Dòng đi thăm thẳm chia phôi – Nguyễn Thị Minh Thái

(Dân Việt) – Con sông trong “Tống biệt hành” của Thâm Tâm riêng ra một lối, như muốn vĩnh viễn cắt đôi số phận người đi và người tiễn. Vì thế, điểm nhìn cảm xúc đã rọi chiếu bắt đầu từ người tiễn, lại không muốn đưa qua sông, mà dùng dằng ly biệt người đi.

Đất Việt là nơi cư dân trồng lúa Việt đã ở ngàn đời, với nét hoa văn hoá, văn minh lúa nước, cùng ba thông số: xứ nóng ẩm, xứ sông nước, giao điểm văn hoá văn minh thế giới. Sông nước, tất thành yếu tố tâm linh người Việt “kỳ diệu”. Mọi cử chỉ sống Việt: yêu đương, hôn phối, sinh tồn… đều mang dung dáng sông nước.

Sông Bến Hải. Ảnh: Dương Minh Long

Yêu đến ước gì sông rộng một gang, bắc cầu dải yếm cho chàng sang chơi. Xuân Diệu ví: Mắt em là một dòng sông, thuyền anh bơi lội trong dòng mắt em. Xa quê Hà Nội, tôi nhớ sông Đáy bãi bờ biêng biếc, dọc triền sông Nhuệ ngan ngát nương dâu. Và điếng lòng nhớ chùm thơ lai láng hình tượng sông, chói chang vẻ đẹp thuần Việt: “Tràng giang” của Huy Cận, “Tống biệt hành” của Thâm Tâm và “Lỡ bước sang ngang” của Nguyễn Bính…

Từ thời điểm dừng lại của cuộc dùng dằng ly biệt, bài thơ “Tống biệt hành” dường như tĩnh tại, không lưu chuyển. Điểm nhìn thơ thành âm tính, quay ngược về thẳng nội tâm, nghe sao có tiếng sóng ở trong lòng? Mắt soi trong mắt, thấu thị một bóng chiều ra màu dở dang không thắm không vàng vọt, đến mức nội tâm bật sáng nghi vấn nữa: Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?

Con sông đang hiện hữu dường như biến mất. Tâm trạng đau đớn, biết chắc người đi sẽ “một đi không trở lại” đã làm mờ nhoè cả hình ảnh con sông lẫn con đò hiện thực, lẽ ra phải rời bến sang sông để hoàn tất tiễn đưa, song, chỉ vì cử chỉ “không đưa”, mà bài thơ đã cấu tứ ngược với tên “Tống biệt hành”, vốn mang nghĩa dương tính: “Tiễn một người bạn đi chiến khu” (như bạn cũ của Thâm Tâm từng cho biết). Vì sự ngược chiều này mà bài thơ đã quyến quyện được hai hơi thở trữ tình và chính luận – triết học, vốn không dễ có mẫu số chung trong tác phẩm thơ trữ tình. Nhất là khi nó được cấu trúc mạch cảm xúc trên tình huống biệt ly, (cũng là tên ca khúc buồn não ruột của Dzoãn Mẫn), vốn thường là mảnh đất thuận cho “sầu riêng trổ bông”…

Nỗi buồn mang vẻ vô thường kín đáo này được xác tín trong cuộc biệt ly riêng đưa người ta chỉ đưa người ấy, với lý do sâu kín chỉ hai người biết, hà tất chia xẻ cùng ai. Người đưa lại ngược về nội tâm, lý giải người đi, bằng những câu thơ hàm nghĩa, toả bóng dài rộng trong cõi âm vang của dồn nén tu từ. Người đi được gọi là “Ly khách! Ly khách!” với thức mệnh lệnh đượm mùi “kiếm hiệp”. (Có nhẽ Thâm Tâm muốn gợi lại điển tích Kinh Kha, kiếm khách thời Chiến Quốc, tự nguyện nhận hành thích bạo chúa Tần Thuỷ Hoàng, khảng khái ngâm thơ tặng người tiễn mình, trước khi vượt sông: Gió đìu hiu hề/Nước sông Dịch lạnh ghê/Tráng sĩ ra đi chừ không về).

Tuy nhiên, Thâm Tâm chuyển ngay sang một đoạn thơ hoàn hảo tu từ thuần Việt về người đi, với tâm nguyện: Chí nhớn chưa về bàn tay không/Thì đừng bao giờ nói trở lại/Ba năm mẹ già cũng đừng mong. Vậy, người đi, với một niềm câm lặng, chỉ người tiễn tự sự triết học: Ta biết người buồn chiều hôm trước… Ta lại biết người buồn sáng hôm nay. Biết, để sực tỉnh thảng thốt, trở lại sự thực không thể dối lòng, dù rất sâu xa vẫn thoảng nhẹ nghi vấn khắc khoải: Người đi? Ừ nhỉ, người đi thực/Mẹ thà coi như chiếc lá bay/Chị thà coi như là hạt bụi/Em thà coi như hơi rượu say…

Ta không khi nào có thể nghĩ dòng chảy thơ Việt hiện đại lại vắng thiếu con sông ly biệt đặc hiệu Thâm Tâm này.

PGS.TS Nguyễn Thị Minh Thái

THÂM TÂM

Cuộc đời và sự nghiệp

Thâm Tâm tên thật là Nguyễn Tuấn Trình, sinh ngày 12 tháng 5 năm 1917 tại thị xã Hải Dương (nay là thành phố Hải Dương), tỉnh Hải Dương.

Xuất thân trong một nhà giáo nền nếp, thuở nhỏ, ông học tiểu học ở Hà Nội. Từ năm 1938, từng vẽ tranh để kiếm sống. Từ những năm 1940, ông tham gia viết báo, viết văn và thường được đăng tải trên Tiểu thuyết thứ bảy, Ngày nay, Tiểu thuyết thứ nămTruyền bá quốc ngữ… Ông từng thử sức trên nhiều thể loại nhưng thành công hơn cả vẫn là thơ. Thơ Thâm Tâm có nhiều giọng điệu, khi buồn da diết, khi trầm hùng, bi tráng, khi reo vui…

Sau Cách mạng tháng Tám 1945, Thâm Tâm tham gia văn hóa Cứu quốc, ở trong Ban biên tập báo Tiên Phong (1945-1946), sau đó ông nhập ngũ, làm thư ký tòa soạn báo Vệ quốc quân (sau là báo Quân đội Nhân dân).

Ông mất sau một cơn bệnh đột ngột ngày 18 tháng 8 năm 1950 trên đường đi công tác trong chiến dịch Biên giới, được đồng đội và nhân dân địa phương mai táng tại bản Pò Noa, xã Phi Hải, huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng.

Thâm Tâm nổi tiếng với bài thơ Tống biệt hành. Sinh thời ông chưa in thơ thành tập. Sáng tác thơ của ông được xuất bản năm 1988 trong sưu tập Thơ Thâm Tâm.

Ngoài ra, Thâm Tâm còn có 3 bài thơ Gửi T.T.Kh., Màu máu Tygôn, Dang dở. Đây là những bài thơ tình hay nhất của Thâm Tâm gởi cho thi sĩ bí ẩn T.T.Kh. trong năm 1940. Trong các bài thơ, ông tự nhận là người tình cũ của T.T.Kh. Một số người còn cho rằng chính ông là T.T.Kh. Tuy nhiên, vẫn không ai biết chính xác là như thế nào.

Thâm Tâm được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2007. Tại Thành phố Hải Dương, có một đường phố mang tên Nguyễn Tuấn Trình.

Gia đình

Thâm Tâm sinh ra trong một gia đình đông anh chị em. Cụ thân sinh Nguyễn Tuấn Thịnh, làm thầy giáo nên còn gọi là cụ giáo Thịnh. Thâm Tâm có 2 chị gái, 2 em trai và 2 em gái. Em trai út tên là Nguyễn Tuấn San, bút danh Hoài Niệm, Bắc Thôn, tác giả truyện thiếu nhi “Hai làng Tà Pình và Động Hía”. Bà Phạm Thị An (1920-2005) là vợ Thâm Tâm. Thâm Tâm có một con trai duy nhất, Nguyễn Tuấn Khoa, sinh năm 1946, nguyên Viện trưởng Viện Thông tin Y học Bộ Y tế, tác giả truyện ngắn “Hoa Thạch Trúc báo bình yên”. Con dâu là Nguyễn Ngọc Mỹ, nguyên Chủ nhiệm Bộ môn Ngoại ngữ, Đại học Dược Hà Nội. Hai cháu nội là Nguyễn Tuấn Huy và Nguyễn Mỹ Trang.

