Thấy hiu hiu gió – Tùy bút của Băng Sơn

(Nhân Dân) – Mùa xuân năm nào cũng trở lại, tiếc sao con người một đi không thấy ai trở lại bao giờ, mà đều thành hư vô bóng khói trong cõi mịt mùng vô định.

Riêng Hà Nội từng có những con người kiệt xuất đã sống, đã làm việc và đã ra đi, cả sớm và muộn đều chỉ còn dư ảnh. Nhà văn Gam-da-tốp có lần đã viết: “Một đất nước khi cần đưa chứng minh thư ra thì đó là những nhà chính khách kiệt xuất, những nhà thơ”.

Chúng ta phải đổ máu suốt ba mươi năm chiến tranh. Vì chiến tranh mà chúng ta chưa kịp hay không kịp làm nhiều điều chúng ta cần và mong muốn, trong đó có việc phải làm là dựng những bảo tàng nhà văn, chí ít là những nhà lưu niệm nhà văn.

Hà Nội đã có đường phố mang tên Nguyễn Tuân, Xuân Diệu, v.v. Nhưng chưa có con đường Thạch Lam mà Thạch Lam là một tâm hồn “trăm phần trăm Hà Nội”. Ngôi nhà ông từ đấy ra đi bên ven bờ Ao Vả làng Yên Phụ đã thay chủ mới từ lâu lắm, ngày nay ta cũng không biết nắm xương tàn kia nằm trong gió thốc thời gian ở một nơi nào hiu hắt với sao trăng!

Vũ Bằng nữa, người con sinh ra ở phố Hàng Gai, đi chiến đấu tít tận trời Nam và vĩnh viễn không về (ông được công nhận là liệt sĩ cách mạng sau bao oan trái). Con người ấy nhúng bút vào bình nước mắt nhớ thương để viết nên kiệt tác “Thương nhớ mười hai”, đó là tình cảm của người con Hà Nội xa xứ như bị lưu đầy luôn nhớ về quê mẹ. Ngày nay không hề có chút lưu niệm gì về họ Vũ, và ta cũng chẳng biết được linh hồn ông tìm nhập vào cốt xác ở nơi nào.

Nghe nói thị trấn Cẩm Giàng (cách Hà Nội 40 cây số) đã có một đường phố Thạch Lam và huyện Cẩm Giàng đang lập đề án xây dựng nhà lưu niệm Thạch Lam, người làm vẻ vang cho Cẩm Giàng, để mỗi chuyến xe lửa qua đây, linh hồn ông lại bay theo làn khói vào tâm hồn mọi người…

Thế Lữ, một chủ tướng của phong trào Thơ Mới những năm ba mươi, bốn mươi thế kỷ 20, rồi ông cũng là chủ tướng của nền kịch nói Việt Nam, nhưng đến nay, sau ngày ông ra đi hàng chục năm, có người muốn thắp một nén nhang hoài niệm mà đành ngậm ngùi không biết về đâu, họa chăng chỉ có nữ Nghệ sĩ Nhân dân Song Kim đang ở số 50 Nguyễn Bỉnh Khiêm đêm đêm nhớ thương phu quân của mình trong thời gian mờ xóa.

Một Tản Ðà (Nguyễn Khắc Hiếu) lừng danh ra đi năm 1939, sau thời gian nằm nơi chân núi Hương Sơn với rừng mơ hoa trắng mùa đông, quả thơm mùa hạ, ông được đưa về Sơn Tây, nơi ông cất tiếng chào đời. Không hiểu nhà thơ ngông này có gặp nhà quản lý văn chương Vũ Ðình Long, một người đỡ đầu cho cả mấy thế hệ nhà văn Việt Nam nổi tiếng, cũng đang nằm trên đất Hà Tây… Thật may, cả hai con người hiếm có này đều có ngôi nhà xây đàng hoàng, tường bao và bát hương gắn vào nắp mộ, thỉnh thoảng có bó hoa tươi bên cây vạn thọ lác đác chùm hoa vàng cho đỡ phần đơn độc…

Cả nước đang nhắc đến nhà thơ Quang Dũng, con người của “Tây Tiến” bất tử. Nhà thơ yêu quý đó đã “trời tiến” từ hơn mười năm nay, vợ con ông đang sống thiếu thốn nơi khu nhà tập thể cũ kỹ. Làm gì có khu lưu niệm nào, họa chăng ông sống trong lòng bè bạn vì thế mà ông được làm pho tượng chân dung bằng đồng đặt tại ngôi trường cấp một thị trấn Phùng để ông sống cùng quê hương.

