Tuổi xuân, những trang thơ, những cuộc đời – Nguyên An

TUỔI XUÂN, NHỮNG TRANG THƠ, NHỮNG CUỘC ĐỜI

Nguyên An

Đưa người ta không đưa qua sông

Sao có tiếng sỏng ở trong lòng

Bóng chiều không thắm, không vàng vọt

Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong.

                                   (Tống biệt hành)

ÔI NÚI THẲM RỪNG SÂU

TRUNG ĐỘI CŨ VỀ ĐÂU?

Các nhà nghiên cứu lịch sử và những người có nhiều quan tâm, có nhiều hiểu biết về văn chương dân tộc mỗi khi nhìn lại sự phát triền của văn chương Việt Nam vào những năm bốn mươi và năm mươi vừa qua đều có chung một ý nghĩ là: Năm 1945, với cái mốc chói lọi là sự thành công của cuộc Cách mạng tháng Tám vĩ đại, đời sống vật chất và đời sống tinh thần dân tộc (trong dó có hoạt động sáng tác và nghiên cứu văn chương) đã bước sang một bước ngoặt mà trước dó chưa hề có. Kể từ đây, muôn triệu người Việt Nam không phân biệt lứa tuổi và tầng lớp, đã từ thân phận làm thuê cơ cực cho bọn cướp nước và bè lũ tay sai của chúng mà dần dần xác lập được quyền làm chủ thực sự của mình đối với nước nhà. Kể từ đây, hoạt động sáng tác và nghiên cứu văn chương không còn là mảnh đất giành riêng cho một số người đang quẩn quanh với “cái tôi” chật hẹp, mà hoạt động đó đang dần dần được coi là một mặt trận có đóng góp tích cực vào sự nghiệp bảo vệ và xây dựng Tổ quốc của hàng triệu người. Trên mặt trận này, các nhà văn, nhà thơ, các nhà nghiên cứu, phê bình, dịch thuật đang trở thành những chiến sĩ thực thụ.

Sự thay đổi lớn lao và kỳ diệu đó có thể được chúng ta nhận thấy ngay trong việc tìm hiểu quá trình lao động của một số tác giả đang được kể tới trong tập sách này. Họ là Hồng Nguyên, Hoàng Lộc, Thôi Hữu, Trần Mai Ninh, và Thâm Tâm.

Xuất thân trong một gia đình nhà giáo nghèo và đông con ở thị xã Hải Dương, hồi còn nhỏ nhà thơ Thâm Tâm có tên là Nguyễn Tuấn Trình. Khi học hết lớp nhất, người con thứ ba này của gia đình đông con kia phải ở nhà giúp bố mẹ làm thêm nghề đóng sách và nấu bánh kẹo. Năm 1938, khi Thâm Tâm 21 tuổi, gia đình chuyển lên Hà Nội. Thời gian này nhờ có chút ít năng khiếu hội họa và cũng dã nhanh nhẹn trong lao động kiếm sống, Thâm Tâm bỏ tiền ra mua giấy bút và các loại màu để vẽ tranh sơn thủy đem bán cho khách xa về vãn cảnh Hồ Gươm. Hà Nội và trung tâm của nó là Hồ Gươm vào thời gian sôi nổi của phong trào dân chủ 1936 – 1939 này đã là nơi giúp Nguyễn Tuấn Trình – Thâm Tâm hiểu thêm nhiều về mọi sự đời và mọi lẽ sống. Nhiều khuôn hình cần lao và mỏi mệt vì gánh nặng của thuế khóa thực dân, nhiều gương mặt hào hứng với khí thế cách mạng buổi được ra công khai, và nhiều dáng dấp quá phè phỡn vì no đủ, áp bức… tất cả, tất cả đều soi bóng nước Hồ Gươm, đều như có dịp thoáng hiện trên những bức tranh vẽ vội để sinh sống cho qua ngày của Thâm Tâm. Đó là những bức tranh có núi non, sông bến, và con người gợi một vẻ hơi hiu quạnh, buồn buồn.

Rồi cũng như bao nhiêu thanh niên giàu xúc động và có tư chất lúc bấy giờ, Thâm Tâm lại làm thơ. Đó là vào đầu những năm bốn mươi, sau khi đã phản bội lại phong trào dân chủ, thực dân Pháp quay ra đàn áp khốc liệt các biểu hiện của lòng yêu nước và các tổ chức cách mạng, các chiến sĩ yêu nước lại rút vào hoạt động bí mật. Ngày lại ngày đi về trên các đường phố Hà Nội, Thâm Tâm không còn thấy những gương mặt hào hứng, tin tưởng của buổi nào. Căn nhà nhỏ của gia đình Anh ở ô Cầu Dền như buồn tẻ hơn, chật chội hơn. Cuộc sống chung và riêng là vậy, nên nhiều người đọc thơ Thâm Tâm in trên báo Tiểu thuyết thứ bảy và báo Truyền bá thời gian này đều cho là thơ Thâm Tâm rất buồn. Các bài thơ ấy đượm cái chất trượng phu thời cổ, hào hùng thì ít, u hoài thì nhiều (1), Thơ Anh là tấm lòng Anh nuối tiếc, bâng khuâng với những kỷ niệm vừa êm đềm đẹp đẽ vừa như có phần khó chia sẻ hết được với một ai. Tên các bài thơ, chỉ là tên bài thôi, cũng đã nói lên những điều ấy: Lưu biệt, Chào Hương Sơn, Ngậm ngùi cố sự, Vọng nhân hành, Tống biệt hành, Hoa gạo…

     Đưa người ta không đưa qua sông

    Sao có tiếng sóng ở trong lòng

    Bóng chiều không thắm, không vàng vọt

    Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?

                                      (Tống biệt hành)

Mấy dòng thơ trên, Thâm Tâm đã viết cách đây hơn bốn mươi năm. Từ đấy đến nay, không biết đã có bao nhiêu người thuộc? Không biết đã có bao nhiêu người nao lòng khi tự nhẩm lại mấy dòng thơ này vào mỗi một lúc nào đó của đời mình? Chỉ biết là buồn thì có buồn, nhưng nỗi buồn ấy trong Tống biệt hành của Thâm Tâm đã không làm người ta mềm yếu và hèn kém đi, trái lại, nó làm cho người ta biết quý một tình bạn chân chính hơn lên rất nhiều.

Với Tống biệt hành, qua mấy câu mở đầu như vậy, Thâm Tâm đã tự tạo nên một sự đối lập khiến nhiều người kinh ngạc: Con người này vốn nhỏ bé và ít nói đến mức khô khan khó gần – Hẳn là cuộc sống cực nhọc đã khiến anh sắt lại mà không có chỗ cho những ba động của tâm hồn đấy chăng?  Thế thì cái tiếng sóng ở trong lòng và cái ánh hoàng hôn trong mắt trong kia lại ở đâu ra?

Sau này, khi quen biết Thâm Tâm trong những ngày tham gia cướp chính quyền hồi Cách mạng tháng Tám ở Hà Nội và cùng đi với Anh trên những nẻo dường Việt Bắc rồi khu III kháng chiến, mọi người đã càng hiểu Anh mà mến phục anh, mà bớt dần nỗi kinh ngạc kia đi.

Lớp người đã chứng kiến, đã hòa nhịp mình vào những ngày đổi đời của toàn dân tộc ở Hà Nội dạo tháng Tám năm 1945 chắc không thể nào quên được sự rộn ràng náo nức, sự căng thẳng và hào hứng của những ngày này: Thanh niên cứu quốc vẽ và dán áp phích hoan hô cách mạng, cổ vũ toàn dân kiến quốc. Thiếu nhi tập hợp từng đoàn khua trống ếch rền vang đường phố. Dân chúng các phường, các ngõ nô nức thu dọn vệ sinh và góp tiền mua công trái. Những đơn vị vệ quốc quân nghiêm trang hành quân… Từ căn nhà nhỏ trước đó ít lâu đã là nơi đi về, gặp gỡ của những chiến sĩ cách mạng hoạt động bí mật của gia đình ở ô Cầu Dền, Thâm Tâm mới vào giữa tuổi hai mươi mà đã có lúc đăm chiêu trầm mặc như một người già khắc kỷ giờ đã vụt trẻ lại. Cách mạng là ngày hội của quần chúng lao khổ, trong đó có Anh và gia đình Anh. Thâm Tâm đi suốt ngày. Khả năng hội họa của Anh được sử dụng và phát triển. Những áp phích của Anh chưa thật đẹp, nhưng đã diễn tả được lòng hăng hái của Anh và những người như Anh. Người ta nhận ra ở đây một niềm say mê và một ý thức công dân tích cực đối với chế độ mới. Để tập hợp, tổ chức và hướng dẫn giới văn nghệ sĩ và giới khoa học tham gia xây dụng chế độ mới, Hội Văn hóa Cứu quốc bắt tay xuất bản tờ báo Tiên Phong. Số một của Tiên Phong được chuẩn bị từ trước ngày tổng khởi nghĩa, sau buổi cách mạng thành công mới ra mắt mọi người. Ở trang bìa của Tiên Phong số này vẽ một lá cờ đỏ sao vàng to lồng lộng làm nền cho cả trang, bức vẽ ấy là do Thâm Tâm thực hiện. Thời gian này, ngoài việc vẽ áp phích và tham gia mọi hoạt động tổ chức dưới sự chỉ đạo của các chiến sĩ dày kinh nghiệm, Thâm Tâm – qua sự nhớ lại của một số bạn bè Anh, có viết một vở kịch nói tên là Nga Thiên Hương và được ban kịch Tháng Tám diễn ở Nhà hát lớn Hà Nội.

Kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Theo lời kêu gọi tha thiết và mạnh mẽ của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm..., toàn dân tộc bắt đầu tiến hành cuộc kháng chiến chống Pháp toàn dân toàn diện với niềm tin tất thắng. Thâm Tâm bàn với gia đình tản cư về quê, còn mình thì gia nhập quân đội. Sau nhiều trận chiến đấu quyết liệt, nhiều đơn vị bộ đội chủ lực của ta rút về thành lập các chiến khu ở Việt Bắc, ở miền tây Bình Trị Thiên, ở miền Đông Nam Bộ, ở vùng rừng U Minh… Bước vào tuổi ba mươi, Thâm Tâm đã tỏ ra có nhiều từng trải, già dặn trong công tác. Riêng về nghề làm báo, Anh cũng là người thành thạo từ khâu tổ chức bài, biên tập bản thảo đến việc trình bày, minh họa báo… Anh được trên tín nhiệm giao nhiệm vụ Thư ký tòa soạn báo Vệ quốc quân ngay từ buổi đầu Vệ quốc quân ra đời. Ở cương vị này, Thâm Tâm, cũng như nhiều cây viết đã lăn lộn với hoạt động báo chí – văn nghệ từ trước, nay đang hăm hở và quyết tâm phục vụ kháng chiến với tất cả khả năng và tấm lòng của mình, Anh đã làm hết mình. Dưới sự lãnh đạo của Quân ủy Trung ương mà trực tiếp là chủ bút Vệ quốc quân Trần Độ và nhờ sự mẫn cán của các thành viên khác trong tòa soạn như Thôi Hữu, Trần Đăng, Từ Bích Hoàng, Vũ Cao, Trúc Kỳ… báo Vệ quốc quân đã đến với chiến sĩ và đồng bào đều đặn với nội dung khá phong phú, hình thức trình bày và phong cách viết linh hoạt. Trên Vệ quốc quân, thỉnh thoảng cũng có đăng vài bài thơ của Thâm Tâm. Những bài viết này chưa tiếp nối thành công của thơ Thâm Tâm trước đó. Thâm Tâm cũng tự biết như vậy, nhưng Anh không bận lòng nhiều về sự thành đạt hay chưa thành đạt của mình trong chuyện sáng tác này. Anh đang vui với cuộc kháng chiến, với sự có mặt thực sự tích cực của mình và nhữrg văn nghệ sĩ nguyện đi theo kháng chiến như mình. Anh cũng biết là con đường sáng tạo văn chương để phục vụ cuộc sống mới và con người mới là con đường không ít gian nan đối với những người đã nhuộm một nỗi buồn, đã quen một lối viết cũ từ trước như mình. Trên tờ Văn nghệ số 5 ra vào tháng 9 năm 1948, Thâm Tâm với bút danh là T.T. đã viết một bức thư đề ngày 8-8-1948, trong thư có một đoạn tâm sự:

Với tôi, thật ra cái cầu sáng tác bắc qua con suối nước lũ của công tác mình đang phụ trách, càng chật vật lắm. Quyết tâm có tác phẩm, Anh hãy tin ở sự cố gắng của tôi. Còn hay hoặc dở, đó lại là vấn đề khác, nói trong một lúc khác…

Do công việc nhiều nên phải dàn xếp mãi, đến giữa năm 1948 Thâm Tâm mới có dịp đi một chuyến công tác dài ngày và xa cơ quan. Lần ấy Anh từ Việt Bắc trở về vùng địch hậu liên khu III. Một chiều mưa, ngồi trên căn nhà tranh quạnh vắng, Thâm Tâm nhớ cồn cào miền Việt Bắc xa xăm. Qua màn mưa trắng đục trên cánh đồng xa, Anh như thấy hiện lên những nguời và cảnh Việt Bác qua đôi mắt sao đăm đăm – chứa cả trời mây nặng của mình. Anh ghi vội lòng mình bằng những dòng thơ năm chữ. Bài Chiều mua đường số 5 ra đời. Bài thơ, như một trang nhật ký tâm trạng này đã cho thấy đến lúc này, Thâm Tâm đã tìm lại được nét tinh tế, tình cảm chừng mực, sâu đậm là cách quen thuộc của Thâm Tâm (2). Qua nỗi nhớ được ghi lại bằng một điệu thơ hơi buồn, bài Chiều mua đường số 5 của Thâm Tâm cũng đã giúp bạn đọc bấy giờ hiểu Anh hơn và hiểu thêm về một phần của cuộc kháng chiến chống Pháp ngày ấy :

Chiều mưa ngàn mai nở

Hoa phới bay màu xuân

Bếp sàn gây ngọn lửa

Chén trà ngát tình dân.

Chiều mưa lùa các cửa

Ngày bộ đội hành quân

Mẹ già không nói nữa

Nước mắt nhìn rân rân…

Chiều mưa giã gạo mau

Chày tập đoàn thình thịch

Ôi núi thảm rừng sâu

Trung đội cũ về đâu

Biết chăng chiều mưa mau…

Ở đây, cũng nói về tình quân dân, tình đồng đội, nhưng nếu như trong bài Nhớ của Hồng Nguyên, mối tình ấy gợi lên trong ta một bối cảnh chan hòa, rộn rã của vùng hậu phương khu IV; thì trong thơ Thâm Tâm, mối tình ấy lại làm ta liên tưởng tới một vùng địch hậu ắng lặng, buồn buồn, khiến cho “mối tình Việt Bác” đã thấm đượm vào tâm khảm anh bộ đội Thâm Tâm, giờ đây lại dạt dào sôi động.

Tháng 4 năm 1949, Hội nghị Văn nghệ quân đội lần thứ nhất được tổ chức trên chiến khu Việt Bắc. Tại hội nghị này, Thâm Tâm đã trình bày bản báo cáo nhan đề Văn thơ bộ đội. Lần đầu tiên, qua bản báo cáo này, người ta đã thấy được bức tranh toàn cảnh của phong trào sáng tác văn chương trong quân đội những năm đầu kháng chiến chống Pháp. Đọc lại bài tường thuật về Hội nghị này của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng trên tạp chí Văn nghệ số 11 và 12 ra vào tháng 5 năm 1948, chúng ta có thề biết được phần nào giá trị tổng kết của báo cáo Văn thơ bộ đội.

12-4-1949: Câu chuyện rất đời của Thâm Tâm về văn thơ bộ đội vạch ra một sự thật: loại thơ anh hùng của cán bộ, những hình ảnh tưởng tượng, lời văn mỹ miều của những văn nghệ sĩ công tác trong bộ đội không được đội viên hoan nghênh. Trái lại họ thích những bài thơ hợp với đời sống của họ, những bài thơ ở bộ đội mà có, những sáng tác này trở lại ảnh hưởng bộ đội rất mạnh.

Tuy bản báo cáo chưa đưa ra thật nhiều thí dụ, nhưng qua bản tường thuật của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng, chúng ta có thể hiểu là ở đây, Thâm Tâm đã cổ vũ cho các sáng tác ra đời từ cuộc đời anh bộ đội và phục vụ cho đời sống tinh thần những anh bộ đội đó như thơ Chính Hữu, Hồng Nguyên, Vũ Cao, Hoàng Lộc, Minh Huệ, Trần Hữu Thung hồi đó. Sự cổ vũ và khẳng định ấy của Thâm Tâm cho đến nay vẫn còn có giá trị tham khảo quý báu. Một điều cũng cần được đặc biệt ghi nhận nữa là: Nếu như ngày nay, chúng ta nói Chủ tịch Hồ Chí Minh là một nhà thơ lớn của đàn thơ dân tộc – điều đó là sự bình thường trong các trang sách giáo khoa và trong sự nhìn nhận của các nhà lý luận văn chương, thì cách đây hơn một phần ba thế kỷ, có lẽ Thâm Tâm là người đầu tiên, đã nhận định như chúng ta, trong một báo cáo chính thức, báo cáo về Văn thơ bộ đội. Lúc đó nhà thơ đã viết:

Hồ Chủ tịch không rảnh việc nước, nhưng khi nghe giao thông chạy ngựa đưa tới tin thắng trận liên tiếp, nhưng khi nghe du kích đi giết giặc đã quay về với tiếng tù và vang trên núi, vị cha già của chúng ta cũng rung cảm thành thơ, mà cả những Bức thư từ hơn 10 năm nay, Người gửi cho mọi tầng lớp dân chúng thời thường cũng là thơ; những đoạn văn có vần chúng ta đọc một lần không bao giờ quên được.