Tác phẩm chính

Thơ:

  • Tống biệt hành

  • Ngậm ngùi cố sự

  • Chào Hương Sơn

  • Ly biệt

  • Vạn lý Trường thành (thơ in trên các báo trước 1945)

  • Chiều mưa đường số 5 (1948)

  • Thơ Thâm Tâm (1988)

Kịch:

  • Sương tháng Tám (kịch một hồi, Tiểu thuyết thứ bảy, 1939)

  • Nga Thiên Hương

  • 19-8

  • Lối sống (1945)

  • Lá cờ máu

  • Người thợ (1946)

Truyện:

Hơn 50 truyện ngắn đăng trên Tiểu thuyết Thứ bảy từ 1941 đến 1945, một số truyện cổ tích, truyện đồng thoại cho thiếu nhi và các chuyện dài in trên Phổ thông bán nguyệt san và Truyền bá.

THÂM TÂM MỘT THỜI VÀ MÃI MÃI – Văn Giá

Có một cách hình dung về đội ngũ những người sáng tạo văn học, căn cứ vào mức độ gắn bó với nghề ta có thể chia làm hai loại: Một, những người nếu không viết họ vẫn sống được, họ có thể bỏ bút đi làm nghề khác, ừ thì cũng có một chút lưu luyến nào đó với nghề, nhưng mà văn chương chẳng phải là…tất cả, cuộc đời còn có những thú vị khác hơn; và hai, những người nếu không viết thì không thể sống nổi, hiểu theo nghĩa cụ thể, vật chất, và cả với nghĩa tinh thần của nó. Không sống nổi bởi vì, nếu không viết văn thì họ chẳng biết làm gì, họ không có cái khả năng mưu sinh bằng những nghề khác, họ không thạo đi giữa cuộc đời. Không sống nổi bởi vì cái đam mê văn chương như là định mệnh, nó cứ ám anh suốt đời. Có lúc rơi vào chán nản, muốn vứt hết chữ nghĩa văn chương đi, nhưng rồi bất ngờ nó lại hiện về, nó rủ rê quyến rũ anh, anh lại vồ lấy bút, lại đêm đêm độc lực viết như thiêu thân, viết như hành xác, viết đến lao lực… Nhà văn Thâm Tâm thuộc trường hợp thứ hai, nghĩa là Thâm Tâm sinh ra để làm nghệ sĩ. Như người ta vẫn thường nói: Văn chương nó chọn anh, chứ không phải anh chọn văn chương. Vâng, văn chương đã chọn Thâm Tâm để cất cánh trở thành thơ ca và truyện ngắn, trong đó có những vần thơ bất hủ, và một số áng văn xuôi đẹp đẽ.

Gia cảnh Thâm Tâm rất cơ hàn, túng quẫn. Từ Hải Dương lên Hà Nội (1938), kéo theo cả nhà gồm cha mẹ già, hai người chị cùng bốn đứa em còn nhỏ và người vợ, có đến cả chục miệng ăn như tằm ăn rỗi. Ngần ấy người dồn ép vào sống trong một căn nhà thuê tháng rộng khoảng chừng hai chục mét vuông. Thâm Tâm nhận việc đóng sách cho nhà in Mai Lĩnh rồi mang về cho cả gia đình làm, còn riêng mình thì đi vẽ tranh minh hoạ cho các báo, làm thơ, viết truyện, viết kịch, viết tạp văn…gửi đăng các báo vừa để sinh nhai, vừa thoả cái mộng văn chương hằng ấp ủ. Có nghĩa là ông viết cật lực, chẳng kén chọn gì lắm về đề tài, thể loại, nơi in… Nhà văn Vũ Bằng kể lại: Khi đương giữ chân thư ký toà soạn cho tờ Tiểu thuyết thứ bẩy quãng năm 1941- 1943, ông thấy gia cảnh bạn mình túng thiếu, nên thường ưu tiên cho đăng của Thâm Tâm hai bài trong một số (hoặc một truyện, một thơ, hoặc một truyện, một kịch với hai bút danh: Thâm Tâm và Tuấn Trình) để bạn mình có chút đỉnh nhuận bút. Bây giờ nếu ai có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với tờ Tiểu thuyết thứ bẩy vào quãng thời gian này sẽ thấy liên tục trên các số báo có tác phẩm của Thâm Tâm với hai bút danh như vậy. Ngoài ra ông còn viết cho Truyền bá, Phổ thông bán nguyệt san (cũng của nhà Tân Dân), Tiểu thuyết thứ năm của Lê Tràng Kiều (chủ bút) và một số báo khác. Tính sơ bộ trong tài liệu mà chúng tôi sưu tầm được, ông có hàng chục bài thơ, 70 cái truyện ngắn truyện dài, trên chục vở kịch, một số tạp văn… ra đời trong quãng thời gian này. Có thể khẳng định rằng cái động cơ thôi thúc Thâm Tâm viết được nhiều như vậy chủ yếu thuộc về lý do mưu sinh, viết văn để kiếm sống, để phụ giúp vào một gia đình mà lúc nào cũng có nguy cơ đứt bữa.

Có thể ai đó sẽ cho rằng cách giải thích này không được “thơ” cho lắm, nhưng quả thật như thế (Cơm áo không đùa với khách thơ)! Mà chẳng cứ gì Thâm Tâm. Nhiều nhà văn nhà thơ ưu tú của chúng ta thời đó vướng vào nghiệp văn chương, cũng đã từng lận đận mưu sinh bằng ngòi bút. Kể từ bậc “trưởng lão” Tản Đà, cho đến Ngô Tất Tố, Lê Văn Trương, Lan Khai, Thạch Lam, Nam Cao, Tô Hoài và rất nhiều nhà văn khác. Vũ Trọng Phụng chẳng đã từng vừa ôm ngực vừa ho vừa viết, viết đến lao lực rồi chết đó sao.

Mà đã viết mưu sinh thì không thể không chạy theo số lượng. Tác phẩm được in ấn càng nhiều, thì cái nồi cơm trong mỗi bữa lại càng đầy, trong bữa ăn mọi người đỡ phải trông nồi ý tứ nhường nhau, mới dám nhìn thẳng vào mặt nhau một cách tự nhiên, thành thực. Chẳng may trong nhà có ai ốm đau, con cái có đứa nào sài đẹn mới có cái để chạy thuốc men cho đỡ tủi.

Tuy nhiên, ở những nhà văn có tài, trong số các văn phẩm ít nhiều chạy theo số lượng ấy vẫn có những tác phẩm đỉnh cao như thường. Vâng, phải có tài, người có tài thì ngay cả khi viết trong một điều kiện ngặt nghèo nhất, hoặc viết chạy theo một mục đích sát sườn nhất thì các trang viết vẫn cứ có thể lấp lánh như thường.

Tống biệt hành của Thâm Tâm là một thi phẩm thuộc vào hàng đỉnh cao sáng giá như vậy. Xin kể lại một kỷ niệm thời còn học đại học vào quãng những năm sau ngày giải phóng miền Nam 1975, lúc bấy giờ hầu hết Thơ Mới đang còn bị định kiến, bị hiểu lầm. Cho nên trong giới sinh viên, ai biết được bài nào liền thì thụt đọc hoặc chép cho nhau, vì thế nên có tình trạng tam sao thất bản. Riêng với bài Tống biệt hành, lứa sinh viên bọn tôi chỉ biết có bốn câu đầu. Vì là thể hành, nên đoán chắc bài thơ sẽ còn dài nữa, nhưng chẳng mấy ai biết phần tiếp theo là như thế nào, mà hỏi thầy thì không dám. Thôi thì đành ngâm nga bốn câu thơ đầu:

Đưa người, ta không đưa qua sông

Sao có tiếng sóng ở trong lòng?

