành quân

Mẹ già không nói nữa

Nước mắt nhìn rân rân…

Chiều mưa giã gạo mau

Chày tập đoàn thình thịch

Ôi núi thảm rừng sâu

Trung đội cũ về đâu

Biết chăng chiều mưa mau…

Ở đây, cũng nói về tình quân dân, tình đồng đội, nhưng nếu như trong bài Nhớ của Hồng Nguyên, mối tình ấy gợi lên trong ta một bối cảnh chan hòa, rộn rã của vùng hậu phương khu IV; thì trong thơ Thâm Tâm, mối tình ấy lại làm ta liên tưởng tới một vùng địch hậu ắng lặng, buồn buồn, khiến cho “mối tình Việt Bác” đã thấm đượm vào tâm khảm anh bộ đội Thâm Tâm, giờ đây lại dạt dào sôi động.

Tháng 4 năm 1949, Hội nghị Văn nghệ quân đội lần thứ nhất được tổ chức trên chiến khu Việt Bắc. Tại hội nghị này, Thâm Tâm đã trình bày bản báo cáo nhan đề Văn thơ bộ đội. Lần đầu tiên, qua bản báo cáo này, người ta đã thấy được bức tranh toàn cảnh của phong trào sáng tác văn chương trong quân đội những năm đầu kháng chiến chống Pháp. Đọc lại bài tường thuật về Hội nghị này của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng trên tạp chí Văn nghệ số 11 và 12 ra vào tháng 5 năm 1948, chúng ta có thề biết được phần nào giá trị tổng kết của báo cáo Văn thơ bộ đội.

12-4-1949: Câu chuyện rất đời của Thâm Tâm về văn thơ bộ đội vạch ra một sự thật: loại thơ anh hùng của cán bộ, những hình ảnh tưởng tượng, lời văn mỹ miều của những văn nghệ sĩ công tác trong bộ đội không được đội viên hoan nghênh. Trái lại họ thích những bài thơ hợp với đời sống của họ, những bài thơ ở bộ đội mà có, những sáng tác này trở lại ảnh hưởng bộ đội rất mạnh.

Tuy bản báo cáo chưa đưa ra thật nhiều thí dụ, nhưng qua bản tường thuật của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng, chúng ta có thể hiểu là ở đây, Thâm Tâm đã cổ vũ cho các sáng tác ra đời từ cuộc đời anh bộ đội và phục vụ cho đời sống tinh thần những anh bộ đội đó như thơ Chính Hữu, Hồng Nguyên, Vũ Cao, Hoàng Lộc, Minh Huệ, Trần Hữu Thung hồi đó. Sự cổ vũ và khẳng định ấy của Thâm Tâm cho đến nay vẫn còn có giá trị tham khảo quý báu. Một điều cũng cần được đặc biệt ghi nhận nữa là: Nếu như ngày nay, chúng ta nói Chủ tịch Hồ Chí Minh là một nhà thơ lớn của đàn thơ dân tộc – điều đó là sự bình thường trong các trang sách giáo khoa và trong sự nhìn nhận của các nhà lý luận văn chương, thì cách đây hơn một phần ba thế kỷ, có lẽ Thâm Tâm là người đầu tiên, đã nhận định như chúng ta, trong một báo cáo chính thức, báo cáo về Văn thơ bộ đội. Lúc đó nhà thơ đã viết:

Hồ Chủ tịch không rảnh việc nước, nhưng khi nghe giao thông chạy ngựa đưa tới tin thắng trận liên tiếp, nhưng khi nghe du kích đi giết giặc đã quay về với tiếng tù và vang trên núi, vị cha già của chúng ta cũng rung cảm thành thơ, mà cả những Bức thư từ hơn 10 năm nay, Người gửi cho mọi tầng lớp dân chúng thời thường cũng là thơ; những đoạn văn có vần chúng ta đọc một lần không bao giờ quên được.