Người lính Cụ Hồ nhà thơ Thâm Tâm, tác giả Tống biệt hành và Can trường hành, nhân vật huyền thoại của văn học một thời T.T.Kh., ông nằm đâu hay gần biên giới, muốn thắp cho ông một nén nhang mà đành nhờ gió xuân thổi hộ vậy thôi.

Vũ Trọng Phụng từng được xưng tụng là “Ông vua phóng sự đất Bắc Kỳ” đó là lời đồng nghiệp tặng tài năng kỳ lạ của ông. Ông sống cùng bà mẹ góa bụa rất sớm, chỉ biết thờ chồng nuôi con (tức là ông) rồi ông làm cho vợ mình cũng góa bụa sớm khi ông ra đi ở tuổi 27 sau mười năm cầm bút làm ra giông tố trên văn đàn.

Vũ Quân có may mắn không, khi đứa trẻ đỏ hỏn nằm trong tay vợ ông trong đám tang ông, sau này lớn lên là chị Vũ Mỵ Hằng đã lo toan và đảm đang đưa được nắm xương tàn của cha mình về với khu vườn xưa nơi quê hương chiu chắt. Ngôi mộ họ Vũ đặt ngay trong vườn tại làng Giáp Nhất sau đình làng Mọc, có bóng cây che chở và nhang khói quanh năm. Chị Vũ Mỵ Hằng còn bán bớt đi một ít vườn để xây được ngôi nhà lưu niệm khá khang trang, trưng bày sách và nhiều di vật của Vũ Quân. Ngày khánh thành, rất nhiều bè bạn đến tưởng niệm nhà văn có biệt tài này. Chồng chị Vũ Mỵ Hằng là anh Nghiêm Xuân Sơn còn có ý định từ nay về sau sẽ dành khu vườn này để các nhà văn nào muốn nằm chung với người đi trước là Vũ Quân, khi đã thành mây thành bóng… Một ý tưởng tốt và táo bạo, chân thành. Tiếc sao chị Hằng cũng sớm theo cha mình sang thế giới người muôn năm cũ. Cũng may là nhà lưu niệm Vũ Quân đang còn và vẫn có người đến thắp những nén nhang tưởng nhớ.

Có một nhà thơ trào phúng có biệt tài và nổi lên trên “Dòng nước ngược”, đó là Tú Mỡ. Sau khi cả ông và bà quy tiên, con cháu đã hỏa thiêu và đem di hài hai người trộn chung một bình đặt trong ngôi miếu nhỏ giữa khu vườn làng Láng, mảnh đất mà thời ông mua được do tiền nhuận bút. Bây giờ ba làng Láng đã đổi thay, vườn xưa thành nhà, làng xưa thành ra phố. Ngôi miếu kia chẳng biết ra sao?

Nhà phê bình Hoài Thanh từng nói khi đóng quyển Thi nhân Việt Nam lại ở trang cuối cùng rằng: Ðến đây, dù có thiên tài đến gõ cửa, tôi cũng không mở ra nữa… thế mà rồi ông phải mở cửa để đón một nhà thơ nữa, đó là nhà thơ sau còn kiêm nhà hoạt động sân khấu Trần Huyền Trân.

Trần Huyền Trân sinh năm 1913, mất năm 1989 sau khi nằm bệnh viện gần bốn năm và lần lượt tháo hết cả hai chi dưới. Khi ra đi, ông chỉ còn một khúc thân, ông không còn lững thững một lần nào nữa, như ông từng viết:

Tôi nghe xa lắm làn mây trắng

Rời bóng kinh thành lững thững đi…

Ông từng là bạn thân của Thâm Tâm và Nguyễn Bính, mà Thâm Tâm từng viết về ông rằng: “Ðây một loài hoa khác hải đường”. Một đời lận đận, một đời thơ hay, một đời sân khấu tài năng, một đời vợ đẹp, nói thế vì sinh thời có nhiều phụ nữ quá yêu thơ ông, đã thêu thơ ông lên vải khiến ông phải viết những lời từ tạ. Ông làm cách mạng trong Hội Văn hóa cứu quốc, đã giác ngộ được nhiều văn nghệ sĩ khác, ông kết duyên với người đẹp một thời, nữ tài tử Hạc Ðính.