Bóng chiều không thắm không vàng vọt

Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?

Phải thừa nhận rằng bốn câu mở đầu này có một sức quyến rũ mê người. Và hầu hết trong số chúng tôi đều coi mấy câu thơ ấy viết về tình yêu, viết về cuộc tiễn biệt của trai gái yêu nhau nào đó. Bảo là nỗi buồn nặng trĩu trong lòng đôi người yêu nhau kẻ đi người ở có gì là sai đâu. Chúng tôi lại còn ngâm nga, thậm chí viết tặng vào sổ tay bạn gái như một gửi gắm vu vơ. Sau này, khi định kiến đối với Thơ Mới dần được gỡ bỏ, tư liệu về Thơ Mới được công bố công khai, rộng rãi, mới biết rằng không phải như thế. Hoá ra bài thơ là câu chuyện và tâm sự của hai người đàn ông tráng chí nặng tình tiễn biệt nhau, một ở lại một lên đường vì chí lớn.Thậm chí lại có tư liệu cho biết nhà thơ Thâm Tâm viết tặng cho một người bạn hoạt động bí mật trong tổ chức cách mạng nhân lần tiễn bạn đi chiến khu chiến đấu(1). Tuy nhiên, không vì thế mà ý nghĩa bài thơ bị bó hẹp vào một cách giải thích cụ thể nào, hoặc vẻ đẹp của nó bị suy giảm. Bài thơ đã được đưa vào trong chương trình văn THPT. Bài thơ đã gây ra những thảo luận, tranh luận sôi nổi một dạo. Có những cách hiểu khác nhau ít nhiều, điều này càng chứng tỏ tầm vóc của thi phẩm. Một tác phẩm hay, nó không chịu nằm yên trong một cách hiểu duy nhất nào, mà nó luôn muốn vượt thoát để đến với tất thảy mọi người, thuộc về mọi người. Như hương của một loài hoa quý, nó dâng tặng mọi người, nhưng hễ ai có ý định “nhốt” mùi hương lại đều cảm thấy ít nhiều thất bại. Với bài thơ bất hủ này, nhà văn Vũ Bằng, một người bạn đàn anh của Thâm Tâm đã tặng Thâm Tâm một thi hiệu nghe lạ lạ và thú vị: Nhà phù thuỷ hô sóng vào lòng và gọi hoàng hôn lên mắt(2).

Cũng lại Vũ Bằng, ông bảo Thâm Tâm là một người ốm yếu mà can đảm(3), ý muốn nói thân hình Thâm Tâm thì nhỏ bé, da hơi đen, hơi gầy, ít nói, mà làm thơ viết văn thì hay nói đến cái tráng chí, cái hùng khí của con người. Quả thật, trong thơ của Thâm Tâm, thấy ông nói rất nhiều về niềm sầu hận, có khi trực tiếp, có khi xa gần gián tiếp:

Tan tiệc quần anh, người nuốt giận

Thằng bó văn chương đôi gối hận

Chán ngắt gia tình sầu ngất ngất

Già teo thân thế hận mang mang

Tro tàn có đốt không hồng nữa

Thắt lạnh bên lòng nỗi hận thương

Lòng ai bầm tím, ai buồn tối

Cũng tại rừng đời lạc lối ra

Sầu hận là một trạng thái tâm lý chỉ có đến giai đoạn cuối của phong trào Thơ Mới mới xuất hiện, nghĩa là vào quãng từ 1940 trở đi. Trước đó chỉ có thấy sầu mộng (Lưu Trọng Lư, Thế Lữ…), sầu đơn, sầu tủi, u sầu (Xuân Diệu, Nguyễn Bính…). Những nỗi sầu đó về cơ bản vẫn không nằm ngoài một chữ tình. Vượt ra khỏi chữ tình một chút, với Huy Cận, lại là vũ trụ sầu. Đến thời này, sự bế tắc của đời sống cá nhân nghệ sĩ đã lên đến tột đỉnh. Vũ Hoàng Chương phải kêu lên: Lũ chúng ta lạc loài dăm bảy đứa- Bị quê hương ruồng bỏ, giống nòi khinh. Trần Huyền Trân thì: Kinh thành mây đỏ như son- Cái lồng eo hẹp giam con chim trời. Đến Nguyễn Bính, cũng đã chán cảnh “giang hồ vặt”: Đất khách cùng đường ta khóc ta. Ngay cả Xuân Diệu của những năm 42-43 khi đang lưu lạc ở Mỹ Tho cũng đã bắt đầu thấy nhắc đến hai chữ “sầu hận”: Ngủ đi, ngủ đi, sầu hận muôn năm (Riêng tây)…Nếu như các trạng thái sầu trên kia có nguyên do trực tiếp từ tâm tình cá nhân thì đến sầu hận, nguyên do lại bắt nguồn từ thời thế, từ những vang động xã hội. Một câu hỏi trực diện đặt ra cho bất cứ người nghệ sĩ nào lúc này là: Đi về đâu? Câu hỏi đó lập tức bắt người nghệ sĩ phải đối mặt với thời cuộc. Đi tìm giải pháp cho cách thế tồn tại của cuộc đời, mỗi người lựa chọn theo những cách khác nhau. Có người vùi mình vào những hưởng thụ cá nhân, nên bế tắc lại càng bế tắc. Có người nỗ lực tìm đường đổi thay số phận, không chịu bị cuộc sống đè bẹp. Trong những nỗ lực cảm động đó, có Thâm Tâm. Thơ ca cũng như văn xuôi của Thâm Tâm có khá nhiều tác phẩm trình bày hình ảnh người ra đi. Người ra đi này thường được đặt trong tình huống tống biệt, chia ly. Thông thường người ra đi là một người mang sầu hận, ôm chí lớn, và bữa rượu tiễn biệt đều có những nhân vật mang dáng dấp trượng phu hoặc chiến binh thời trung đại. Uống rượu thì phải ném vỡ tan chén rượu, phải tỏ chí ngang tàng, lắm khi nói lời thề thốt:

            – Thở phù hơi rượu đua tranh

Quăng tay chén khói tan thành trời mưa

– Ly khách! Ly khách! Con đường nhỏ

Chí lớn chưa về bàn tay không

Có người rắp tâm ôm chí lớn nhưng không thành, quyết nuôi chí phục thù. Hình ảnh Huyền Sinh trong truyện ngắn Lá quạt hoa quỳ là một người như vậy. Chí lớn không có cơ thực hiện, người yêu bị Quỷ vương chiếm đoạt, chàng tưởng như lâm vào tuyệt vọng. Chàng giả điên để chờ thời. Người điên này chiều chiều thả vào trời đất tiếng sáo ai oán của mình. Thế rồi một hôm, một người có dáng trượng phu đến gặp rủ đi. Từ bấy chàng điên mất tích. Chàng đã lên đường. Đó là một hình ảnh ẩn dụ, nhuốm mầu bi tráng.

Tất cả những điều đó nói với chúng ta rằng Thâm Tâm thuộc trong số không nhiều các nhà văn có khí cốt mạnh mẽ lúc bấy giờ. Họ không thích kêu rên, than khóc. Cũng không muốn chết chìm vào trong những khoái thú cá nhân. Họ muốn đổi thay, muốn lên đường. Dòng huyết mạch chảy mạnh mẽ trong cơ thể họ. Quả tim trẻ tuổi đang đập rộn trong lồng ngực họ. Thơ của Thâm Tâm, Trần Huyền Trân có cái ngang tàng, khoẻ khoắn, dám đi “ngược gió” giữa đời. Sự thực là sầu hậnchí lớn đã tạo nên cái “chút bâng khuâng khó hiểu của thời đại” trong Tống biệt hành như Hoài Thanh đã từng cảm nhận. Tôi nghĩ rằng nếu nói lúc viết Tống biệt hành (1940-1941) Thâm Tâm đã đứng vào hàng ngũ hoạt động cách mạng thì e hơi sớm, nhưng bảo là Thâm Tâm đã cảm nhận được không khí sục sôi đang diễn ra từng ngày từng giờ của thời đại do những người cách mạng khởi xướng và lãnh đạo và đồng tình với nó thì chắc chắn là đã có. Cho nên, như một tất yếu, sau Cách mạng tháng Tám, Thâm Tâm rất sớm đi theo kháng chiến, đứng vào hàng ngũ những người cách mạng đánh đuổi kẻ thù xâm lược.