Hồ Chủ tịch là người lính số một của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Người lính số một trong khi đuổi giặc vẫn làm thơ, vì hay thơ vẫn là một trong những dân tộc tính của chúng ta. Tiếp tục truyền thống văn nghệ ấy, những người con cháu đứng dậy cầm súng giết giặc giữ nước, ngay từ phút đầu cũng đã rập với tiếng đạn nồ ngân lên những vần thơ – mầm mống của văn nghệ bộ đội mà hôm nay chúng tôi có dịp trình bày trước hội nghị…

Kết thúc Hội nghị Văn nghệ quản đội, Thâm Tâm được bầu vào Ban Văn nghệ trung ương thuộc Phòng Tuyên truyền gồm bảy người do nhà thơ Tố Hữu làm trưởng ban (3). Thâm Tâm vốn là nguời cần cù, mẫn cán với công việc. Công việc hàng ngày của Anh dường như tất cả không ngoài chuyện nâng cao chất lượng của báo Vệ quốc quân. Anh xa lạ với những buổi chuyện phiếm vô bổ đã có lúc được một số văn nghệ sĩ coi là “nhu cầu giao tiếp”. Nhận thêm công việc ở Ban Văn nghệ trung ương, thì giờ giành cho sáng tác của Thâm Tâm cũng có cơ ít đi. Song biết rằng đây cũng là một trọng trách, nên dù có sốt ruột với chuyện sáng tác, Anh vẫn cố gắng dậy sớm hơn và thức khuya hơn một chút, Anh như người “giữ gôn” ở tòa soạn Vệ quốc quân, các anh em khác được đi viết nhiều hơn vậy.

Khoảng giữa năm 1950, một lần Đại tướng Nguyễn Chí Thanh bấy giờ vừa ở miền Trung ra nhận công tác ở Quân ủy trung ương đã mời Thâm Tâm và Vũ Cao tới làm việc. Hai người vừa mừng vừa lo không biết có chuyện gì hệ trọng. Hôm ấy Đại tướng Nguyễn Chí Thanh cho biết là ta sắp mở một chiến dịch lớn – đây là lần đầu tiên quân đội ta đánh lớn như vậy. Chờ cho nỗi reo vui của Thâm Tâm và Vũ Cao đã lắng lại, Đại tướng đề nghị hai người về thu xếp để đi làm báo cho chiến dịch này. Khỏi phải nói về nỗi vui mừng của hai người như thế nào. Riêng Thâm Tâm, Anh coi đây là một nhiệm vụ đột xuất và chỉ có thể phải hoàn thành tốt đẹp mà thôi. Vừa gói ghém đồ đạc vào  ba lô, Anh vừa trao đổi khe khẽ với Vũ Cao về những ngày sắp tới. Thể rồi họ lên đường, Thâm Tâm gầy nhỏ, ít nói, Vũ Cao lênh khênh và nhộn nhạo luôn, Vũ Cao kể về Thâm Tâm trong lần đi chiến dịch ấy thể này:

Mấy ngày đêm liền hành quân, anh rất vui, rất khỏe, nói năng nhiều hơn, đôi lúc cũng đùa. Tới Cao Bằng, bỗng một hôm anh kêu mệt. Anh sốt, nằm ở nhà sàn, gần biên giới. Thuốc men đầy đủ, thức ăn bồi dưỡng cũng không thiếu, tôi cũng tưởng anh chỉ sốt bình thường một hai ngày rồi qua khỏi. Đến một buổi chiều, tôi được cử xuống đơn vị. Trước khi đi, tôi vào ngồi với anh một lát. Tôi nắm tay anh thấy rất nóng. Mắt anh vàng hơn ngày thường. Anh bảo tôi đưa anh sang một chỗ nằm khác cho thoáng hơn. Tôi ôm lấy lưng anh, dắt anh đi. Anh vừa run lẩy bẩy vừa khẽ bảo:

– Mình thấy trong người thế nào ấy. Cậu đi khỏe nhé. Tôi không thể ngờ đó là câu cuối cùng anh nói vởi tôi. Ở đơn vị được một tuần, một hôm bỗng Thôi Hữu gặp tôi, báo tin là Thâm Tâm đã mất. Chiến dịch sắp mở, đường thì xa, chúng tôi không về được nữa rồi. Một sự ngẫu nhiên là hôm ấy trời rét và có nắng. Tôi bỗng nhớ cái buổi chiều nào năm trước, cũng trời đất như vậy, chính Thâm Tâm báo tin cho tôi là Trần Đăng không còn nữa. Trần Đăng nằm lại ở biên giới, còn bây giờ Thâm Tâm cũng nằm lại ở biên giới…  Anh đã mất trước khi được thấy một chiến thẳng lịch sử: Chiến thắng Biên Giới (4)…