Hồ Chủ tịch là người lính số một của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Người lính số một trong khi đuổi giặc vẫn làm thơ, vì hay thơ vẫn là một trong những dân tộc tính của chúng ta. Tiếp tục truyền thống văn nghệ ấy, những người con cháu đứng dậy cầm súng giết giặc giữ nước, ngay từ phút đầu cũng đã rập với tiếng đạn nồ ngân lên những vần thơ – mầm mống của văn nghệ bộ đội mà hôm nay chúng tôi có dịp trình bày trước hội nghị…

Kết thúc Hội nghị Văn nghệ quản đội, Thâm Tâm được bầu vào Ban Văn nghệ trung ương thuộc Phòng Tuyên truyền gồm bảy người do nhà thơ Tố Hữu làm trưởng ban (3). Thâm Tâm vốn là nguời cần cù, mẫn cán với công việc. Công việc hàng ngày của Anh dường như tất cả không ngoài chuyện nâng cao chất lượng của báo Vệ quốc quân. Anh xa lạ với những buổi chuyện phiếm vô bổ đã có lúc được một số văn nghệ sĩ coi là “nhu cầu giao tiếp”. Nhận thêm công việc ở Ban Văn nghệ trung ương, thì giờ giành cho sáng tác của Thâm Tâm cũng có cơ ít đi. Song biết rằng đây cũng là một trọng trách, nên dù có sốt ruột với chuyện sáng tác, Anh vẫn cố gắng dậy sớm hơn và thức khuya hơn một chút, Anh như người “giữ gôn” ở tòa soạn Vệ quốc quân, các anh em khác được đi viết nhiều hơn vậy.

Khoảng giữa năm 1950, một lần Đại tướng Nguyễn Chí Thanh bấy giờ vừa ở miền Trung ra nhận công tác ở Quân ủy trung ương đã mời Thâm Tâm và Vũ Cao tới làm việc. Hai người vừa mừng vừa lo không biết có chuyện gì hệ trọng. Hôm ấy Đại tướng Nguyễn Chí Thanh cho biết là ta sắp mở một chiến dịch lớn – đây là lần đầu tiên quân đội ta đánh lớn như vậy. Chờ cho nỗi reo vui của Thâm Tâm và Vũ Cao đã lắng lại, Đại tướng đề nghị hai người về thu xếp để đi làm báo cho chiến dịch này. Khỏi phải nói về nỗi vui mừng của hai người như thế nào. Riêng Thâm Tâm, Anh coi đây là một nhiệm vụ đột xuất và chỉ có thể phải hoàn thành tốt đẹp mà thôi. Vừa gói ghém đồ đạc vào  ba lô, Anh vừa trao đổi khe khẽ với Vũ Cao về những ngày sắp tới. Thể rồi họ lên đường, Thâm Tâm gầy nhỏ, ít nói, Vũ Cao lênh khênh và nhộn nhạo luôn, Vũ Cao kể về Thâm Tâm trong lần đi chiến dịch ấy thể này:

Mấy ngày đêm liền hành quân, anh rất vui, rất khỏe, nói năng nhiều hơn, đôi lúc cũng đùa. Tới Cao Bằng, bỗng một hôm anh kêu mệt. Anh sốt, nằm ở nhà sàn, gần biên giới. Thuốc men đầy đủ, thức ăn bồi dưỡng cũng không thiếu, tôi cũng tưởng anh chỉ sốt bình thường một hai ngày rồi qua khỏi. Đến một buổi chiều, tôi được cử xuống đơn vị. Trước khi đi, tôi vào ngồi với anh một lát. Tôi nắm tay anh thấy rất nóng. Mắt anh vàng hơn ngày thường. Anh bảo tôi đưa anh sang một chỗ nằm khác cho thoáng hơn. Tôi ôm lấy lưng anh, dắt anh đi. Anh vừa run lẩy bẩy vừa khẽ bảo:

– Mình thấy trong người thế nào ấy. Cậu đi khỏe nhé. Tôi không thể ngờ đó là câu cuối cùng anh nói vởi tôi. Ở đơn vị được một tuần, một hôm bỗng Thôi Hữu gặp tôi, báo tin là Thâm Tâm đã mất. Chiến dịch sắp mở, đường thì xa, chúng tôi không về được nữa rồi. Một sự ngẫu nhiên là hôm ấy trời rét và có nắng. Tôi bỗng nhớ cái buổi chiều nào năm trước, cũng trời đất như vậy, chính Thâm Tâm báo tin cho tôi là Trần Đăng không còn nữa. Trần Đăng nằm lại ở biên giới, còn bây giờ Thâm Tâm cũng nằm lại ở biên giới…  Anh đã mất trước khi được thấy một chiến thẳng lịch sử: Chiến thắng Biên Giới (4)…

Từ sự lặn lội với cuộc đời mà dạn dày, chín chắn, Thâm Tâm đã tiêu biểu cho không ít văn nghệ sĩ buồn đau phẫn chí dưới chế độ cũ, nhờ có cách mạng và nhanh chóng hòa nhập với cách mạng mà xác lập được vị trí của mình trong cuộc sống mới. Sáng tác thơ của Thâm Tâm đăng báo không nhiều, nhưng không vì thế mà hình ảnh Anh mờ nhạt trong tâm trí những người đã cùng sống và làm việc với Anh. Cuộc đời và sáng tác của Thâm Tâm là một bài học về đức tính kiên trì rèn luyện, về sự chịu thương chịu khó, xuất phát từ một ý thức trách nhiệm cao đối với công việc.

  1. Vũ Cao, bài Vài kỷ niệm về Thâm Tám. T.C. Văn nghệ, tháng 12-1989.

  2. Ngô Thảo, bài Nhà thơ Thâm Tâm. T.C. Văn nghệ quân đội, 7-1981.

  3. Theo Ngô Thảo, bài Nhà thơ Thâm Tâm – Văn nghệ quân đội, 7-1981.

  4. Theo Ngô Thảo, bài đã dẫn.

 

 

Cuối năm, “thăm” tác giả “Tống biệt hành” – Hoàng Quảng Uyên

TP – Hơn 40 văn nghệ sĩ tỉnh Hải Dương (quê hương nhà thơ Thâm Tâm), đi thẳng từ thành phố Hải Dương lên Cao Bằng, vào Pò Noa viếng mộ nhà thơ Thâm Tâm.

Pò Noa – Một bản nhỏ thuộc thôn Thạch Bình, xã Phi Hải, huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng – nơi nhà thơ – liệt sĩ Thâm Tâm (1917 – 1950) – Giải thưởng nhà nước về văn học – nghệ thuật, tác giả của nhiều bài thơ nổi tiếng (như “Tống biệt hành”; “Chiều mưa đường số năm” v.v..) hy sinh và yên nghỉ – là một địa danh quen thuộc của giới văn nghệ cả nước.

Một buổi chiều nắng nhạt tháng 12 – 2008, hơn 40 văn nghệ sĩ tỉnh Hải Dương (quê hương nhà thơ Thâm Tâm), đi thẳng từ thành phố Hải Dương lên Cao Bằng, vào Pò Noa viếng mộ nhà thơ Thâm Tâm. Tính toán theo cung đường thì khoảng 5 giờ chiều doàn sẽ đến Pò Noa, “ở” với Thâm Tâm khoảng 2 tiếng – khoảng thời gian không quá ngắn, nhưng “người tính không bằng trời tính”, xe đến đỉnh dốc Pò Noa, gặp đoạn đường dốc mới làm bị mưa lũ xẻ thành nhiều rãnh theo chiều ngang, lái xe xuống xe nhìn con đường dốc mà rùng mình!

Tiến thì quá mạo hiểm mà lùi thì không có chỗ quay xe. Chả nhẽ đi hơn 500 cây số đến đây chỉ để nhìn bản Pò Noa và mộ Thâm Tâm từ xa?! Chủ tịch Hội, họa sĩ Hà Huy Chương quyết định xuống xe đi bộ.

Tôi dẫn Hà Huy Chương đi trước, trong tốp đầu có các văn nghệ sĩ cao tuổi: Nhà thơ Nguyễn Đào Trường (75 tuổi) , nghệ sĩ nhiếp ảnh Tô Kim Trọng (75 tuổi), nhạc sĩ Minh Chính, nhạc sĩ Mai Đoan, hoạ sĩ Chu Đức Tiến, nhà thơ Nguyễn Việt Thanh (trưởng ban thơ), các nhà văn, nhà thơ Văn Duy, Tạ Kim Khánh, Vũ Hoàng Luyến, Nguyễn Thị Lay (lứa tuổi U60) …

Đi bộ vào bản Pò Noa, ra mộ Thâm Tâm mất một tiếng. Nắng chiều đã tắt, nhưng không ai để ý đến thời gian khi hình ảnh của nhà thơ Thâm Tâm khắc trên bia mộ chợt “rạng rỡ” đón chào những người đồng hương anh em, những người bạn bè văn nghệ.

Ngôi mộ nhỏ quét vôi trắng nghi ngút khói hương và những lời cầu khấn, đúng hơn là những lời tâm sự, những nguyện ước với nhà thơ lớp trước đáng kính, đáng trọng.