Sau khi thi sĩ Trần ra đi gần hai chục năm, nhờ con cái ăn nên làm ra, mà bà Hạc Ðính cất được ngôi nhà khang trang, bà dành riêng hẳn tầng một của ngôi nhà làm nơi kỷ niệm nhà thơ với bàn thờ, tranh ảnh, thơ lưu bút, sách vở, cùng nhiều di vật từ chiếc gạt tàn bằng gộc tre, bộ bàn ghế bằng tre, tủ sách bằng tre…

Năm 2005, nhà lưu niệm được khánh thành, cũng không ồn ào, chỉ dăm ba người quen cũ, những người yêu mến nhà thơ đến chia vui và thắp nhang tưởng niệm.

Không hiểu ngôi nhà lưu niệm này có phải là một trong vài ngôi nhà kỷ niệm những con người kiệt xuất một thời mà sau bao năm, đọc lại họ, chúng ta vẫn xao xuyến, bâng khuâng cùng xúc động và ta phải cảm tạ họ đã cho chúng ta được sống thêm trong một thế giới tinh thần giàu có…

Còn biết bao con người tài năng khác nữa mà nay chúng ta muốn chiêu niệm chút tình xuân mà chẳng thể. Họ nằm nơi nào trong không gian bao la này, họ nằm khúc nào trong thời gian mang mang này?

Mùa xuân lại đến, có lẽ ta nhớ thì họ sẽ về, nói như Nguyễn Du:

Mai sau…

Trông ra ngọn cỏ lá cây
Thấy hiu hiu gió thì hay chị về…

Nhớ Thâm Tâm – Võ Sa Hà

Bài thơ chưa kịp viết
Anh đã về lòng thung
Muôn đời nghe đá thở
Đêm lạnh sương mờ giăng.

Chiến dịch Biên giới mở
Bài anh còn chưa xong
Trên hành lang đông bắc
Anh nằm thơm hoa rừng.

Trang đầu tờ Vệ quốc
Vắng rồi một cái tên
Ai người thay anh viết
Những dòng tin đầu tiên?

Cuộc đời con suối chảy
Đến tận cùng vực xa
Người đi thành sương núi
Trắng trời biên ải hoa.

Nghĩa trang liệt sĩ Quảng Uyên – Cao Bằng
Ngày tảo mộ 2006
Văn nghệ Quân đội số 651 tháng 8 năm 2006

Gió Thâm Tâm – Nguyễn Ngọc Phú

Ngọn gió thổi dọc cánh rừng sốt rét
Nắng ký-ninh vàng vọt da người
Anh lẫn với cỏ cây đồng đội
Câu thơ giờ như đứa trẻ mồ côi

Ngọn gió thổi những quả đồi nhưng nhức
Sao trên trời, xương cốt dưới đất nâu
Tôi mới hiểu vì sao cánh rừng nhiều đom đóm
Bướm trắng bay dọc con suối đục ngầu

Ngọn gió thổi bạc phơ bao mái tóc
Chiến tranh tắt lâu rồi, hương khói vẫn cong nhang
Chị vẫn buộc đò dưới bóng cầu lẻ ván
Đêm đêm nghe sóng vỗ nát lòng

Thâm Tâm hỡi! Người đi, người đi thật
Chúng tôi lại tiễn nhau bằng Tống biệt hành
Câu thơ sống lâu hơn đời người viết
Gió Cao Bằng hay gió Thâm Tâm…