Từ sự lặn lội với cuộc đời mà dạn dày, chín chắn, Thâm Tâm đã tiêu biểu cho không ít văn nghệ sĩ buồn đau phẫn chí dưới chế độ cũ, nhờ có cách mạng và nhanh chóng hòa nhập với cách mạng mà xác lập được vị trí của mình trong cuộc sống mới. Sáng tác thơ của Thâm Tâm đăng báo không nhiều, nhưng không vì thế mà hình ảnh Anh mờ nhạt trong tâm trí những người đã cùng sống và làm việc với Anh. Cuộc đời và sáng tác của Thâm Tâm là một bài học về đức tính kiên trì rèn luyện, về sự chịu thương chịu khó, xuất phát từ một ý thức trách nhiệm cao đối với công việc.

  1. Vũ Cao, bài Vài kỷ niệm về Thâm Tám. T.C. Văn nghệ, tháng 12-1989.

  2. Ngô Thảo, bài Nhà thơ Thâm Tâm. T.C. Văn nghệ quân đội, 7-1981.

  3. Theo Ngô Thảo, bài Nhà thơ Thâm Tâm – Văn nghệ quân đội, 7-1981.

  4. Theo Ngô Thảo, bài đã dẫn.

 

 

Cuối năm, “thăm” tác giả “Tống biệt hành” – Hoàng Quảng Uyên

TP – Hơn 40 văn nghệ sĩ tỉnh Hải Dương (quê hương nhà thơ Thâm Tâm), đi thẳng từ thành phố Hải Dương lên Cao Bằng, vào Pò Noa viếng mộ nhà thơ Thâm Tâm.

Pò Noa – Một bản nhỏ thuộc thôn Thạch Bình, xã Phi Hải, huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng – nơi nhà thơ – liệt sĩ Thâm Tâm (1917 – 1950) – Giải thưởng nhà nước về văn học – nghệ thuật, tác giả của nhiều bài thơ nổi tiếng (như “Tống biệt hành”; “Chiều mưa đường số năm” v.v..) hy sinh và yên nghỉ – là một địa danh quen thuộc của giới văn nghệ cả nước.

Một buổi chiều nắng nhạt tháng 12 – 2008, hơn 40 văn nghệ sĩ tỉnh Hải Dương (quê hương nhà thơ Thâm Tâm), đi thẳng từ thành phố Hải Dương lên Cao Bằng, vào Pò Noa viếng mộ nhà thơ Thâm Tâm. Tính toán theo cung đường thì khoảng 5 giờ chiều doàn sẽ đến Pò Noa, “ở” với Thâm Tâm khoảng 2 tiếng – khoảng thời gian không quá ngắn, nhưng “người tính không bằng trời tính”, xe đến đỉnh dốc Pò Noa, gặp đoạn đường dốc mới làm bị mưa lũ xẻ thành nhiều rãnh theo chiều ngang, lái xe xuống xe nhìn con đường dốc mà rùng mình!

Tiến thì quá mạo hiểm mà lùi thì không có chỗ quay xe. Chả nhẽ đi hơn 500 cây số đến đây chỉ để nhìn bản Pò Noa và mộ Thâm Tâm từ xa?! Chủ tịch Hội, họa sĩ Hà Huy Chương quyết định xuống xe đi bộ.

Tôi dẫn Hà Huy Chương đi trước, trong tốp đầu có các văn nghệ sĩ cao tuổi: Nhà thơ Nguyễn Đào Trường (75 tuổi) , nghệ sĩ nhiếp ảnh Tô Kim Trọng (75 tuổi), nhạc sĩ Minh Chính, nhạc sĩ Mai Đoan, hoạ sĩ Chu Đức Tiến, nhà thơ Nguyễn Việt Thanh (trưởng ban thơ), các nhà văn, nhà thơ Văn Duy, Tạ Kim Khánh, Vũ Hoàng Luyến, Nguyễn Thị Lay (lứa tuổi U60) …

Đi bộ vào bản Pò Noa, ra mộ Thâm Tâm mất một tiếng. Nắng chiều đã tắt, nhưng không ai để ý đến thời gian khi hình ảnh của nhà thơ Thâm Tâm khắc trên bia mộ chợt “rạng rỡ” đón chào những người đồng hương anh em, những người bạn bè văn nghệ.