Nhưng nếu chỉ nói như thế không thôi, thì Thâm Tâm không đi xa hơn là mấy so với các nhà thơ trung đại. Cái điều làm cho Thâm Tâm trở thành điệu hồn Thơ Mới, Tống biệt hành trở thành thi phẩm Thơ Mới là ở chỗ: Nhà thơ đã thể hiện được một cách sâu sắc và thành thực đến cảm động cái mối giằng xé giữa con người tráng chí (con người tỏ mình trước cuộc đời) với con người tình nghĩa (con người vừa mang bổn phận hiếu đễ với gia đình, vừa thuận theo cái tình cảm tự nhiên mà ai cũng có với người thân, với bạn bè). Mối giằng xé này đã làm vọt ra những câu thơ đứng vào hàng tuyệt bút. Hãy thử lắng nghe xem đằng sau cái vẻ rất Kinh Kha kia là niềm day dứt, nỗi xót thương của một người nặng tình biết bao nhiêu, tưởng như những giọt nước mắt cố nén nay chực vỡ oà:

Người đi? Ừ nhỉ người đi thực!

Mẹ thà coi như chiếc lá bay,

Chị thà coi như là hạt bụi,

Em thà coi như hơi rượu say.

Bài thơ đã chạm vào nỗi lòng muôn thưở của kiếp người, thứ tấm lòng thuộc về nhân loại. Chính vì thế, bài thơ đã đi vào bất tử. Không có cái tôi Thơ Mới, các nhà thơ của chúng ta làm sao có thể đập vỡ được cái vỏ ước lệ thuộc về cái ta trung đại để bước vào cái tôi nhân văn phổ quát.

Như ta đã biết, sau này Thâm Tâm đi theo kháng chiến. Ông là thư ký Toà soạn báo Vệ quốc quân (tiền thân của báo Quân đội nhân dân ngày nay) có trụ sở đóng tại vùng căn cứ kháng chiến thuộc tỉnh Cao Bằng. Theo các tài liệu trong hồi ức của bạn bè đồng chí, Thâm Tâm là một người làm báo tận tuỵ, rất có trách nhiệm trước công việc, trước bạn đọc. Chỉ một cái địa danh in sai trên bản in thử mà ông đã băng rừng gần chục cây số qua suối lũ, hổ rừng đe doạ để sửa(4). Ông mất vì bệnh sốt rét rừng. Cũng là do làm việc quá sức, ăn uống kham khổ, lại khí hậu khắc nghiệt mà ra cả. Đồng đội ông kể lại rằng khi phát hiện ra Thâm Tâm bị ốm thì đã vội cáng nhà thơ về trạm xá của đơn vị cách chừng một ngày đường đi bộ để điều trị, tiếc thay trên đường nhà thơ đã lặng lẽ tắt thở, không kịp trăng trối điều gì. Lúc ấy vào rạng sáng một ngày thu sương trên núi rừng Việt Bắc – 18.8.1950.

Người viết bài này đã cùng thân nhân gia đình Thâm Tâm và một số nhà văn nhà thơ khác của tỉnh Cao Bằng cất công đi tìm mộ nhà thơ Thâm Tâm. Thật kỳ công. Khung cảnh nơi đây đã khác hẳn. Năm mươi năm vật đổi sao dời. Khi xác định được đúng ngôi mộ rồi, thì hài cốt nhà thơ đã dược bốc dỡ, di dời về Nghĩa trang liệt sĩ huyện Quảng Uyên. Nhưng tiếc thay, về tới đây, khi chưa kịp gắn bia mộ, sơ đồ mộ chí còn trong túi hồ sơ, thì chẳng may trong vụ tháng 2-1979, hồ sơ bị những kẻ ngoại bang đốt sạch. Vậy là ngôi mộ Thâm Tâm hiện giờ không rõ đích xác ngôi mộ nào, nhưng chỉ biết chắc chắn là đã có mặt trong các hàng mộ liệt sĩ vô danh tại Nghĩa trang Quảng Uyên. Tên Anh đã hòa cùng tên Đất Nước.

Khi Thâm Tâm mất, hành trang chẳng có gì. Sau này gia đình nhà thơ được đơn vị trao lại một chiếc ba lô, trong đó còn một vài thứ gồm mấy trang ghi chép có tính chất nhật ký, cuốn Đại đội Kim Sơn của tác giả mới in, một bài tham luận tại Đại hội văn nghệ, sáu bức ảnh chụp hình nhà thơ và các bạn văn nghệ kháng chiến, một chiếc bút máy và một cái thìa nhỏ. Tất cả chỉ có thế. Bà quả phụ Thâm Tâm lâu nay vẫn đặt chiếc thìa nhỏ đó lên ban thờ linh hồn Thâm Tâm, như một kỷ vật thân thương duy nhất còn giữ được.

Tuy nhiên, còn có một thứ hành trang vô giá mà Thâm Tâm để lại đó là các áng văn thơ. Ông viết không phải là nhiều. Cũng không thể nói đó là một sự nghiệp đồ sộ. Nhưng lạ lùng thay, văn chương không phục tùng quy luật của số lượng, mà chỉ tuân theo quy luật về chất. Với Tống biệt hành, với vài ba truyện ngắn, thí dụ như Thuốc mê chẳng hạn, Thâm Tâm vĩnh viễn có chỗ đứng riêng trong nền văn chương dân tộc.

Núi rừng Việt Bắc, con người Việt Bắc cùng Đất Nước đã tiễn đưa Thâm Tâm vào cõi mây trời cách đây năm mươi năm có lẻ. Cuộc tống biệt này không có ngày đoàn tụ. Mỗi khi nhớ về ông, bỗng lại có sương khói hoàng hôn và những gợn sóng lòng ba động.

Cự Lộc ngày 30 tháng Tư, 2004.
Văn Giá

(1) Theo tài liệu của ông Hoài Việt, trong bài Thêm một chút tư liệu về bài Tống biệt hành, in trong Thâm Tâm và T.T.Kh, Nxb Văn học, 1997

(2), (3) Xem thêm trong bài Thâm Tâm: Nhà phù thuỷ hô sóng vào lòng và gọi hoàng hôn lên mắt, in trong Vũ Bằng- Mười chín chân dung nhà văn cùng thời (Văn Giá sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu), Nxb ĐHQG- Trung tâm Văn hoá và Ngôn ngữ Đông Tây, 2002.

(4) Xem bài Những phút cuối cùng của Thâm Tâm của nhà báo Trúc Kỳ, in trong Thâm Tâm và T.T.Kh (Sđd).
Nguồn: Thâm Tâm một thời và mãi mãi – Viết văn

Tìm mộ Thâm Tâm – Nguyễn Đức Mậu

Hơn bốn mươi năm chưa tìm ra phần mộ
Hài cốt nhà thơ lạc ở nơi nào
Tôi hỏi núi, núi thắt vòng tang trắng
Tôi hỏi gió, gió rối bời lau xám.
Hơn bốn mươi năm, cây mục đá mềm
Xương thịt con người lẫn vào cỏ dại
Tôi mong tìm một vuông đất có tên riêng.
Một vuông đất không dòng tên gửi lại
Người đắp mộ Thâm Tâm, giờ cũng không còn.
Tên tuổi nhà thơ lẫn vào tên người Vệ quốc
Ông chết bình thường như bao người khác
Bệnh sốt rừng cướp mất một nhà thơ
Một vuông đất nếu như dưới đó
Có cuốn sổ tay chép những dòng thơ tản mạn dọc đường
Ông viết giữa cơn đói lạc rừng, trong mê man cơn sốt
Những dòng thơ nào ai tìm được
Hơn bốn mươi năm thơ hóa cỏ xanh rồi
Chết theo nhà thơ câu thơ bản nháp
Còn lại những câu thơ khắc vào trái tim người.
Thâm Tâm hỡi, Tống biệt hành tôi đọc
Người đi, ừ nhỉ, người đi thật!
Nhưng đâu ngờ, thân xác lạc rừng sâu
Một vuông đất tôi mong tìm chưa gặp
Nén hương trầm biết cắm vào đâu
Và hoa nữa, bó hoa rừng ngan ngát
Trên tay tôi, hoa khóc hoa sầu
Thôi thì thắp hương nơi đầu gió
Thôi thì đặt hoa bên tảng đá
Nơi cây rừng chập chờn ảo giác
Mắt nhòa đi nhoi nhói trái tim mình.