Từ trên bãi đất rộng chân núi mọi người hướng tầm mắt ra xa thấy những ngọn núi mờ xanh và con đường dốc ngoằn ngoèo từ biên giới Bản Riềng về Pò Noa – con đường mà nhà thơ Thâm Tâm đã qua trong những ngày cuối cùng của đời mình.

Chúng tôi đã đứng rất lâu, rất lâu trước mộ Thâm Tâm trong đan xen quá khứ và hiện tại để đến khi tạm biệt mỗi người mang theo những xúc động riêng, ấn tượng riêng trong tình cảm chung: Yêu thương, kính trọng và biết ơn.

Cuộc đời có những duyên may, để có chuyến về Pò Noa này, họa sĩ Hà Huy Chương đã hẹn trước với tôi tại thành phố Ninh Bình trong cuộc hội thảo “Nâng cao tính chuyên nghiệp trong sáng tạo văn học” do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Tôi cứ nghĩ phải sang năm 2009, ra giêng ngày rộng tháng dài, mùa xuân ấm áp thì chuyến đi mới có thể thực hiện được, không ngờ nhanh đến thế.

Đó là một bất ngờ và chính hoạ sĩ Hà Huy Chương cũng bất ngờ vì theo dự kiến ban đầu đoàn chỉ khoảng 30 người, nhưng biết đợt đi sẽ đến viếng mộ Thâm Tâm và thăm khu di tích lịch sử Pác Bó, nhiều người xin được bổ sung vào danh sách, nhiều người đã nhường “xuất đi” cho người khác nay không “nhường” nữa…

Không thể từ chối những tấm lòng, do vậy mà số người tăng lên trên 40, phải thuê một chiếc xe to và dài, rất khó “len lỏi” trên đường núi. Một bất ngờ nữa là tình cảm của những người dân ở làng Pò Noa đối với nhà thơ Thâm Tâm, với những người bạn Hải Dương vẫn còn giữ được như tình cảm của ông Hoàng Tăng Khuê, người bí thư chi bộ bản nhỏ Pò Noa đã tự tay tháo ván cửa nhà mình đóng quan tài và cùng dân làng Pò Noa an táng Thâm Tâm rất chu đáo như đối với người anh em ruột thịt.

Nhà văn Nguyễn Thị Việt Nga, Phó Chủ tịch Hội Văn nghệ Hải Dương cùng một số văn nghệ sĩ trẻ đã lên nhà anh Hoàng Văn Mạnh (cháu nội ông Hoàng Tăng Khuê).

Người bà nội đã già nhưng còn khỏe, minh mẫn đem 2 chai rượu ngô ra mời. Chị Vi Thị Lâm (vợ Hoàng Văn Mạnh) tặng đoàn những khúc cơm lam của nhà mới làm. Hoàng Văn Mạnh và vợ tiễn đoàn ra tận xe. Nồng ấm và thân thương lắm.

Một số hình ảnh chuyến “thăm” Thâm Tâm ở Cao Bằng

 

Khi mọi người trở ra đến ngã ba đường thì trời đã tối hẳn. Rất may chiếc xe đã “thoát” được đoạn đường nguy hiểm. Tất cả thở phào. Hà Huy Chương bảo: “Nhờ có cụ Thâm Tâm phù trợ”. Có thể lắm ! Mọi người lên xe trở ra thị xã Cao Bằng theo con đường vòng qua trung tâm xã đã được rải cấp phối, rải nhựa phẳng lỳ mang theo những hình ảnh đẹp của một chiều Pò Noa.

Hôm sau tôi đưa đoàn văn nghệ sĩ Hải Dương lên thăm khu di tích lịch sử Pác Bó, cuộc đi cũng để lại những kỷ niệm đẹp. Nhà thơ Phạm Chức, Trưởng ban văn nghệ Phát thanh – Truyền hình đã xuống ngang đường thăm lại làng bản xưa và những người bạn cũ nơi anh có những năm tháng sống và chiến đấu cách đây gần 30 năm.

Các nhà thơ Nguyễn Thị Lay, Nguyễn Thị Nhung chăm chắm tìm về ngôi nhà của người bạn học quê Hoà An vừa mất để thắp nén nhang tưởng nhớ. Hoạ sĩ Hà Huy Chương “bàn” với tôi rất kỹ về những tác phẩm hội họa về đề tài Bác Hồ ở Pác Bó và thống nhất rằng: Đóng góp của hoạ sĩ Trịnh Phòng về đề tài này là rất đáng trân trọng và tôn vinh. Họa sĩ Chu Đức Tiến, có tiếng về tranh biếm họa đã ký họa tôi bên suối Lê Nin rất tình… chứ không ra… biếm họa!

Tất cả những văn nghệ sĩ Hải Dương trong đoàn, những người tôi đã quen mặt, quen tên và cả những người tôi chưa có dịp trò chuyện mà chỉ kịp ghi lại địa chỉ và số điện thoại đã và sẽ là những người bạn nghề thân thiết. Tôi tin sau chuyến đi này tình cảm của Hội Văn nghệ Hải Dương và Hội Văn nghệ Cao Bằng sẽ trở nên nồng ấm sau những ngày giá lạnh của mùa đông nghiệt ngã.

 Ngày 22/12/2008
Nhà văn Hoàng Quảng Uyên

Nhà thơ Liệt sĩ Thâm Tâm: Siêu thoát nơi bản nhỏ – Hoàng Quảng Uyên

Nhà thơ Thâm Tâm, tên thật là Nguyễn Tuấn Trình, quê ở thị xã Hải Dương, là thư ký tòa soạn báo Vệ Quốc Quân, tiền thân của báo Quân đội nhân dân, tạp chí Văn nghệ Quân đội (từ năm 1948 đến năm 1950)… Chiến dịch Biên Giới chuẩn bị mở màn, ông vượt đèo, lội suối đưa một tổ công tác ra tiền phương để ra báo phục vụ tại mặt trận rồi hy sinh… Hơn nửa thế kỷ sau, người thân và đồng đội cũ mới tìm thấy phần mộ của Thâm Tâm…

Ngày 18-8-1950, người dân bản Pò Noa, xã Phi Hải, huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng cùng đơn vị bộ đội đóng quân trong bản đã tổ chức an táng với nghi thức gọn nhẹ, ân tình cho một anh Bộ đội Cụ Hồ mới hy sinh. Nấm mộ của người chiến sĩ vô danh ấy (không có bia) nép mình nơi bìa rừng, dưới tán lá của những cây xau xau, cây nghiến xanh tốt quanh năm. Năm tháng trôi đi nấm mồ nhỏ dần theo thời gian, thậm chí lẫn trong cây, trong cỏ nếu như không có việc khơi lại ký ức thời gian…

Khởi đầu là bài báo của nhà báo Trúc Kỳ viết tháng 9-1992, in trên báo Quân đội nhân dân với tựa đề “Những phút cuối cùng của Thâm Tâm”:Thu-Đông năm 1950, tôi (Trúc Kỳ) nhận lệnh điều đến chỗ ở mới của cơ quan là một bản nhỏ của đồng bào Nùng, ở chân đèo Mã Phục, gần thị trấn Án Lại, cách thị xã Cao Bằng khoảng 18km về phía Bắc. Từ đây, tôi được điều tiếp ra biên giới thay Thâm Tâm đang ốm. Đến Bản Riềng, thấy Thâm Tâm nặng quá, tôi cho người cáng anh trở lại cơ quan, dọc đường thì anh hy sinh. Tôi báo cho cơ quan biết để liên hệ với địa phương lo mai táng anh. Đồng chí Bí thư chi bộ xã đã vượt qua những phong tục tập quán của bản làng, cho đưa người chết vào nhà mình, lại tháo cánh cửa tự tay đóng quan tài. Chúng tôi khóc Thâm Tâm, lại khóc vì cảm động trước việc làm đầy tình đồng chí của Bí thư chi bộ xã mà cho đến bây giờ tôi cũng không thể nào quên được, mặc dù từ bấy đến giờ, bốn mươi hai năm đã trôi qua…”.

Đọc bài báo ấy, những người làm văn nghệ ở Cao Bằng đã rất bất ngờ và tự hào. Bất ngờ vì tới nay họ mới biết nhà thơ Thâm Tâm đã từng chiến đấu và vĩnh viễn nằm lại ở núi rừng Án Lại, Phục Hòa, Quảng Uyên… Tự hào vì có những người bí thư chi bộ xã đã có những tình cảm và việc làm đầy nhân ái, hiếu nghĩa đối với cách mạng, với kháng chiến, với Bộ đội Cụ Hồ.

Hãy đi tìm nơi an nghỉ của nhà thơ Thâm Tâm! Những tiếng lòng mách bảo chúng tôi như vậy, thật may mắn, sau nhiều chuyến đi tìm tưởng như vô vọng, vào năm 1997, chúng tôi đã xác định bản nhỏ trong bài viết của ông Trúc Kỳ là bản Pò Noa và tên người bí thư chi bộ năm xưa.