Cao Bằng tháng 8-2000
Văn nghệ Quân đội số 11 năm 2000

Bài thơ đầu tiên của Thâm Tâm – Phương Thảo

Khi bước vào tuổi thanh niên thì gia đình Thâm Tâm lâm vào cảnh khó khăn. Từ Hải Dương, gia đình chuyển lên Hà Nội sinh sống. Thâm Tâm làm đủ nghề: đóng sách cho nhà in Mai Lĩnh, rồi vẽ cả tranh “Bờ Hồ” bán rất chạy ở cửa các trại lính Tây – mong kiếm thêm thu nhập cho kinh tế gia đình. Dường như sự thúc ép khó khăn của đời sống không ngăn nổi tình cảm mơ mộng, dạt dào của tuổi trẻ. Cùng với khả năng hội họa, Thâm Tâm bắt đầu viết. Bài thơ đầu tiên ông chỉ rụt rè gửi cho tờ Tiểu thuyết ba xu với bút danh Trăm Năm. Đây là một bài thơ tình phảng phất nỗi buồn man mác nhưng cũng báo hiệu nhiều nét tài hoa của một thi sĩ tương lai. Bài thơ đăng xong, một điều bất ngờ đén với tác giả, ông chủ nhiệm Trường Xuân đến nhà tìm ông. Gặp tác giả, ông không thể ngờ một người ít tuổi với vóc dáng thư sinh, nhỏ bé lại có thể viết được những dòng thơ tài hoa ấy. Sau bài thơ được đăng cùng buổi gặp gỡ với ông chủ nhiệm, Thâm Tâm bỏ qua những mặc cảm rụt rè, ông trở nên phấn khích. Từ đây ông mạnh dạn viết, đặc biệt là viết nhiều truyện ngắn thường xuyên cho Tiểu thuyết thứ bảy. Kể lại cho tôi nghe xuất xứ bài thơ đầu tiên. Đây cảnh cũ, đâu người xưa của Thâm Tâm, bà Oanh, chị nhà thơ còn nhớ “khi viết bài thơ này cậu ấy viết trên chiếc bàn mọt ở phố Thái Phiên ngày nay”. Cũng nói thêm với bàn đọc, bài thơ này được ghi lại cũng từ lời kể của bà Oanh. Bà vẫn nhớ như in bài thơ từ lần đầu được đọc trên báo:

Đây cảnh cũ, đâu người xưa
Tình cũ năm qua để hững hờ
Hoa dẫu mỉm cười nhưng có ý
Phảng buồn mặt phấn nét tương tư
Giận thời gian, tiếc ngây thơ
Lòng xuân tình cảm bây giờ gửi ai?
Trinh xuân mộng cũ đi rồi
Cảnh sinh xa vắng ngậm ngùi ly tao
Gặp Trinh trong bóng xuân đào
Đang khi quãng gió dạt dào chim ca
Má hồng, hồng đượm hương hoa
Rung rinh đọng giọt phấn nhòa sương rơi
Hoa xuân thắm, nụ xuân tươi
Quyện hoa hơn hớn, lòng ơi mộng lòng
Trinh tay nâng giấc cánh hồng
Với vần thơ hái mơ mòng tôi yêu…
Cảm nhau từ đấy xuân chiều
Cành thơ, lá gió dập dìu ngân nga
Tìm Trinh trong nắng tôi ra
Lời oanh ríu rít vuốt hoa Trinh cười
Nhưng đây nắng liễu buồn ơi !
Ba xuân nẩy nét chia phôi chim ngừng….

1941

Cũng chẳng biết sau bài thơ này Thâm Tâm còn lấy bút danh Trăm Năm nữa không và người còn gái có tên Trinh được nhắc tới là ai?
Phương Thảo
(Trích từ Tiền Phong, in lại trong Thâm Tâm và T.T.Kh. – SĐD)

Phim tài liệu “Nhớ Thâm Tâm”

“Nhớ Thâm Tâm” là bộ phim tài liệu do VTV thực hiện và phát năm 2000, kỷ niệm 50 năm ngày mất của Nhà thơ liệt sĩ Thâm Tâm. Kịch bản Hoàng Quảng Uyên, Đạo diễn Trần Minh Đại, Phó đạo diễn Thanh Tú, Quay phim Lô Thắng, Nguyễn Hiếu, Lời bình Đào Trọng Khánh, Thuyết minh Kim Tiến.
Xin giới thiệu bộ phim:

Ngày trở về của Thâm Tâm

Tản văn của Nguyễn Tuấn Khoa

Nhà tôi ở Hà Nội. Đầu tháng 12 năm 1946, bố tôi lên đường vào bộ đội. Ông bà tôi có 3 người con trai, cả bố tôi và hai chú tôi đều nhập ngũ, trước ngày toàn quốc kháng chiến. Chiến tranh gần lắm rồi. Lúc ra đi, bố tôi dặn mẹ tôi đưa ông bà tạm tản cư về quê nội Hải Dương, bế theo tôi mới sinh được khoảng một tuần. Từ đó thỉnh thoảng có người nhắn về báo tin bố tôi đã ở trên chiến khu Việt Bắc, một chú vào Thanh Hóa, một chú ở Thượng Lào.