(trích trong tập Cánh rừng nhiều đom đóm bay)

Ly khách chưa về – Nguyễn Vũ Tiềm

Hoàng hôn màu tiễn đưa
thấy sóng, không thấy nước
đường nhỏ, chí lớn chờ
gập ghềnh một ly khách…

Bước chân vô định hay về đâu?
Bảo mẹ đừng mong làm sao được
ly khách ven trời còn muốn khóc
tiếng đời xô động dễ câm sao!

Gặp anh chiều mưa đường số 5
cùng đoàn du kích, rét căm căm
thoắt đã hoàng hôn xây mộ chí
bia tạc vào mây: Tống biệt hành.

Những phút cuối cùng của Thâm Tâm – Trúc Kỳ

Thu Đông 1950, sau mấy tháng đi theo Trung đoàn 209, tôi đang náo nức chuẩn bị cùng bộ đội hành quân tham gia chiến dịch Biên giới thì nhận được điện ở nhà gọi về gấp nhận nhiệm vụ mới. Lần theo địa chỉ ghi trong bức điện, tôi đi một mạch mấy ngày liền không nghỉ để nhanh chóng về tới nơi xem có việc gì khẩn cấp đến thế. Chỗ ở mới của cơ quan tôi là một bản nhỏ của đồng bào Nùng ở chân đèo Mã Phục, gần thị trấn An Lại, cách thị xã Cao Bằng khoảng mười tám kilômét về phía Bắc.
Anh Trương Công Cẩn lúc đó là Trưởng ban tuyên truyền Mặt trận biên giới đang ở nhà làm thường trực cơ quan. Thấy tôi về anh mừng rỡ:- Cậu đã về đấy ư, tốt quá!
Sau khi hỏi thăm tôi về tình hình học tập, công tác, sức khỏe, đi đường…. anh nói ngay: – Thâm Tâm ở ngoài kia đang bị ốm. Nhà chẳng còn ai, đi các mặt trận hết cả. Phải điện gấp cho cậu về ra thay cậu ấy.
Chiến dịch sắp bắt đầu rồi. Tôi ngủ lại một đêm nơi anh Cẩn để lấy sức. Sớm hôm sau tôi lên đường từ lúc còn tinh mơ. Anh Cẩn đưa cho tôi địa chỉ của Thâm Tâm và căn dặn:- Nếu Thâm Tâm nặng quá thì cậu cho cáng ngay về đây. Ngoài đó khi ta nổ súng địch tất sẽ ném bom dữ dội, cậu ấy sẽ khó được an toàn, mà cậu cũng sẽ không thể yên tâm làm việc được.
Tôi chào anh, ra khỏi bàn, lượn quanh mấy sườn đồi rồi cứ theo đường cái lớn mà đi. Tới chỗ Thâm Tâm còn phải đi trên ba mươi km nữa. Chiến dịch đang được chuẩn bị rất khẩn trương. Bộ đội và dân công ngược xuôi hối hả. Lừa ngựa, rồi xe vận tải, xe kéo pháo… ùn ùn chảy như một dòng suối. Chưa bao giờ đường ra mặt trận lại nhộn nhịp như lần này. Đường dài đối với tôi như được rút ngắn lại, đôi chân như càng đi càng dẻo thêm ra.
Khoảng bốn giờ chiều tôi tới nơi Thâm Tâm ở. Đó là bản Piềng, một bản ở sát núi đá, trên con đường từ Phục Hòa đi Thủy Khẩu. Thâm Tâm được điều ra đây để làm tờ báo của Mặt trận Cao Lạng. Tòa soạn mới có anh và một chú liên lạc. Theo kế hoạch thì hai anh em sẽ cùng ăn ở với bộ phận ấn loát có mười hai người được tách từ nhà in quân đội lên đây phục vụ chiến dịch. Bộ phận này có nhiệm vụ in tờ báo và tất cả các tài liệu tuyên truyền của mặt trận. Do phải mang nặng máy móc và các phương tiện ấn loát cồng kềnh, đường lại quá xa, nhiều đoạn lầy lội và đèo dốc khó đi nên anh em không đến kịp hẹn. Khi Thâm Tâm và chú liên lạc tới địa điểm thì mới có một tổ tiền trạm hai người của nhà in đang làm nhiệm vụ liên hệ với địa phương để sắp xếp trước chỗ ăn chỗ ở và nơi làm việc cho anh em. Thâm Tâm và chú liên lạc được tổ phân về một nhà trong bản. Nhưng khi tôi tìm vào nhà đó thì không thấy hai người ở đâu. Hỏi ra mới được biết hai anh em mới chuyển ra một cái lán nhỏ gần bìa rừng sau bản.
Tôi lần theo một đường mòn tới một cái lán thóc ở cách nhà dân chừng hai trăm mét. Lán được làm theo kiểu nhà sàn nhưng nhỏ hơn và rất vuông vắn. Sàn lán là một tấm phên vuông đan bằng nứa đập dập, trông như một chiếc chiếu cực dày, mỗi bề chừng ba mét. Bốn bề lán không có phên thưng, trống huếch trống hoác, lộng gió như ở ngoài đồng. Giữa sàn có một chiếc màn cá nhân còn buông thõng, bên trong có một người đang nằm, chăn trùm kín mít. Tôi đang ngó tìm chú liên lạc và tự hỏi sao Thâm Tâm lại chuyển ra một chỗ heo hút và trống trải như thế này thì chú liên lạc từ đâu đã chạy về, mang theo một cà mèn cháo. Chú reo to:
– Trời ơi, anh đến lúc nào thế? Em phải vào bản nấu cháo, ở ngoài này không có nồi cũng không có bếp.
Chừng như đoán được thắc mắc của tôi, chú tiếp ngay:
– Anh Thâm Tâm bị nặng quá, sốt li bì mấy hôm rồi. Dân sợ anh ấy chết, cái ma nó về bắt mất người trong bản nên không cho anh ấy ở trong nhà nữa. Em phải đưa tạm anh ấy ra ngoài này, không còn biết làm thế nào. Anh xem có cách nào hơn không, em cũng thấy không thể để thế này được.
Tiếng nói của chú liên lạc làm cho Thâm Tâm chợt tỉnh. Anh cố vén màn thò cổ ra ngoài và nhìn thấy tôi. Anh nói:
– Trúc Kỳ đã về đấy ư? Mình mong cậu nhiều lắm!
Chợt thấy mặt anh và nghe anh nói thều thào, tôi giật mình sững sờ cả người. Chao ôi, người hỏi tôi đấy là Thâm Tâm thật ư? Sao anh có thể biến đổi mau chóng đến thế được? Tôi còn nhớ rõ, mới hôm đầu năm, sau buổi liên hoan tiễn anh em tòa soạn đi công tác, anh nói riêng với tôi:
– Bọn mình đã thu xếp để cậu có thể đi dài ngày chuyến này được. Cậu sẽ đi theo trung đoàn anh Lê Trọng Tấn và anh Trần Độ, rồi về tham gia chiến dịch. Cậu cố gắng viết đều và viết nhiều gửi về nhé.
Giọng anh hồ hởi, mặt mày anh rạng rỡ. Mấy “chén quan hà”, như anh thường hay nói đùa với tôi, làm cho đôi má anh thêm hồng hào, người anh thêm trẻ ra.
Thế mà giờ đây, trước mặt tôi là một Thâm Tâm hoàn toàn khác. Đôi má hõm sâu làm cho khuôn mặt anh vốn đã gầy càng thêm gầy guộc. Da mặt anh vàng khè, đôi mắt anh càng vàng hơn dưới đôi quầng thâm xịt. Tiếng nói như của một người bị đứt hơi. Tôi quẳng vội ba lô xuống sàn nứa, ôm chầm lấy anh. Qua lần chăn mỏng, tôi thấy người anh chỉ những xương là xương. Và nóng, trời ơi, nóng như lửa đốt. Anh lắp bắp nói:
– Mình bại mất cậu ạ!
Tôi ghì chặt lấy anh, hối hả nói như muốn dập tắt ngay cái lời nói gở đó của anh:
– Không, cậu không thể bại được, thế nào cậu cũng khỏi!
Tôi nói át đi như vậy, cốt mong để anh đừng tuyệt vọng. Nhưng cứ nhìn đôi mắt anh như đã lạc đi, nghe giọng nói của anh bắt đầu ngọng, chính tôi cũng thấy lo lắng vô cùng.Trong tình hình này, tôi thấy không thể nào để anh ở lại đây được, mà phải đưa ngay anh về chỗ anh Cẩn, nơi đó có nhiều điều kiện và phương tiện chữa chạy cho anh hơn.Tôi buông anh ra, bảo chú liên lạc thu xếp đồ đạc cho anh, và chạy vội đi tìm tổ tiền trạm đề nghị liên hệ với địa phương xin hai dân quân tới cáng Thâm Tâm về An Lại.
Chỉ nửa tiếng sau, hai thanh niên trong bản mang cáng tới. Tôi trải chăn chiếu lên cáng rồi bế Thâm Tâm đặt vào. Lòng tôi bỗng thắt lại: Thâm Tâm của tôi nhẹ bỗng như một dúm bông, đôi mắt lờ đờ nửa tỉnh nửa mê. Tôi đắp lên mình anh một chiếc chăn dày, trùm kín chỉ để hở một chút đủ để anh thở. Màn anh được vắt lên đòn khiêng, hai bên buông xuống phủ kín cả cáng. Trên cùng là một miếng vải láng nhựa cao su để cho sương đêm không lọt được vào màn.
Chúng tôi rời bản Piềng lúc mặt trời đã khuất sau những dãy núi cao. Ai cũng rảo bước như muốn cướp thời gian. Hai dân quân muốn chóng xong việc, được trở về nhanh để kịp gặt, tôi muốn Thâm Tâm được cáng thật nhanh về nơi chữa chạy. Qua quãng đường quanh co lên dốc xuống dốc đi ra khỏi bản, chúng tôi tới đường cái đá phẳng phiu rộng rãi. Đường ra mặt trận vẫn nhộn nhịp. Nhưng tôi không còn bụng dạ nào để ý tới mọi vật chuyển động chung quanh mà chỉ chú trọng tới người trong cáng, người anh em cùng một chiến hào đang thập tử nhất sinh.