Sau khi xác định được chính xác nơi hy sinh và an nghỉ của nhà thơ Thâm Tâm, tỉnh Cao Bằng và Đài Truyền hình Việt Nam, tạp chí Văn nghệ Quân đội đã thực hiện bộ phim “Nhớ Thâm Tâm” (năm 2000). Gia đình nhà thơ Thâm Tâm đã lên bản Pò Noa nhiều lần, lần nào cũng được sống trong tình thân ái như anh em ruột thịt của bản… Mỗi lần gặp là một lần nặng nghĩa nặng tình. Năm 2002, bà Phạm Thị An, vợ nhà thơ Thâm Tâm đến Pò Noa, bà lặng đi trước nơi yên nghỉ của chồng. Năm 2005, bà An quy tiên, tôi cùng đạo diễn điện ảnh Nguyễn Nhàn đến viếng, nhìn đôi mắt hiền dịu, thanh thản trong tấm di ảnh của bà An, tôi như thấy sự mãn nguyện của bà khi đến với ông ở cõi vĩnh hằng.

Đúng dịp kỷ niệm 90 năm ngày sinh nhà thơ Thâm Tâm (đầu năm 2007) Nhà nước ta truy tặng ông phần thưởng cao quý: Giải thưởng Nhà nước về Văn học – Nghệ thuật. Trong lễ Tảo mộ 3-3-2007 (âm lịch), gia đình anh Nguyễn Tuấn Khoa, con trai nhà thơ cùng cán bộ Viện Thông tin y học, lần thứ tư lên Pò Noa dựng bia tưởng niệm Nhà thơ, Liệt sĩ Thâm Tâm. Dân bản Pò Noa, con cháu của người bí thư chi bộ năm xưa lại tận tình tiếp đón chu đáo gia đình nhà thơ Thâm Tâm và dựng bia kỷ niệm như chính việc của gia đình mình vậy. Cảm ơn dân làng, anh Nguyễn Tuấn Khoa xúc động không nói nên lời, thay vì những câu cảm tạ anh đã quỳ xuống vái lạy dân bản Pò Noa và mảnh đất mà cha anh đã nằm xuống, yên nghỉ mãi mãi.

Rồi đây du khách phương xa, các nhà thơ, nhà văn đến Cao Bằng sẽ có một nơi để tìm về với Thâm Tâm từ “Đỉnh cao các con chữ”, dậy lên “tiếng sóng ở trong lòng” nhớ một thời cách mạng hào hùng với những kỷ niệm về một nhà thơ-chiến sĩ ra trận và hy sinh trong Chiến dịch Biên Giới năm 1950.

HOÀNG QUẢNG UYÊN
QĐND – Thứ Sáu, 03/08/2007
Nguồn: Nhà thơ liệt sĩ Thâm Tâm: siêu thoát nơi bản nhỏ

Nhớ Vũ Cao, nhớ lại chuyến về nguồn – Trần Đăng Khoa

Tôi không ngờ bây giờ, nhà thơ Vũ Cao đã thành người của cõi nhớ thương. Trong khoảnh khắc ly biệt này, tôi lại nhớ những kỷ niệm với ông, đặc biệt là chuyến theo ông về nguồn. Cũng lâu rồi. Có lẽ đã chục năm.

Có lần, bên ấm trà đã nhạt, trong một căn phòng nhỏ ở nhà số 4 Lý Nam Đế, nhà văn Nguyễn Minh Châu đã kể cho đám hậu sinh chúng tôi về cái cảm giác của ông khi lần đầu tiên trông thấy Nguyễn Công Hoan. Đứng trước cụ Hoan, Nguyễn Minh Châu cứ thấy rợn ngợp như đứng trước một con Khủng Long vừa hiện hình người. Mà cũng phải thôi! Cụ Hoan có truyện ngắn in báo từ năm 1920. Mãi mười năm sau, cậu bé Châu mới ra đời. Bởi thế, đối với Nguyễn Minh Châu, cụ Hoan như người ở thế kỷ trước, ở mấy kiếp trước. Thế thì ông cụ đúng là con Khủng Long rồi còn gì!

Tôi cũng có cái cảm giác rợn ngợp như vậy khi nhìn thấy Vũ Cao. Đối với tôi, Vũ Cao cũng chẳng khác gì một con Khủng Long. Trông ông cụ cũng cổ kính lắm, hồng hoang lắm. Ông viết Núi Đôi khi tôi vẫn đang còn là một hạt bụi, bay phiêu diêu, lơ lửng đâu đó trong cõi hoang dại. Nhưng khi hỏi ông về bài thơ đã làm nên tên tuổi ông thì ông chỉ cười hô hố. Cái cười cứ nhẹ tênh tênh. Nhiều người bảo Vũ Cao hơn người ở tiếng cười ấy. Bằng tiếng cười đó, ông có thể vượt qua bao nhiêu sóng gió, phức tạp. Hồi ông còn trụ trì ở ngôi chùa thiêng có cái tên rất hiện đại: Tạp chí Văn nghệ quân đội, anh em trong cơ quan với nhau đều thành người ruột thịt. Gặp nhau vui ríu rít. Đó là thời hoàng kim của Văn nghệ quân đội. Tạp chí tung ra đời hàng loạt tác phẩm đặc sắc. Bạn đọc cả nước đón nhận nồng nhiệt. Tạp chí thành một địa chỉ văn hoá đáng tin cậy của cả nước. Ở tòa soạn của tạp chí, ngày nào cũng nườm nượp khách khứa. Nhà thơ Xuân Quỳnh bảo: “Đây là cái nôi của những cây bút trẻ, là trụ sở thứ hai của Hội Nhà văn Việt Nam”. Rồi có lần, chị còn đến tìm gặp Vũ Cao: “Anh cho em tòng quân với nhé. Em chỉ làm lính của anh thôi. Anh xếp em việc gì cũng được”. Vũ Cao vui lắm: “Tốt quá! Nhưng ở đây không thiếu nhà thơ, chỉ thiếu lãnh đạo thôi. Hay cô về thay tôi làm lãnh đạo nhé!”. “Ôi dào ôi! Em tưởng làm nhà thơ mới khó, chứ làm lãnh đạo thì khó quái gì!”. Vũ Cao lại bụm miệng cười. Ông công nhận Xuân Quỳnh nói đúng. Làm lãnh đạo như ông chẳng khó gì. Ông lãnh đạo mà lại như không lãnh đạo gì cả. Đó mới đúng là cách lãnh đạo văn nghệ. Điều này thì không phải ai cũng biết. “Mình nghiệm thấy ở cái nhà số 4 này, anh nào thế nào thì nó đã như thế rồi. – Vũ Cao rủ rỉ. – Người sắc sảo thì đã sắc sảo ngay. Người tham lam, lủn mủn thì đến già cũng vẫn cứ tham lam, lủn mủn. Giời sinh ra thế nào thì nó cứ thế thôi. Làm sao mà “rèn luyện” với “giác ngộ” được cơ chứ! Nói như lý thuyết, như sách vở, như người ta vẫn a dua nhau là sai toét!

Còn nhớ hồi tạp chí Văn nghệ Quân đội in truyện ngắn Hai người trở về trung đoàn của Thái Bá Lợi. Đây là dạng truyện ngắn viết dài. Cái truyện cũng chẳng có gì ghê gớm. Chỉ mỗi một chi tiết: Nhân vật chính là anh lính lại tằng tịu lừa một cô gái, thế mà rồi chẳng sao, lại lên cấp lên chức, rồi làm đến Trung đoàn trưởng. Thế là ầm ĩ lên. Một độc giả chống ba toong đến toà soạn gặp nhà thơ Xuân Sách, người biên tập cái truyện ngắn này: “Cái truyện bậy bạ quá! Phản động quá! Thế mà sao các anh lại cho in? Đề nghị phải bắt ngay cái thằng viết truyện này!”. “Vâng! Cụ nói chí phải! Cái truyện bậy bạ quá! – Nhà thơ Xuân Sách cười tủm tỉm. – Chỉ tiếc tác giả lại đang đánh giặc ở chiến trường. Người cho in cái truyện này là đại tá Vũ Cao. Ông ấy đang ở tầng hai đấy. Cụ lên bắt ngay đi, không ông ấy trốn mất!”. Ông độc giả thập thễnh lên tầng hai, thấy Vũ Cao cười hô hố. Tiếng cười cứ nhẹ tâng. Hoá ra trời đất vẫn hoà bình, chẳng có gì nguy hiểm ảnh hưởng đến an ninh thế giới!

Sau này, Vũ Cao chuyển ra ngoài quân đội. Ông để tiếng cười ở cơ quan, làm hồng phúc, hương hoả cho anh em ở lại.

II

Mùa xuân bữa ấy hình như đến sớm hơn thường lệ. Mới giữa tháng Mười đã thấy mưa bụi bay phiêu diêu như khói. Không khí đã nhuốm hơi xuân. Có gì bâng khuâng, náo nức trong trời đất, trong lòng người. Tạp chí Văn nghệ quân đội làm một cuộc về nguồn. Trưởng đoàn là nhà thơ Vũ Cao, cựu tổng biên tập Tạp chí. Đi “hộ tống” nhà thơ còn có cả một đoàn tuỳ tùng, gồm đầy đủ các thành phần cơ cấu: Nhà văn lão thành cách mạng Nam Hà, nhà văn đương kim phó tổng biên tập Nguyễn Bảo, nhà phê bình Hồng Diệu, còn tôi làm anh loong toong. Thế là đủ cả ba thế hệ nhà văn cầm súng.