Ngôi mộ nhỏ quét vôi trắng nghi ngút khói hương và những lời cầu khấn, đúng hơn là những lời tâm sự, những nguyện ước với nhà thơ lớp trước đáng kính, đáng trọng.

Từ trên bãi đất rộng chân núi mọi người hướng tầm mắt ra xa thấy những ngọn núi mờ xanh và con đường dốc ngoằn ngoèo từ biên giới Bản Riềng về Pò Noa – con đường mà nhà thơ Thâm Tâm đã qua trong những ngày cuối cùng của đời mình.

Chúng tôi đã đứng rất lâu, rất lâu trước mộ Thâm Tâm trong đan xen quá khứ và hiện tại để đến khi tạm biệt mỗi người mang theo những xúc động riêng, ấn tượng riêng trong tình cảm chung: Yêu thương, kính trọng và biết ơn.

Cuộc đời có những duyên may, để có chuyến về Pò Noa này, họa sĩ Hà Huy Chương đã hẹn trước với tôi tại thành phố Ninh Bình trong cuộc hội thảo “Nâng cao tính chuyên nghiệp trong sáng tạo văn học” do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Tôi cứ nghĩ phải sang năm 2009, ra giêng ngày rộng tháng dài, mùa xuân ấm áp thì chuyến đi mới có thể thực hiện được, không ngờ nhanh đến thế.

Đó là một bất ngờ và chính hoạ sĩ Hà Huy Chương cũng bất ngờ vì theo dự kiến ban đầu đoàn chỉ khoảng 30 người, nhưng biết đợt đi sẽ đến viếng mộ Thâm Tâm và thăm khu di tích lịch sử Pác Bó, nhiều người xin được bổ sung vào danh sách, nhiều người đã nhường “xuất đi” cho người khác nay không “nhường” nữa…

Không thể từ chối những tấm lòng, do vậy mà số người tăng lên trên 40, phải thuê một chiếc xe to và dài, rất khó “len lỏi” trên đường núi. Một bất ngờ nữa là tình cảm của những người dân ở làng Pò Noa đối với nhà thơ Thâm Tâm, với những người bạn Hải Dương vẫn còn giữ được như tình cảm của ông Hoàng Tăng Khuê, người bí thư chi bộ bản nhỏ Pò Noa đã tự tay tháo ván cửa nhà mình đóng quan tài và cùng dân làng Pò Noa an táng Thâm Tâm rất chu đáo như đối với người anh em ruột thịt.

Nhà văn Nguyễn Thị Việt Nga, Phó Chủ tịch Hội Văn nghệ Hải Dương cùng một số văn nghệ sĩ trẻ đã lên nhà anh Hoàng Văn Mạnh (cháu nội ông Hoàng Tăng Khuê).

Người bà nội đã già nhưng còn khỏe, minh mẫn đem 2 chai rượu ngô ra mời. Chị Vi Thị Lâm (vợ Hoàng Văn Mạnh) tặng đoàn những khúc cơm lam của nhà mới làm. Hoàng Văn Mạnh và vợ tiễn đoàn ra tận xe. Nồng ấm và thân thương lắm.

Một số hình ảnh chuyến “thăm” Thâm Tâm ở Cao Bằng

 

Khi mọi người trở ra đến ngã ba đường thì trời đã tối hẳn. Rất may chiếc xe đã “thoát” được đoạn đường nguy hiểm. Tất cả thở phào. Hà Huy Chương bảo: “Nhờ có cụ Thâm Tâm phù trợ”. Có thể lắm ! Mọi người lên xe trở ra thị xã Cao Bằng theo con đường vòng qua trung tâm xã đã được rải cấp phối, rải nhựa phẳng lỳ mang theo những hình ảnh đẹp của một chiều Pò Noa.