** *

Tính đến Thu Đông 1950, tôi mới sống với Thâm Tâm chưa đầy bốn năm. Thời gian không dài nhưng đã để lại trong tôi nhiều kỷ niệm không thể nào quên về anh. Đó là những năm đời lính xa nhà, cùng ăn ở và làm việc với nhau, vui buồn có nhau, lại trải qua những ngày kháng chiến đầy gian khổ trên núi rừng Việt Bắc.Tôi về công tác với anh ở báo Vệ quốc quân khi tòa soạn vừa mới chuyển về bản Púc thuộc huyện Định Hóa (Thái Nguyên) và đang chuẩn bị ra số 4. Không kể anh Trần Độ là Chủ nhiệm, tòa soạn lúc đó mới có sáu người, đều ở và làm việc nhờ nhà dân. Hai họa sĩ – anh Mai Văn Hiến và anh Dương Bích Liên – ở một nhà. Bốn anh em làm công tác biên tập ở một nhà rộng hơn, gồm có các anh Nguyễn Công Hoan, Thâm Tâm, Thôi Hữu và tôi. Trong bốn anh em, tôi là “út” về tuổi đời và càng là “út” về tuổi nghề. Trước ngày toàn quốc kháng chiến, ba anh đã là những nhà văn, nhà thơ được nhiều người biết đến, còn tôi vẫn là một cậu học trò.Người trực tiếp hướng dẫn tôi và giao việc cho tôi là Thâm Tâm.Nhắc đến anh, tôi không thể nào quên được hình ảnh một người nhỏ bé, mặc một bộ đồ đen ngồi thu lu, đầu cúi xuống, trước một cái bàn tự tạo bằng một tấm ván treo thấp, đang chăm chú đọc một quyển sách hoặc viết một bài gì bằng một cái bút máy rất đặc biệt, nó béo trục béo tròn và ngắn ngủn không nhô được khỏi nắm tay anh. Trừ những ngày nghỉ hoặc đi công tác, bao giờ anh cũng ngày hai buổi ngồi làm việc nghiêm túc ở đó, ít nói ít cười.