Nhà tôi ở tạm trong một làng nhỏ bên đường 5. Năm 1948, một buổi chiều mưa vào cuối mùa thu, chợt bố tôi tìm về thăm nhà. Tôi mới lên 2, chẳng thể nhớ mặt bố. Nhưng chắc chắn ông đã biết mặt con trai mình. Chuyến bố tôi về thăm nhà duy nhất ấy để lại cho đời một bài thơ: “Chiều mưa đường số năm”

Chiều mưa đồng rạ trắng
Đất tề sông quạnh vắng
Ngồi kín dưới nhà gianh
Nghe lúa lùa ắng lặng
Chiều mưa đường số 5
Đôi mắt sao đăm đăm
Chứa cả trời mây nặng
Miền Việt Bắc xa xăm?

Chuyến trở về này còn để lại cho gia đình tôi 2 bức ảnh bố tôi đã chụp cho ông nội và tôi trong chiều mưa ấy:

Thế rồi biền biệt mấy năm trời gia đình tôi đã chạy từ Hải Dương xuống Nam Định, Ninh Bình rồi vào Thanh Hóa. Nhà tôi ở Đền Hàn, ngã ba Bông, một vùng tự do Pháp không vào được. Tôi đã lên 4 tuổi, tha thẩn chơi với bọn trẻ hàng xóm, đôi lúc chúng hỏi bố mày đâu mà chẳng thấy về. Tôi bảo: Bố tao đi bộ đội, bao giờ hết giặc thì bố tao về. Đấy là nhớ lời mẹ dặn, chứ tôi nào có biết gì. Chiến tranh đối với đứa trẻ như tôi chỉ là tiếng tàu bay Pháp ầm ầm bay ngang đầu, đôi lần ông nội dẫn tôi xuống tăng-xê, mùi đất ẩm ướt và rễ cỏ đuôi gà hăng hắc trong hầm trú ẩn.

Lâu lắm chẳng có tin tức gì của bố và các chú tôi. Kháng chiến gian khổ đã kéo dài, mẹ tôi bị sốt thương hàn mê man cả tháng, tóc rụng hết.

Lại một chiều mưa cuối mùa đông năm 1950, có 2 chú bộ đội hỏi thăm đường tìm đến nhà tôi. Ông bà tôi ngồi nói chuyện rất lâu với các chú. Các chú thăm mẹ con tôi. Một chú bế tôi lên dặn tôi ngoan, hay ăn chóng lớn. Chú kia quay mặt nhìn đi chỗ khác, hình như chú ấy khóc.

Hai chú đi rồi, ông bà tôi cũng khóc. Mẹ tôi vẫn sốt mê man chả biết gì.

Đơn vị gửi về cho gia đình tôi một chiếc ba lô của bố tôi, tấm giấy báo tử báo tin bố tôi đã hy sinh ngày 18 tháng 8 năm 1950, được an táng tại một bản nhỏ ở chân đèo Mã Phục, Cao Bằng, một bức thư của đại diện đơn vị chia buồn với ông bà và mẹ tôi, hai bộ quần áo cũ, một con dao nhíp đa năng của Pháp và 6 bức ảnh đám tang bố tôi.

Đưa quan tài từ trên nhà sàn, có 9 ống bương trên chái nhà

 Xin xem thêm bài Thì người Cao Bằng vẫn nhớ – Hoàng Quảng Uyên

Đồng đội đưa tiễn

Hạ huyệt

Mặc niệm

Đồng đội và nhân dân địa phương chào vĩnh biệt

Nhà sàn gần 60 năm trước vẫn còn 9 ống bương cũ, ảnh chụp năm 2008, với người cháu của chủ nhà

Đấy là tất cả gia tài người lính để lại cho vợ con, đấy là lần trở về nhà cuối cùng của bố tôi.

Nhưng trời thương tôi, còn cho tôi một người mẹ. Sau trận ốm thập tử nhất sinh ấy, mẹ tôi không chết. Gia đình tôi theo hướng dẫn của đơn vị bố tôi, lên Thái Nguyên, ở an toàn khu cho đến ngày hòa bình lập lại mới trở về Hà Nội. Mẹ đã nuôi tôi khôn lớn thành người, đã giữ lại được con dao và 6 bức ành.