Ở làng Quặng, xã Định Biên, Thái Nguyên, nơi đóng quân của báo Cứu Quốc xưa, bây giờ Vũ Cao chỉ còn nhớ được hai kỷ niệm. Đó là một cây đa già và một cô gái trẻ. Cây đa chẳng biết có từ bao giờ, sùm soà buông rễ uốn thành một cái cổng làng rất độc đáo. Còn cô gái trẻ tên là Ma Thị Chanh. Cứ như lời Vũ Cao thì cô Chanh đẹp lắm. Trong đời mình, dường như chưa bao giờ ông gặp một cô bé nào có vẻ đẹp như thế. Hình bóng cô cứ lung linh suốt trong tâm trí của ông.

Chiếc xe lướt như trôi trên con đường mềm như một dải lụa, lượn qua mấy dải đồi xập xoè những tán cọ xanh mỡ. Tôi quay lại, hỏi trêu Vũ Cao:

– Sao ngày xưa các bác tìm được chỗ ẩn nấp khéo thế? Đúng là An toàn khu. ở đây còn an toàn tuyệt đối hơn nữa. Bởi chỉ có mỗi một con đường độc đạo này thôi. Hai ổ súng trấn ở hai ngọn đồi kia là xong rồi. Chẳng thằng địch nào có thể mò vào được. Đánh giặc như các bác thật sướng!

– Đâu có! – Vũ Cao cười ho hố. – Ngày xưa làm gì có con đường đẹp như thế này. Chỉ mỗi lối mòn phủ đầy lau sậy. Ngựa đi còn thấy khó, huống hồ người. ấy vậy mà cũng rất nguy hiểm. Thôi Hữu đã hy sinh ngay khi đang đi trên con đường này đây. Tội! Cậu ấy khoẻ lắm. Người cứ chắc nịch như thợ cày. Ăn khoẻ. Ngủ khoẻ. Viết khoẻ. Cậu ấy bị một quả moóc-chi-ê bắn trúng đầu. Thế là chết. Chết tang thương. Mà chết cứ như đùa…

Nói rồi, Vũ Cao ngồi im lặng, vẻ tư lự. Trông ông như một pho tượng đá. Mãi đến lúc nhìn thấy “cố nhân”, ông như mới choàng tỉnh, mới từ cõi đá về lại xứ người. ấy là khi cây đa hiện ra trước mũi xe, che rợp cả một khoảng sân kho mà như lời Vũ Cao, trước đây, nó là một bãi chợ, lèo tèo vài cái quán xiêu vẹo lợp lá mía. Cây đa đúng là rất già. Gốc và cành nổi múi cuồn cuộn. Từ trên cao, buông xuống những chùm rễ to sụ, uốn vắt thành một cái cổng sùm sòa ôm lấy con đường rải sỏi chạy ngang qua cánh đồng sang mãi làng bên. Xưa kia, Thâm Tâm và ông ngày nào cũng hai lượt đi qua cái “cổng làng” này đến cơ quan và bếp ăn tập thể. Bây giờ trông nó vẫn thế. Cả cây đa nữa, vẫn y hệt như ngày xưa. Vũ Cao lặng ngắm cây đa. Còn tôi thì tò mò ngắm ông. Cảm giác như trước mặt tôi là hai cây đa đang đắm đuối nhìn nhau. Chẳng biết “cây đa” nào cổ kính hơn “cây đa” nào. Giọng Vũ Cao bùi ngùi:

– Đến đây, mình thấy nhớ Thâm Tâm quá. Mình hơn một năm sống với Thâm Tâm. Cái này, cứ như là có số trời sắp đặt ấy. Mình được tổ chức phân công sống cùng nhà với Thâm Tâm. Nhà cô Chanh, ở ngay đầu xóm kia thôi. Đấy, nóc nhà sau mấy khóm lau ấy…

Đó là căn nhà sàn khá rộng, nằm khuất trong cây lá. Đường vào nhà đầy lá mục. Cỏ lau lan đến tận chân sàn. Thiên nhiên ở đây dường như vẫn giữ được nguyên vẻ hoang sơ như mấy chục năm trước. Tất tưởi đón chúng tôi là một người phụ nữ nhỏ nhắn. Bà Chanh! Người trong cõi mộng của Vũ Cao đây ư? Tôi bàng hoàng kinh ngạc. Bà Chanh mời chúng tôi lên nhà, rồi lúi húi pha nước. Nước lá rừng ngai ngái đắng. Nhưng Vũ Cao uống rất ngon lành. Hình như ông đã nghiện cái thứ trà rừng này từ xa xưa.

– Năm ngoái, bác lên vội quá, em chưa kịp ngả con lợn mời bác thì bác đã đi rồi…

Bà Chanh tỏ vẻ nuối tiếc. Vũ Cao cười:

– Bây giờ già rồi, chẳng ăn gì được đâu. Cô đừng bày vẽ làm gì!

– Ừ, đúng là bác Cao già rồi! Mà em cũng già rồi! ốm đau luôn đấy. Ngày xưa leo núi phăm phăm. Bây giờ chẳng leo núi cũng mỏi. Em cũng đã 67 tuổi rồi đấy, bác Cao ạ!

Quả là so với cái tuổi 67, bà Chanh còn trẻ lắm. Trông bà chỉ như người ở lứa tuổi 50. Má căng. Da hồng ửng nhu trái táo Mèo. Dáng nhỏ nhắn và nhanh nhẹn. Đôi mắt sáng. Hàm răng hạt na đen rưng rức. Mái tóc xanh dày, búi cao, chưa có một sợi bạc. Bà cười, rất hồn nhiên:

– Ngày xưa có nhiều anh bộ đội yêu tôi lắm. Nhưng tôi không dám lấy đâu. Bố mẹ tôi cũng không cho lấy, sợ phải theo chồng về xuôi, mất con. Nếu hồi ấy, tôi lấy chồng Hà Nội thì không khéo tôi lên tướng rồi. Tôi có nhan sắc nhá, lại có trình độ nhá. Thế thì lên tướng là cái chắc rồi…

– Nói đúng ra là chị có thể làm bà tướng. Là vợ một ông tướng nào đó…

Nhà văn Nam Hà nói chen vào. Bà Chanh lắc đầu, quả quyết:

– Không, tôi phải làm tướng kia. Làm vợ tướng thì cần gì phải học. Tôi có trình độ mà!

– Cô học lớp mấy hồi ấy?

Tôi đâm tò mò. Bà Chanh cười:

– Tôi học lớp Bốn mờ. Lớp Bốn là trình độ cao rồi đấy. Có thể làm tướng được đấy. Có người chỉ học có lớp Ba mà vẫn làm được ông to. Kiến thức cả đời dùng vẫn không hết. Có phải thế không, bác Cao?

Vũ Cao bụm miệng cười:

– Đúng là cô Chanh ngày ấy đẹp lắm. Ở cả vùng này chỉ có hai cô đẹp thôi. Cô Chanh và cô A Mai…

– Bà Mai bây giờ còng rồi. Răng rụng hết rồi. Còn em thì cũng thành Chanh héo, Chanh úa, Chanh thối, sắp vứt xuống lỗ rồi. Hồi bác Cao ở đây, em còn bé tí…

– Chính vì thế mà cô chẳng nhớ chúng tôi đâu nhỉ?

– Chỉ có các bác nhớ em, chứ làm sao em nhớ được các bác. Mấy năm gần đây, thỉnh thoảng bác còn về. Còn một bác nữa thì không thấy về…

– À, đấy là anh Thâm Tâm. Anh ấy ở đây một năm. Rồi sau, chúng tôi về Cao Bằng. Anh Tâm mất ở trên ấy. Cô còn nhớ anh Thâm Tâm không?