** *

Tôi đang say sưa trở lại với những ngày đã qua, bỗng có tiếng làm tôi sực tỉnh:
– Nghỉ tí đã, đồng chí à.
Tôi nhìn ra: trước mặt tôi là một dãy phố dài, đèn thắp sáng cả một vùng. Bóng người đông đúc qua lại, tiếng nói lao xao. Hồi đó máy bay địch chỉ hoạt động ban ngày, chưa dám đánh đêm, nhất là ở các thung lũng có núi đá cao chung quanh như ở đây. Cho nên phố phường đường sá ban đêm thuộc về ta. Tôi nhận ra đây là Quảng Uyên. Thế là chúng tôi đã đi được quá nửa đường. Hai dân quân tiến nhanh vào phố, đặt cáng trước một quán nước rồi ngồi hút thuốc lào. Tôi cũng thấm mệt, đặt ba lô xuống đất, sát vào cáng và đưa tay vào màn, sờ lên trán . Tôi mừng quá: Anh đã mát nhiều, tiếng thở nghe đều đều. Tôi hỏi:
– Anh thấy đỡ nhiều không?
Anh không trả lời vào câu hỏi của tôi, mà nói:
– Có cà phê phải không cậu? Cho mình một tách.
Đúng là có cà phê thật. Mùi cà phê từ một quán giải khát ở đầu phố tỏa rộng ra không gian bao quanh, thơm ngậy và đầy quyến rũ. Sao ở một thị trấn nhỏ heo hút vùng biên giới lại có thứ hàng cao cấp này? Tôi hiểu ra ngay: Quảng Uyên nằm giữa cánh đồng Ba Châu, có đường đi Trùng Khánh rồi sang Trung Quốc, có đường về An Lại và vào thị xã Cao Bằng lại có đường đi Phục Hòa rồi sang Thủy Khẩu, người xuôi ngược buôn bán đông vui….
Trong mấy năm ở với Thâm Tâm tôi thấy anh không phải là người nghiện rượu, thuốc lá hay cà phê, nhưng cũng biết anh rất sành thưởng thức các thứ đó. Rượu anh uống phải là thứ rượu cất bằng gạo nếp, vừa êm vừa ngọt giọng. Thuốc lá anh ưa hút tẩu hơn hút điếu. Mùi cà phê dậy lên từ một quán nhỏ bên đường đêm nay có lẽ đã làm sống lại trong anh chút thèm muốn hưởng thụ nhỏ nhoi mà anh đã cố quên đi trong mấy năm qua. Dưới ánh đèn của quán nước, tôi thấy hai cánh mũi anh cố hít hít phập phồng. Tôi chạy vội tới quán giải khát mua cà phê, chọn thứ thật ngon, tự tay pha lấy rồi đưa về cho anh. Tôi lấy balô kề sát vào lưng anh, để anh ngồi hơi ngả về phía sau, đưa anh tách cà phê còn bốc khói và thơm lừng. Có thấy được hai tay anh run run cầm tách, đôi môi mấp máy, đầu lưỡi đưa ra đón từng giọt cà phê và giữ lại trong mồm không nuốt vội, mới thấy niềm say sưa thưởng thức của anh. Tôi cứ ngồi đỡ lấy anh, nhìn anh nhấm nháp ngon lành cho tới khi hết tách cà phê. Tôi lấy ra châm một điếu thuốc và tẩm một ít cà phê còn sót lại trong tách, theo như anh vẫn thích làm, rồi đặt vào môi anh. Buông màn xuống cho anh xong, tôi mời hai đồng chí dân quân đi ăn phở, vì chúng tôi đều đã đói ngấu. Phở ở đây không giống phở dưới xuôi, mà làm bằng bánh đa phơi khô thái thành sợi to, gọi là bánh cao, đem chần, thêm thịt xà xíu, gan, dạ dày lợn và khoai môn thái chỉ rán giòn, trộn với nước mắm, dấm chua, dưa chuột thái vát và lạc rang để cả vỏ lụa giã dập đôi dập ba. Thứ phở này được gọi ở đây là lòng-pàn, ăn lạ miệng cũng ngon. Ăn phở xong, tôi mua về cho Thâm Tâm một bát cháo gà. Anh chỉ húp được ba bốn thìa rồi đòi nằm. Tôi đỡ anh xuống, đắp lại chăn, giắt lại màn cho anh.
Chúng tôi lại lên đường. Đã quá nửa đêm, thưa thớt người qua lại. Trời thu đầy sao. Gió thổi nhẹ. Lúa chín tỏa hương ngào ngạt. Tôi rảo bước, lòng tràn ngập một niềm vui. Thâm Tâm đã đỡ sốt, tỉnh hơn, đòi uống cà phê. Về An Lại được điều trị tốt hơn, chắc chắn anh sẽ mau khỏi. Rất có thể anh sẽ trở lại làm việc bình thường, tôi có thể lại được đi… Những ý nghĩ ấy thôi thúc tôi đi nhanh, mau chóng rút ngắn quãng đường còn lại. Hai đồng chí dân quân cũng không nói gì, lặng lẽ bước. Chẳng bao lâu trên đường dần dần có người qua lại, mỗi lúc một đông, tiếng cười nói râm ran, gọi nhau ý ới. Tiếng vó ngựa thồ hàng nặng nhọc nện trên đường đá. Từ những bản làng hai bên đường, tiếng gà gáy rộ lên, tiếp nối nhau vang mãi xa xa. Rồi thấp thoáng có ánh đèn trước mặt.
– An Lại kia rồi!
Tôi bảo hai đồng chí dân quân hãy dừng lại, rồi quay người, định hướng và tìm lối. Đây rồi, con đường đất đỏ lượn giữa hai thửa ruộng lúa chín đã đổ nghiêng tôi vừa đi sớm qua. Từ đây vào bản chỉ còn chừng ba kilômét nữa. Đường tương đối dễ đi. Tôi quay lại bảo hai đồng chí dân quân tiếp tục cáng theo tôi rồi rảo bước định chạy về cơ quan báo tin trước cho anh Cẩn.
Nhưng hai đồng chí gọi giật tôi lại một cách hoảng hốt. Tôi rụng rời chân tay, sao lại có thể thế được? Tôi không tin lời nói đó là thật, luồn tay qua chăn, sờ vào người Thâm Tâm. Trời ơi toàn thân anh đã lạnh toát, tim anh đã ngừng đập từ bao giờ. Anh đã đi thật rồi.
Lúc đến Quảng Uyên, thấy anh đã tỉnh, tôi những tưởng anh dần dần sẽ qua khỏi, có ai ngờ đâu đó chỉ là cái chớp lóe lên của một ngọn đèn sắp tắt.Tôi còn trong cơn bàng hoàng thì nghe tiếng hỏi:
– Có đi nữa không, hay để lại ở đây?
Tôi giật mình lo lắng: đưa người chết vào bản có được hay không? Phong tục đồng bào trên này rất khắt khe. Thâm Tâm còn đang ốm đã phải rời khỏi nhà ra ở ngoài bìa rừng. Bây giờ anh đã chết rồi, ai còn cho cáng vào nhà? Nhưng có thể nào lại để anh ở giữa đường cái thế này? Suy nghĩ mãi, tôi thấy đường từ đây về cơ quan cũng còn mấy kilômét nữa, cứ để hai đồng chí cáng tiếp, về gần tới nơi rồi sẽ liệu sau.Tôi vuốt mắt cho Thâm Tâm rồi tiếp tục cho cáng anh về. Khi gần tới nơi, tôi bảo dừng cáng bên vệ đường rồi chạy nhanh về báo cáo anh Cẩn đánh thức một số anh em chủ chốt còn lại ở cơ quan, rồi hội ý chớp nhoáng. Tôi nhớ lúc đó có anh Nguyễn Công Hoan và anh Võ Bá Tải, phụ trách hành chính quản trị. Anh Tải kiêm việc liên hệ với địa phương, cho biết chủ nhà là bí thư chi bộ xã và là một người rất tiến bộ. Mọi người nhất trí giao cho anh Tải đi gặp ngay đồng chí bí thư để thăm dò ý kiến. Đồng chí bí thư đã dậy rất sớm và đang hái rau ngoài vườn trước nhà. Không biết hai người trao đổi với nhau như thế nào, nhưng chỉ mấy phút sau, anh Tải đã chạy về tươi tỉnh nói:
– Đồng chí bí thư đúng là người hiếm thấy. Đồng chí ấy bảo cứ đưa anh Thâm Tâm về nhà, đặt nằm trên sàn và buông màn xuống, coi như anh đang ngủ. Đến sáng rõ mới loan tin chết.
Chúng tôi mừng thầm chạy vội ra đường để đưa Thâm Tâm về, đặt anh lên sàn và buông màn xuống. Mọi người tiếp tục công việc của mình như không có sự gì xảy ra. Người gấp chăn màn, người đi rửa mặt, đánh răng… Tôi cảm ơn hai đồng chí dân quân bản Piềng và tiễn hai đồng chí ra về.Người chủ nhà đã vượt ra ngoài những phong tục tập quán của bản làng, cho đưa người chết vào nhà mình, lại tháo cánh cửa của nhà mình và tự tay đóng quan tài cho một người anh không hề có họ hàng, cũng không hề có quen biết bao giờ. Chúng tôi khóc Thâm Tâm, lại khóc vì cảm động trước việc làm đầy tình đồng chí của anh mà cho tới bây giờ chúng tôi cũng không thể nào quên được, mặc dù từ bấy đến nay, bốn mươi hai năm đã trôi qua!
Chúng tôi mặc quần áo cho Thâm Tâm, nhìn mặt anh lần cuối cùng, bó chặt anh vào một tấm chăn mới, đặt vào quan tài rồi đậy nắp ván lên.
Lúc đó có hai người trong bản bước lên thang. Đây là hai thanh niên đã được đồng chí bí thư ngay sau khi hay tin Thâm Tâm chết, tới nhờ đi đào huyệt giúp. Nay huyệt đã đào xong, hai anh lại đến giúp đưa người chết ra đồng.
Chúng tôi xúm vào mỗi người một tay, khiêng Thâm Tâm xuống thang và đưa anh ra một bìa rừng cách bản chừng mấy trăm mét. Quãng đường không xa bao nhiêu, nhưng sao chúng tôi thấy nó dài vô tận. Người Thâm Tâm nhẹ bỗng, nhưng chân chúng tôi sao nặng trĩu, lê không nổi bước. Thương xót anh phải ra đi giữa lúc tuổi đời còn đang thanh xuân sung sức, lòng còn tràn đầy khát vọng về sáng tác, về một xã hội tốt đẹp trong tương lai. Thương xót anh phải ra đi lúc ở xa gia đình vợ con, xa hầu hết bạn bè thân thiết, ra đi lúc nào, không ai hay biết, không một lời trối trăng…
Có ai ngờ rằng chỉ mới hơn một tuần lễ thôi, cũng tại bản làng nơi đây, anh đã tay bắt mặt mừng gặp lại biết bao đồng nghiệp cùng anh hội họp đông đủ trước khi chia nhau đi xuống các đơn vị chiến đấu trên khắp chiến trường biên giới. Toàn anh em nhà báo nhà văn như Vũ Cao, Nam Cao, Nguyễn Huy Tưởng… người nào cũng hồ hởi và đầy tin tưởng, hứa với nhau và hứa với lòng mình cố gắng có những bài viết xứng tầm chiến dịch này. Anh em cũng nhớ mãi nét mặt tươi vui của anh. Anh dự định chuyến này sẽ viết, vì anh tin tưởng trận này ta nhất định thắng.
Ta đã thắng thật, thắng lớn chưa từng có kể từ ngày kháng chiến đến bây giờ. Nhưng anh đã phải nằm lại ở chân đèo Mã Phục này không kịp nhìn thấy ngày chiến thắng, không kịp gặp lại các bạn đồng nghiệp.
Đưa tang anh hôm ấy, chỉ có mấy đồng đội của anh và mấy đồng chí địa phương. Một đám tang không xe đòn, không hương nến, không một vành khăn trắng, cũng không cả một vòng hoa nhỏ.
Anh Cẩn đọc mấy lời điếu, tiếng nói chìm trong tiếng nấc. Anh em lau nước mắt, khóc không thành lời. Lặng lẽ mỗi người ném một hòn đất xuống mồ vĩnh biệt anh. Tiếng đất nện bùng bục trên nắp ván thiên, như tiếng nức nở, vang dội mãi vào lòng tôi.
9-1992
Nguồn: Văn Nghệ Quân Đội Bản vi tính trên blog của nhà văn Đỗ Bích Thúy