Mấy chục năm chiến tranh chống Pháp rồi chống Mỹ, gia đình tôi chưa bao giờ nghĩ tới việc đi tìm thăm mộ bố tôi. Mãi tới ngày đất nước thống nhất, nhà nước có chủ trương tìm kiếm quy tập mộ liệt sĩ về các nghĩa trang. Năm 1978, một chú em tôi là sĩ quan trong một đơn vị lên biên giới phía Bắc có dịp qua Cao Bằng đã tìm kiếm thông tin về mộ bố tôi. Chú nhắn tin về cho tôi biết rằng tất cả các mộ liệt sĩ đều đã quy tập về nghĩa trang liệt sĩ huyện, có đánh số hồ sơ chi tiết và có thể sẽ tra cứu để xác định được. Mẹ tôi bảo thế là yên tâm phần nào, bố tôi đã nằm trong nghĩa trang rồi, sau này sẽ có dịp lên thăm viếng.

Chẳng ai ngờ chiến tranh biên giới năm 1979 nổ ra, Tàu đánh Việt Nam, chiếm Cao Bằng. Quân Trung Quốc không động đến mồ mả nghĩa trang, nhưng đã tìm đốt phá sạch hồ sơ giấy tờ hành chính của các cơ quan Việt Nam, hồ sơ về mộ liệt sĩ cũng không còn.

Làm sao tìm được bố tôi? Ông nằm ở đâu trên đất Quảng Uyên Cao Bằng, để cho mẹ con tôi còn được lên tìm và thắp một nén nhang?

Mãi tới những năm 1995-96, những đồng đội cũ của bố tôi như bác Trúc Kỳ, chú Vũ Cao, nhà văn Thanh Châu, … và Hội nhà văn Cao Bằng, nhà văn Hoàng Quảng Uyên mới liên hệ với gia đình tôi để tìm kiếm mộ Thâm Tâm. Bao nhiêu câu chuyện ký ức xưa được nhắc nhớ, bao nhiêu chuyến đi vất vả suốt dọc các bản làng heo hút bên này và bên kia đèo Mã Phục, huyện Quảng Uyên, vẫn chưa thấy manh mối nào. Nhà văn Hoàng Quảng Uyên đã phải than rằng: “Nhà thơ ơi, giờ này Ông ở đâu?” Dù chưa tìm ra mộ ông, nhưng tình cảm của bạn bè đồng đội, của bà con các địa phương và của những lớp con cháu ngày nay đã được gói gọn trong một câu “thì người Cao Bằng vẫn nhớ”. Có lẽ nào ông không về nữa? Để cho gia đình tôi, cho đồng đội, bạn bè ông phải mãi day dứt:

Hơn bốn mươi năm chưa tìm ra phần mộ
Hài cốt nhà thơ lạc ở nơi nào
Tôi hỏi núi, núi thắt vòng tang trắng
Tôi hỏi gió, gió rối bời lau xám.
Hơn bốn mươi năm, cây mục đá mềm
Xương thịt con người lẫn vào cỏ dại
Tôi mong tìm một vuông đất có tên riêng.

Một vuông đất tôi mong tìm chưa gặp
Nén hương trầm biết cắm vào đâu
Và hoa nữa, bó hoa rừng ngan ngát
Trên tay tôi, hoa khóc hoa sầu
Thôi thì thắp hương nơi đầu gió
Thôi thì đặt hoa bên tảng đá …

Thơ Nguyễn Đức Mậu

Hôm nay
Cả nước đi tìm anh
Thi sĩ tài hoa
“Một đi không trở lại”.

Ai như áo bông trần quả chám
Mũ nan lưới dù
Tái tê cơn sốt
Ai như mũ nồi cười
Áo nâu sồng túi dết
Thơ như súng đi lùng giặc Pháp
Đêm đêm qua cửa nhà tôi.

Đi lâu thế nhà thơ, trời sắp đổ cơn mưa
Hơn một ngàn tuần nhang tôi thắp
Trọn một đời đội xanh đi tìm anh
Sao đi lâu thế nhà thơ ơi…

Thơ Y Phương

Cuộc tìm kiếm mộ Thâm Tâm tưởng chừng không còn hy vọng. Báo Cao Bằng đăng một bài viết về việc này, kèm với mấy tấm ảnh đám tang của bố tôi, may còn có ai đọc được hoặc có thêm manh mối nào nữa. Bố tôi đã để lại cho mẹ con tôi những tấm ảnh, thật linh thiêng như một dấu hiệu để người trở về.