Hôm sau tôi đưa đoàn văn nghệ sĩ Hải Dương lên thăm khu di tích lịch sử Pác Bó, cuộc đi cũng để lại những kỷ niệm đẹp. Nhà thơ Phạm Chức, Trưởng ban văn nghệ Phát thanh – Truyền hình đã xuống ngang đường thăm lại làng bản xưa và những người bạn cũ nơi anh có những năm tháng sống và chiến đấu cách đây gần 30 năm.

Các nhà thơ Nguyễn Thị Lay, Nguyễn Thị Nhung chăm chắm tìm về ngôi nhà của người bạn học quê Hoà An vừa mất để thắp nén nhang tưởng nhớ. Hoạ sĩ Hà Huy Chương “bàn” với tôi rất kỹ về những tác phẩm hội họa về đề tài Bác Hồ ở Pác Bó và thống nhất rằng: Đóng góp của hoạ sĩ Trịnh Phòng về đề tài này là rất đáng trân trọng và tôn vinh. Họa sĩ Chu Đức Tiến, có tiếng về tranh biếm họa đã ký họa tôi bên suối Lê Nin rất tình… chứ không ra… biếm họa!

Tất cả những văn nghệ sĩ Hải Dương trong đoàn, những người tôi đã quen mặt, quen tên và cả những người tôi chưa có dịp trò chuyện mà chỉ kịp ghi lại địa chỉ và số điện thoại đã và sẽ là những người bạn nghề thân thiết. Tôi tin sau chuyến đi này tình cảm của Hội Văn nghệ Hải Dương và Hội Văn nghệ Cao Bằng sẽ trở nên nồng ấm sau những ngày giá lạnh của mùa đông nghiệt ngã.

 Ngày 22/12/2008
Nhà văn Hoàng Quảng Uyên

Nhà thơ Liệt sĩ Thâm Tâm: Siêu thoát nơi bản nhỏ – Hoàng Quảng Uyên

Nhà thơ Thâm Tâm, tên thật là Nguyễn Tuấn Trình, quê ở thị xã Hải Dương, là thư ký tòa soạn báo Vệ Quốc Quân, tiền thân của báo Quân đội nhân dân, tạp chí Văn nghệ Quân đội (từ năm 1948 đến năm 1950)… Chiến dịch Biên Giới chuẩn bị mở màn, ông vượt đèo, lội suối đưa một tổ công tác ra tiền phương để ra báo phục vụ tại mặt trận rồi hy sinh… Hơn nửa thế kỷ sau, người thân và đồng đội cũ mới tìm thấy phần mộ của Thâm Tâm…

Ngày 18-8-1950, người dân bản Pò Noa, xã Phi Hải, huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng cùng đơn vị bộ đội đóng quân trong bản đã tổ chức an táng với nghi thức gọn nhẹ, ân tình cho một anh Bộ đội Cụ Hồ mới hy sinh. Nấm mộ của người chiến sĩ vô danh ấy (không có bia) nép mình nơi bìa rừng, dưới tán lá của những cây xau xau, cây nghiến xanh tốt quanh năm. Năm tháng trôi đi nấm mồ nhỏ dần theo thời gian, thậm chí lẫn trong cây, trong cỏ nếu như không có việc khơi lại ký ức thời gian…

Khởi đầu là bài báo của nhà báo Trúc Kỳ viết tháng 9-1992, in trên báo Quân đội nhân dân với tựa đề “Những phút cuối cùng của Thâm Tâm”:Thu-Đông năm 1950, tôi (Trúc Kỳ) nhận lệnh điều đến chỗ ở mới của cơ quan là một bản nhỏ của đồng bào Nùng, ở chân đèo Mã Phục, gần thị trấn Án Lại, cách thị xã Cao Bằng khoảng 18km về phía Bắc. Từ đây, tôi được điều tiếp ra biên giới thay Thâm Tâm đang ốm. Đến Bản Riềng, thấy Thâm Tâm nặng quá, tôi cho người cáng anh trở lại cơ quan, dọc đường thì anh hy sinh. Tôi báo cho cơ quan biết để liên hệ với địa phương lo mai táng anh. Đồng chí Bí thư chi bộ xã đã vượt qua những phong tục tập quán của bản làng, cho đưa người chết vào nhà mình, lại tháo cánh cửa tự tay đóng quan tài. Chúng tôi khóc Thâm Tâm, lại khóc vì cảm động trước việc làm đầy tình đồng chí của Bí thư chi bộ xã mà cho đến bây giờ tôi cũng không thể nào quên được, mặc dù từ bấy đến giờ, bốn mươi hai năm đã trôi qua…”.