Tất nhiên, bà Chanh không còn hình dung nổi gương mặt người chiến sĩ cách mạng ấy nữa. Bà chỉ mang máng nhớ có một người đàn ông đội chiếc mũ nồi, khoác tấm áo bông đã bạc, dáng nhỏ nhắn, hiền lành, rất ít nói, gương mặt lúc nào cũng trầm ngâm. Anh hay ngồi im lặng bên bếp lửa này. Bây giờ cái bếp vẫn thế. Cột nhà, xà nhà và mái lá vẫn đen óng bồ hóng. Cũng tại đây, trong một đêm mùa đông năm 1949, khí núi và sương rừng lùa từ chân sàn lên, buốt ngăn ngắt, Vũ Cao đã đọc cho Thâm Tâm nghe hai câu thơ Thâm Tâm mà ông rất tâm đắc:

Ngoài cửa mưa bay, xuân bốc rượu
Tấc lòng mong mỏi cháy tê tê…

Đấy là hai câu trong bài Vọng nhân hành, viết sau Tống biệt hành. Cả hai bài này, Thâm Tâm muốn ném vào dĩ vãng. Ông quyết đoạn tuyệt nó, chối bỏ nó để đến với cách mạng, không muốn vướng víu những nỗi buồn tiểu tư sản xưa cũ. Không ngờ, những cái ông toan vứt bỏ, người bạn đường của ông – người chiến sĩ cách mạng Vũ Cao – lại trân trọng gìn giữ và nâng niu. Điều ấy, làm ông vừa bối rối vừa sung sướng. Sau đó, ông cùng Vũ Cao đi chiến dịch Biên giới, rồi lên Cao Bằng. Hai ông vẫn ở cùng nhà. Đầu năm 1950, Vũ Cao cùng một đoàn cán bộ sang công tác bên Trung Quốc. Thâm Tâm tiễn ông ra đầu bản: “ Thôi, Cao đi nhé. Mình thấy trong người khó chịu quá!”. Vũ Cao tưởng ông chỉ ốm xì xằng như mọi bận thôi. Ai ngờ sau trận sốt đó, ông ra đi mãi mãi…

– Khổ bác ấy quá nhỉ! – Bà Chanh bùi ngùi. – Thế mà em không biết bác ấy là Thâm Tâm. Bài thơ của bác ấy, con Bính nhà em, con Ma Thị Bính ấy, bác Cao ạ, nó vẫn dạy cho học trò. Thế mà cả nhà chẳng ai biết bác Thâm Tâm nổi tiếng ấy đã từng ở đây hơn một năm giời… Tội quá!…

Trần Đăng Khoa

Kỷ niệm về nhà thơ Vũ Cao – Vân Long

Tôi ít được tiếp xúc với nhà thơ Vũ Cao, tuy vậy, tiếng lành đồn xa, tôi được biết nhà thơ Vũ Cao là một nhà lãnh đạo văn nghệ được anh chị em Văn nghệ quân đội yêu kính nhất.
Bởi ông đôn hậu, độ lượng như một người anh cả, sẵn sàng bỏ qua những thiếu sót về sinh hoạt của cấp dưới. Với những sai sót trong văn chương, chuyện to, ông hóa giải thành chuyện nhỏ, chuyện nhỏ coi như không có gì.
Riêng tôi còn hàm ơn ông trong vụ “đi tìm tác giả bài thơ Dặm về”. Đến lúc có đủ chứng lý bài thơ đó là của Nguyễn Đình Tiên, tác giả cuốn Chân dung tướng ngụy Sài Gòn, chứ không phải của Quang Dũng như nhiều người đã đoan quyết (trong đó có Hoàng Cầm, Nguyễn Dậu…) và một số tuyển tập thơ trong Sài Gòn trước Giải phóng (Thi nhân tiền chiến… in là của Quang Dũng).
Sau khi đã đưa nhân chứng đến gặp Nguyễn Đình Tiên (nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc người phổ nhạc bài thơ này ngay trước kháng chiến chống Pháp…) rồi người cuối cùng xác nhận là GS TS Nguyễn Đình Quang (Đi tìm xuất xứ một bài thơ, báo Văn Nghệ số 37 ra ngày 16/9/1989), vẫn có người, nhất là những người gần gũi công tác với Nguyễn Đình Tiên thắc mắc: “… chưa bao giờ thấy ông ấy nói đến thơ!”.
Những thắc mắc ấy lại chỉ xuất phát từ nhận định “Ông Nguyễn Đình Tiên là một cán bộ rất nguyên tắc, lý trí, hơn cả một cán bộ tổ chức. Sao ông có thể là tác giả bài thơ lãng mạn đó!”.
Tôi đã gặp nhà thơ Vũ Cao cũng là bạn lâu năm của đại tá Nguyễn Đình Tiên, kể về sự không thuyết phục được những người này, thì nhà thơ thấy ngay vấn đề, ông kể cho tôi nghe một kỷ niệm về Thâm Tâm thật ấn tượng:
Một đêm giao thừa ở Việt Bắc hồi kháng chiến chống Pháp, lúc Vũ Cao còn là một phóng viên báo Quân đội nhân dân, mà nhà thơ Thâm Tâm đang là thư ký tòa soạn.
“Ngày Tết, chỉ còn tôi và anh Thâm Tâm ở lại trực, bên đống lửa chống cái rét đêm 30, khi câu chuyện đi vào chiều sâu tâm sự, tôi dè dặt nói”: “Anh ạ! Muốn nói gì thì nói, bài thơ “Tống biệt hành” của anh, theo ý tôi, vẫn là bài thơ rất hay, xúc động lòng người. Đêm nay, chỉ có anh và tôi, anh cho tôi được đọc lại bài thơ đó!”.
Thâm Tâm nhíu mày, nghĩ ngợi, rồi khẽ gật đầu. Khi tôi đọc, tôi để ý, thấy từng câu, từng câu, mắt anh rưng lệ. Tôi đọc xong, anh lấy khăn tay chấm mắt, rồi nghiêm trọng cấm tôi từ nay không được nhắc đến bài thơ đó nữa!
Anh Vũ Cao nhớ lại tính nghiêm cẩn, nguyên tắc trong công việc của nhà thơ Thâm Tâm, “đặc biệt, anh có thể ngồi lì bên bàn viết cả buổi, nghiêm đến nỗi có liên lạc ở tuổi 18 (sau thành bà vợ tôi) đi qua sau lưng anh phải rón rén, sợ ảnh hưởng đến công việc của anh, mà tôi nhớ lúc đó, anh chỉ khoảng ngoài ba mươi tuổi. Anh khác hẳn con người nghệ sĩ Thâm Tâm trước Cách mạng như tôi được biết…”
Muốn trở thành con người mới, Thâm Tâm quyết dứt bỏ đứa con tinh thần, dấu ấn thời lãng mạn tiểu tư sản của minh! Phải chăng Nguyễn Đình Tiên cũng có sự thay đổi quyết liệt con người mình như vậy?
Hóa ra cách lý giải xã hội học của ông Vũ Cao lại mang tính thuyết phục người đọc không kém những chứng lý cụ thể cho bài viết của tôi hồi đó! (Bài thơ tìm được tác giả, báo Văn nghệ tháng 10/1989).
Sức sống của một bài thơ hay quyết liệt hơn ý chí chủ quan của con người, câu chuyện của anh Vũ Cao đã rọi sáng thêm cho tôi điều đó!
Thế mà có lúc tôi lại dám hỗn với anh trong một bài viết. Tôi còn giữ được bản photo bài báo Bài thơ ra đời như thế nào hình như in trên Văn Nghệ trẻ, lại quên ghi tên, số báo và ngày ra báo.
Bài viết tôi trả lời một bạn thơ trẻ thắc mắc về cách lý giải hai bài thơ hay tiêu biểu của hai bậc đàn anh Vũ Cao và Hoàng Cầm.
Trong một buổi tiếp xúc với độc giả ở Cung Văn hóa Việt Xô, Vũ Cao đã kể về sự ra đời bài thơ “Núi Đôi” (tôi cũng được nghe) như sau: “Tôi đi sau các bà trên đường đến chợ huyện. Các bà kể cho nhau nghe câu chuyện mà sau này tôi viết thành bài thơ “Núi Đôi”. Tôi chỉ là người ghi chép lại câu chuyện cảm động đó. Nếu không phải là tôi mà là ông Trần Lê Văn đây chẳng hạn nghe được, thì bài Núi Đôi… có khi là của ông Văn”.
Còn nhà thơ Hoàng Cầm đã nhiều lần kể với mọi người: “Tôi thỉnh thoảng cứ nghe có tiếng đọc thơ bên tai. Lúc có giấy bút sẵn tôi ghi thì không mất đi những cầu thơ hay, riêng bài “Lá diêu bông” thì giọng đọc bài thơ rành rọt (một giọng nữ) từ câu đầu đến câu cuối, tôi chỉ ghi chép lại”.
Bạn thơ trẻ viết cho tôi: “Hai cách cắt nghĩa thơ như nước với lửa này làm tôi, một người mới bước vào làng thơ hoang mang. Chả lẽ nhà thơ chỉ là người thư ký ghi chép thôi sao? Khi thì ghi từ lới các bà đi chợ, khi thì ghi lại lời của bậc thần nhân. Vậy những điều lý luận văn học đã đúc kết là thừa cả chăng? Không nói đến cảm hứng, không có cấu từ, không cả sự nghĩ ngợi tối thiểu của nhà thơ?”.
Tôi đành phải giải thích cho bạn trẻ hai cách nói trên của bậc đàn anh, đại ý: Nhà thơ Vũ Cao hẳn là có ý khiêm tốn, đề cao việc học tập ngôn ngữ dân gian.
Có những năm, văn nghệ sĩ đi vào thực tế học làm, học nói, tiếng nói của quần chúng đặc biệt được đề cao. Nhà thơ Vũ Cao là người trưởng thành từ thuở ấy, ông vẫn giữ nguyên quan niệm ấy. .
“Núi Đôi” là bài thơ kể chuyện cảm động ta bằng lời kể dung dị rất gần ngôn ngữ dân gian. Ở câu chuyện thương cảm này, nếu cách điệu, duy mỹ sẽ làm giảm sự chân thực.
Nhưng… những câu như Xuân Dục, Đoài Đông đôi cánh lúa/ Bữa thì anh tới bữa em sang, có thể nói là ghi theo lời kể. Chứ Sương trắng người đi lại nhớ người hoặc: Nắng lụi bỗng dưng mờ bóng khói/ Núi vẫn đôi mà anh mất em thì nhà thơ muốn ghim ở mức chân chất mãi cũng không được, đến lúc cao trào của tình cảm, nó vẫn được thăng hoa.
Tôi đoan chắc không một bà nông dân nào nói ra được những câu như vậy! Nhà thơ cứ làm thơ một cách hồn nhiên như nước từ nguồn chảy ra, nhưng việc thưởng thức thì chúng ta có thể phân chất những thành phần gì từ nguồn nước ấy.
Còn nhà thơ Hoàng Cầm, hẳn là nhiều năm bị ức chế vì cách nhìn giản lược một thời, nay thời đổi mới đã chấp nhận những cách tiếp cận thực tế đa dạng hơn, yếu tố tâm linh không xa lạ gì với nhà thơ gặp thơ từ trước Cách mạng, nên ông muốn nói quá đi một chút đến mức thần bí hóa công việc sáng tạo…
Tôi giải thích cho bạn trẻ: Hai cách lý giải thơ của hai nhà thơ đàn anh trên, tưởng như đối lập mà vẫn gắn bó với nhau như hoạt động con lắc. Kéo qua về phía tả bao nhiêu, con lắc sẽ trả về phía hữu bấy nhiêu.
Tôi kết luận bài viết trên bằng một câu đùa trêu hai vị đàn anh:
“Bạn thích làm thơ, cứ làm thơ hồn nhiên như con nước vọt ra tự nguồn, dần dà thời gian (kinh nghiệm và tri thức thơ) sẽ điều chỉnh thơ bạn. Đứng hoang mang gì về tuyên ngôn các vị đàn anh, đến khi bạn nổi tiếng bạn lại lý giải thơ cách khác, nhiều người vẫn phải nghe…”.
Tôi áy náy như có gì không phải với hai người tôi yêu kính, nếu cách anh không đọc những dòng trên, coi như tôi nói sau lưng hai anh. Nghĩ thế, một hôm tôi đến gặp anh Vũ Cao, đưa anh xem bài báo và xin lỗi anh, nếu anh không thông cảm. Nhà thơ Vũ Cao đọc qua bài viết, rồi với nụ cười độ lượng quen thuộc:
– Lời nói cũng như trang chữ đã ra với công chúng, có sự phản hồi là điều tốt, mình có nói giữa sa mạc đâu! Cậu nói vui và có lý đấy, việc gì phải áy náy!
Thêm một lần tôi biết ơn nhà thơ, người lãnh đạo văn nghệ có đức độ hiếm có!