Một người lính trẻ, quê xã Phi Hải, Quảng Uyên, Cao Bằng, đóng quân tận Phú Thọ. Anh nhận được chút quà từ gia đình, gói trong số báo Cao Bằng ấy, đã đọc bài báo và xem ảnh. Anh chợt nhận ra cái chái nhà sàn ghép bằng 9 ống bương nơi đưa quan tài bố tôi xuống cầu thang thật giống với một nhà sàn trong bản Pò Noa quê anh. Thế là anh gọi điện ngay về nhà. Người cháu của chủ nhà xem lại tờ báo, so sánh với nhà mình và quyết định thông báo cho chương trình nhắn tìm đồng đội của Đài Tiếng nói Việt Nam và Báo Cao Bằng. Gần 50 năm đã qua, vật đổi sao dời, mà sao cái chái nhà ghép bằng 9 ống bương ấy vẫn còn. Quả là điều kỳ diệu.

Đây chính là nơi bố tôi đã nằm lại khi ra đi, đã được ông chủ nhà làm nghề thợ mộc tháo ván cửa đóng quan tài cho bố tôi ngay trong đêm, để sáng hôm sau đưa bố tôi ra sườn núi rìa bản mai táng.

Đúng 50 năm sau ngày bố tôi hy sinh, Đài Truyền hình Việt Nam tổ chức đoàn làm phim tài liệu Nhớ Thâm Tâm, nhân dịp Kỷ niệm 50 năm Chiến thắng Biên giới. Vợ chồng tôi và Bác Trúc Kỳ, nhân chứng duy nhất trong tang lễ của bố tôi, được cùng đi với đoàn làm phim lên Cao Bằng. Sáng 18 tháng 8, trên đường về bản Pò Noa, xã Phi Hải, trời mưa tầm tã. Các cảnh quay trên đường và trong bản đều thực hiện trong mưa. Rồi cũng tới lúc chúng tôi ra mộ ông. Mưa như trút, máy quay phim bọc trong vải mưa, liệu thắp hương cho ông bằng cách nào đây. Một đoàn người đi trên con đường nhỏ qua nương, qua con suối nhỏ, leo lên những tảng đá lớn và tới một sườn núi. Một bãi cỏ rộng thoai thoải dốc xuống thung lũng, phía xa hai bên là hai ngọn núi lớn. Đúng lúc tới nơi thì mưa tạnh. Rồi nắng lên.

Cả một vùng núi non Cao Bằng ngập tràn ánh nắng vàng. Không khí trong lành sau cơn mưa, thoảng mùi hoa rừng và mùi hương trầm cắm trên mộ cũ của bố tôi.

Người đi, ừ nhỉ người đi thực…

50 năm người đã không về.

Không, bố tôi đã về thăm nhà trong một “Chiều mưa đường số 5”, trong chiếc ba lô bộ đội với những bức ảnh mách bảo kỳ diệu để cho chúng tôi tới được bên ông.

Vợ chồng tôi xin được mang về một nắm đất Cao Bằng nơi bố tôi nằm xuống. Trời đất lúc này rực sáng lên. Hình như bố đã nhận ra vợ chồng tôi và ông đã mỉm cười. Và lần này ông đã thực sự trở về với mẹ tôi, với vợ chồng tôi và các cháu chắt của ông, khi chúng tôi nâng nắm đất gói bằng tấm vải màu cờ đỏ, màu đỏ ấy cháy lên như lửa trong nắng thu vàng. Ngày về của bố tôi giản dị thế thôi.

Phút mặc niệm tại nơi nhà thơ Thâm Tâm yên nghỉ, trong ảnh có đạo diễn phim Trần Minh Đại, biên kịch Phan Thanh Tú, nhà thơ Vương Hùng, nhà văn Hoàng Quảng Uyên, nhà phê bình văn học Văn Giá, và vợ chồng tôi.

Những nấm mộ liệt sĩ chưa biết tên, trong số 151 ngôi mộ này có mộ Nhà thơ Liệt sĩ Thâm Tâm. Bố tôi nằm trong Nghĩa trang Liệt sĩ Huyện Quảng Uyên, dưới tấm bia “Liệt sĩ chưa biết tên” cùng với 150 đồng đội chưa biết tên hy sinh trong cả 3 cuộc chiến tranh, mà cũng sống mãi tuổi 20-30 như bố tôi vậy.