Đọc bài báo ấy, những người làm văn nghệ ở Cao Bằng đã rất bất ngờ và tự hào. Bất ngờ vì tới nay họ mới biết nhà thơ Thâm Tâm đã từng chiến đấu và vĩnh viễn nằm lại ở núi rừng Án Lại, Phục Hòa, Quảng Uyên… Tự hào vì có những người bí thư chi bộ xã đã có những tình cảm và việc làm đầy nhân ái, hiếu nghĩa đối với cách mạng, với kháng chiến, với Bộ đội Cụ Hồ.

Hãy đi tìm nơi an nghỉ của nhà thơ Thâm Tâm! Những tiếng lòng mách bảo chúng tôi như vậy, thật may mắn, sau nhiều chuyến đi tìm tưởng như vô vọng, vào năm 1997, chúng tôi đã xác định bản nhỏ trong bài viết của ông Trúc Kỳ là bản Pò Noa và tên người bí thư chi bộ năm xưa.

Sau khi xác định được chính xác nơi hy sinh và an nghỉ của nhà thơ Thâm Tâm, tỉnh Cao Bằng và Đài Truyền hình Việt Nam, tạp chí Văn nghệ Quân đội đã thực hiện bộ phim “Nhớ Thâm Tâm” (năm 2000). Gia đình nhà thơ Thâm Tâm đã lên bản Pò Noa nhiều lần, lần nào cũng được sống trong tình thân ái như anh em ruột thịt của bản… Mỗi lần gặp là một lần nặng nghĩa nặng tình. Năm 2002, bà Phạm Thị An, vợ nhà thơ Thâm Tâm đến Pò Noa, bà lặng đi trước nơi yên nghỉ của chồng. Năm 2005, bà An quy tiên, tôi cùng đạo diễn điện ảnh Nguyễn Nhàn đến viếng, nhìn đôi mắt hiền dịu, thanh thản trong tấm di ảnh của bà An, tôi như thấy sự mãn nguyện của bà khi đến với ông ở cõi vĩnh hằng.

Đúng dịp kỷ niệm 90 năm ngày sinh nhà thơ Thâm Tâm (đầu năm 2007) Nhà nước ta truy tặng ông phần thưởng cao quý: Giải thưởng Nhà nước về Văn học – Nghệ thuật. Trong lễ Tảo mộ 3-3-2007 (âm lịch), gia đình anh Nguyễn Tuấn Khoa, con trai nhà thơ cùng cán bộ Viện Thông tin y học, lần thứ tư lên Pò Noa dựng bia tưởng niệm Nhà thơ, Liệt sĩ Thâm Tâm. Dân bản Pò Noa, con cháu của người bí thư chi bộ năm xưa lại tận tình tiếp đón chu đáo gia đình nhà thơ Thâm Tâm và dựng bia kỷ niệm như chính việc của gia đình mình vậy. Cảm ơn dân làng, anh Nguyễn Tuấn Khoa xúc động không nói nên lời, thay vì những câu cảm tạ anh đã quỳ xuống vái lạy dân bản Pò Noa và mảnh đất mà cha anh đã nằm xuống, yên nghỉ mãi mãi.

Rồi đây du khách phương xa, các nhà thơ, nhà văn đến Cao Bằng sẽ có một nơi để tìm về với Thâm Tâm từ “Đỉnh cao các con chữ”, dậy lên “tiếng sóng ở trong lòng” nhớ một thời cách mạng hào hùng với những kỷ niệm về một nhà thơ-chiến sĩ ra trận và hy sinh trong Chiến dịch Biên Giới năm 1950.

HOÀNG QUẢNG UYÊN
QĐND – Thứ Sáu, 03/08/2007
Nguồn: Nhà thơ liệt sĩ Thâm Tâm: siêu thoát nơi bản nhỏ