Vũ Cao ngâm thơ Thâm Tâm – Nhật Chung

(TNTT>) Nhà thơ ngâm thơ mình hay thơ người là chuyện bình thường, có gì phải nói? Nhưng không phải nhà thơ nào cũng sẵn sàng ngâm thơ, dù là thơ mình. Nhà thơ Vũ Cao thuộc trường hợp như vậy.

Nhà thơ Vũ Cao

Ông có lẽ là một trong những nhà thơ Việt đương đại khiêm nhường nhất, nhẹ nhàng nhất, và cũng ít… đọc thơ mình nhất. Dù ông là tác giả của bài thơ vượt thời gian “Núi Đôi”. Mỗi khi nghe đến câu thơ “Núi vẫn đôi mà anh mất em”, câu thơ giản dị như không thể giản dị hơn, mà cứa vào lòng ta nỗi xót đau khó câu thơ nào có được, tôi lại như thấy dáng đi dáng đứng sừng sững như một ngọn núi của tác giả bài thơ. Vũ Cao có lẽ phải cao đến hơn mét tám, có phải vì thế ông có tên là “Cao”? Nhưng con người cao lớn ấy lại thường “lặng thinh như núi”. Ông thật hiền, cứ lặng lẽ mà ấm áp. Nhiều lần gặp và cũng nhiều lần chuyện trò với ông, nhưng tôi chưa thấy Vũ Cao đọc thơ mình bao giờ. Cho tới một lần…
Ấy là vào khoảng năm 1978, Vũ Cao vào công tác tại trại sáng tác quân khu Năm, nơi tôi và một số nhà thơ nhà văn đang sống và viết. Sau khi làm việc với “trại trưởng” Nguyễn Chí Trung, buổi tối Vũ Cao tới nhà mấy anh em chúng tôi chơi. Hồi đó, nói tới “chơi” phải hiểu ngầm là tới “uống”. Vũ Cao tới nhà chúng tôi uống rượu. Bấy giờ thời buổi khó khăn, chúng tôi chỉ có rượu thuốc và mồi nhậu đơn sơ đãi ông. Nhưng Vũ Cao uống rượu với chúng tôi vô cùng hào hứng. Hóa ra, “ông già” uống rất được! Tới lúc bốc, đột nhiên Vũ Cao… ngâm thơ. Không phải bài “Núi Đôi”, không phải thơ ông, mà Vũ Cao ngâm thơ Thâm Tâm, một người bạn, người anh, người đồng chí mà ông vô cùng quý trọng và kính phục.
Thật bất ngờ, giọng Vũ Cao ngâm thơ, nhất là ngâm bài “Tống biệt hành” của Thâm Tâm, nghe hay đến… nhức xương. Nó da diết, hào sảng, bất cần, thất vọng, rồi hy vọng… Lúc bấy giờ tôi cảm giác, cứ như Thâm Tâm đang nhập vào Vũ Cao để đọc bài thơ này. Bài thơ đã hết mà im lặng trong bàn rượu còn kéo dài hàng phút. Tất cả chúng tôi đều xúc động. Vũ Cao sau đó còn ngâm một vài bài thơ Thâm Tâm, trong đó có cả bài thơ hình như chưa được Thâm Tâm công bố. Giọng ngâm của Vũ Cao đầy ma mị mà lại ấm áp vô cùng. Tôi chợt nghĩ, chúng ta còn hiểu về nhà thơ “lặng im như núi” này quá ít.
Con người ấy thường vẫn giấu kín những “xúc cảm nguồn” của mình, và vẫn sống như một người hết sức bình dị, nhân hậu và khiêm nhường. Chỉ tới một lúc nào đó, gặp một “trường đồng cảm” nào đó, ông mới thật trải lòng mình. Đêm đó Vũ Cao tâm sự với chúng tôi rất nhiều chuyện mà tôi biết, bình thường ông không hề nói với ai. Chẳng phải vì chúng tôi thân với ông hơn người khác, mà đơn giản, chỉ vì chúng tôi ăn may gặp đúng “cơn” thổ lộ, vọt trào, xuất thần của ông.
Nhật Chung
Nguồn: http://www.baomoi.com/Vu-Cao-ngam-tho/152/3778715.epi

Viếng mộ Thâm Tâm – Nguyễn Siêu Việt

Nhà ông ở Hải Dương, ngày nào tôi chẳng qua
Mà phần mộ ông hôm nay tôi mới đến
Người phụ nữ Nùng chỉ tôi, cái nhìn cảm mến:
– Kia, mộ ông ở chỗ hai cái cây!

“Tống biệt hành”, đã bao lần tôi giảng cho
bầy em thơ ngây
Nhưng cuộc li biệt này vẫn không sao hiểu nổi
Có lẽ nào lại “coi như hạt bụi”?

Giữa khoảng ánh ngày níu tắt
Đầy hoàng hôn trong mắt trong
Tôi lần đọc dòng chữ khắc
“Nhà thơ – liệt sĩ” khiêm nhường

Chợt tôi nhìn lên: mảnh trăng non ngậm sương muối
đầm đầm
Để nhận ra đời mình có một góc “Thâm Tâm”
Gửi lại đá núi Quảng Uyên gió hú…

Văn Nghệ Công An 18/06/2009

Đi tìm Anh (kỷ niệm 50 năm ngày mất nhà thơ Thâm Tâm) – Y Phương

Thân tặng Anh chị Nguyễn Tuấn Khoa

‘Đưa người ta không đưa qua sông”
Câu thơ anh tôi đọc một lần
Nhớ một đời.

Hôm nay
Cả nước đi tìm anh
Thi sĩ tài hoa
“Một đi không trở lại”.

Ai như áo bông trần quả chám
Mũ nan lưới dù
Tái tê cơn sốt
Ai như mũ nồi cười
Áo nâu sồng túi dết
Thơ như súng đi lùng giặc Pháp
Đêm đêm qua cửa nhà tôi.

Ai như khói sương, chiều vàng rơm rạ
Bản nghèo nơi chân đèo Mã Phục
Ai lại về chùi chân cầu thang
Lập bập gọi tôi ra mở cửa.

Đi lâu thế nhà thơ, trời sắp đổ cơn mưa
Hơn một ngàn tuần nhang tôi thắp
Trọn một đời đội xanh đi tìm anh
Sao đi lâu thế nhà thơ ơi…

Bỗng đâu hoa đá mỉm cười
Núi ấm dần lên.

Cao Bằng 18-8-2000