                                                                                                             Nguyễn Tuấn Khoa

27. Bán hoa đào

Vang bóng thanh bình phố đỏ trưng
Mươi lăm thầy khoá viết khom lưng
Dăm nàng gái nõn ngon như mứt
Đi sánh hoa đào vẻ má nhung

Có một thân tang mang trắng phơ
Ngang đầu màu tóc lẫn màu tơ
Lão buồn đi bán cành hương thắm
Hoa đỏ…mừng vang, áo… bạc mờ!

Ai cũng như ai bận tiếp xuân
Mê man sắc tía ngả đầy tâm
Riêng cô, lão bán muôn hồn đỏ
Rồi lủi về đâu, kiếp lệ thầm?

Có những lòng trinh bán một giờ
Vợ người cơ lỡ bán con thơ
Cùng đường, trai bán thân cao trọng
Có vạn linh hồn đã bán mua

Như lão rao hoa có vạn tình
Trĩu trời tang, nặng kiếp thương sinh
Tháng ngày âm ỉ nguồn đau cháy
Trong mắt u trầm ngọn lửa xanh!

Nghiến răng đem bán hết đời xuân
Có kẻ màu tang chẳng một lần
Chảy dưới mắt đời, khi tất cả
Máu đào tranh chảy đã muôn năm.

1940

Bản in trong Thơ Thâm Tâm, NXB Hội Nhà văn, 2015

29. Mơ thuở thanh bình

Bừng sáng, xuân bay tang tảng sương
Canh gà heo hút nẻo giang thôn
Chài ai gấp gấp giăng giăng bạc
Tiếng mác qua giời, dịp sáo non.

Sớm dậy thương nhân lắng gió lên
Để phờ mái tóc, nhác cương yên
Bàng hoàng khiến ngựa, người mơ ngỡ
Một cỗ thanh bình trong sáng êm.

Chợt bỗng đồn binh rộn tiếng kèn!
Giật mình khách nhớ một đôi đêm
Hiệu còi phòng động nghe kinh hoảng:
– A! Thuở trăm thành gọi lính lên!…

Tai hại bao nhiêu sự thực đời
Trừng lên, đập hết mộng! Như người
Tưởng yên tĩnh sống trong khung cổ
Vụt tiếng kèn vang nhắc… hiện thời.

1940

Bản in trong Thơ Thâm Tâm, NXB Hội Nhà văn, 2015

.

Em ơi hà nội phố

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. In sed vulputate massa. Fusce ante magna, iaculis ut purus ut, facilisis ultrices nibh. Quisque commodo nunc eget tortor dapibus, et tristique magna convallis. Phasellus egestas nunc eu venenatis vehicula. Phasellus et magna nulla. Proin ante nunc, mollis a lectus ac, volutpat placerat ante. Vestibulum sit amet magna sit amet nunc faucibus mollis. Aliquam vel lacinia purus, id tristique ipsum. Quisque vitae nibh ut libero vulputate ornare quis in risus. Nam sodales justo orci, a bibendum risus tincidunt id. Etiam hendrerit, metus in volutpat tempus, neque libero viverra lorem, ac tristique orci augue eu metus. Aenean elementum nisi vitae justo adipiscing gravida sit amet et risus. Suspendisse dapibus elementum quam, vel semper mi tempus ac.

A Video Blog Post

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. In sed vulputate massa. Fusce ante magna, iaculis ut purus ut, facilisis ultrices nibh. Quisque commodo nunc eget tortor dapibus, et tristique magna convallis. Phasellus egestas nunc eu venenatis vehicula. Phasellus et magna nulla. Proin ante nunc, mollis a lectus ac, volutpat placerat ante. Vestibulum sit amet magna sit amet nunc faucibus mollis. Aliquam vel lacinia purus, id tristique ipsum. Quisque vitae nibh ut libero vulputate ornare quis in risus. Nam sodales justo orci, a bibendum risus tincidunt id. Etiam hendrerit, metus in volutpat tempus. Neque libero viverra lorem, ac tristique orci augue eu metus. Aenean elementum nisi vitae justo adipiscing gravida sit amet et risus. Suspendisse dapibus elementum quam, vel semper mi tempus ac.