Đi tìm hai sắc hoa Ti gôn – Tân Linh

Thật hiếm thấy tác giả nào mà cuộc đời và thơ văn đã để lại câu chuyện như huyền thoại, khiến đau đầu bao thế hệ như Thâm Tâm. Suốt nửa thế kỷ qua, bí mật về nhà thơ và huyền thoại T.T.Kh. vẫn còn là một thách đố. Ông có phải là tác giả của những bài thơ đề tên ông? Một trong những bí mật về Thâm Tâm và bài thơ Hai sắc hoa Ti gôn gắn với tác giả T.T.Kh. được xem là một huyền thoại đẹp, làm ngẩn ngơ bạn đọc nhiều thế hệ. Người ta muốn biết T.T.Kh là ai, nam hay nữ, có tồn tại hay không tồn tại? Dẫu vậy vẫn chưa có một công trình khoa học nào thuyết phục, xác tín để khép lại vấn đề.

Mải đi tìm câu trả lời còn bỏ ngỏ, một ngày cuối năm, tôi chợt giật mình khi đọc được cuốn sách có tên là Huyền thoại hoa Ti gôn. Cuốn sách dày 650 trang, khổ lớn, đề cập một cách công phu về tác giả Tống biệt hành và nghi án văn chương gắn với tác giả T.T.Kh. Có thể nói, đây là lần đầu tiên có một tác giả đã trả lại cho Thâm Tâm gương mặt thật từng bị sương khói huyền thoại và uẩn khúc thời gian làm mờ đi cái tài hoa cùng những thất vọng trong cuộc đời và tình trường của ông…

Bằng phương pháp khoa học, Ngọc Thiên Hoa đã đi tìm sự thật qua muôn vàn tư liệu văn bản, để rồi phát hiện ra đâu là Chân-Giả trong câu chuyện dài bảy mươi hai năm chưa có hồi kết. Qua bút pháp, chất giọng thơ Thâm Tâm, đã hé lộ sự thật, như chính ông đã từng thú nhận lúc còn sống: Suốt từ năm 1937 đến 1939, chỉ có ba bài thơ chính thức của T.T.Kh do chính tôi sáng tác mà thôi: Hai sắc hoa Ti gôn; Bài thơ thứ nhất; Bài thơ cuối cùng. Ngoài ra, các bài như Đan áo cho chồng, ký T.T.Kh; bài Các anh hãy uống cho say, ký Thâm Tâm, đều do các bạn tôi tự soạn ra cả. Nếu kể hết thì nhiều lắm… (). Cuộc tình của Thâm Tâm và cô Trần Thị Khánh tan vỡ từ năm 1937. Đó là một tình yêu lãng mạn có thật giữa chàng thi sĩ nghèo và cô tiểu thư 17 tuổi xinh đẹp Hà thành tên T.T.Kh. Chỉ vì lễ giáo mà nàng phải thuận theo thầy mẹ, đành lấy người không yêu, một thương gia luống tuổi, để lại nỗi đau khổ, nhớ thương cho Thâm Tâm.

Thâm Tâm đến với thơ mới muộn màng với làn hơi cổ điển đậm nét phóng khoáng giang hồ, nhưng thoát ra khỏi bi phẫn để đến với cách mạng, mang hơi thở người chiến sĩ trên từng cây số lại chỉ ngắn ngủi hơn ba năm. Như vậy mười năm sống đời nghệ sĩ (1936-1945), với mối tình như hoa như hương dù đã chia cách, dù có cố quên đi, nhưng dư âm một cuộc tình vẫn chi phối hầu hết những sáng tác để đời của nhà thơ tài năng mạng yểu này…

Tác giả đã đặt nghi ngờ những bài thơ không phải Khánh làm. Theo Thâm Tâm và Nguyễn Vĩ: Kh. yêu thơ nhưng không biết làm thơ. Nội dung từng bài chứng tỏ Kh. không thể tự mình dám ghi rõ ràng tình yêu của mình lên giấy khi đã lấy chồng. Và cho dù có khả năng, nhưng hoàn cảnh không cho phép. Những câu thơ ngoại tình tư tưởng không có khả năng ra đời trong bối cảnh cũ: Chồng tôi vẫn biết tôi thương nhớ/ Người ấy cho nên vẫn hững hờ…

Ngọc Thiên Hoa có lẽ đã tin theo Nguyễn Vĩ: chàng yêu nhớ đơn phương với mặc cảm của một nghệ sĩ nghèo bị người yêu bỏ rơi… Vì một chút tự ái văn nghệ đối với mấy người kia, Tuấn Trình đã phải thức một đêm theo lời anh, làm một bài thơ đề là Hai sắc hoa Ti gôn, ký T.T.Kh. với thâm ý là để Trần Huyền Trân và Vũ Trọng Can tin là của Khánh làm, để thương tiếc mối tình tan vỡ. Muốn giữ tính cách bí mật, Tuấn Trình dán kín bao thư, rồi nhờ cô em họ là con gái của người cô ở góc Cửa Nam mang thư đến tòa báo… Anh mượn tên cô để làm thơ kể chuyện tình duyên cũ… Vì những câu thơ như thế, ở thời đại này cũng không ai dám đọc giữa gia đình riêng của mình chứ đừng nói cách đây 2/3 thế kỷ: Nếu biết rằng tôi đã có chồng/ Trời ơi người ấy có buồn không?/ Có thầm nghĩ tới loài hoa vỡ/ Tựa trái tim phai, tựa máu hồng?

Vâng! Khó có người đàn bà nào thời ấy dám xé rào để viết nên những câu thơ nồng nàn lãng mạn như vậy rồi lại đem đăng báo: Tạm kết câu chuyện, Ngọc Thiên Hoa đã viết: Riêng bài thơ đầy tấm chân tình, đầy nước mắt nuốt ngược vô lòng trong thi pháp ẩn dụ bức họa Hai sắc hoa Ti gôn, là chính do… Thâm Tâm làm.

Chuyện tình T.T.Kh với Hai sắc hoa Ti gôn là một huyền thoại đẹp, hấp dẫn trong thi ca. Nhưng tác giả cuốn sách, vâng, chính tác giả Ngọc Thiên Hoa cũng đã làm một việc rất khoa học khi chị viết: Độc giả cũng sẽ cùng cười, chau mày, bực bội khi đọc xong cuốn Huyền thoại hoa Ti gôn. Những vấn đề còn tồn đọng, chờ người yêu văn học, quý mến Thâm Tâm tiếp bước đi tìm thi pháp cho Thâm Tâm và nhóm bạn…

TÂN LINH