Nhớ Vũ Cao, nhớ lại chuyến về nguồn – Trần Đăng Khoa

Tôi không ngờ bây giờ, nhà thơ Vũ Cao đã thành người của cõi nhớ thương. Trong khoảnh khắc ly biệt này, tôi lại nhớ những kỷ niệm với ông, đặc biệt là chuyến theo ông về nguồn. Cũng lâu rồi. Có lẽ đã chục năm.

Có lần, bên ấm trà đã nhạt, trong một căn phòng nhỏ ở nhà số 4 Lý Nam Đế, nhà văn Nguyễn Minh Châu đã kể cho đám hậu sinh chúng tôi về cái cảm giác của ông khi lần đầu tiên trông thấy Nguyễn Công Hoan. Đứng trước cụ Hoan, Nguyễn Minh Châu cứ thấy rợn ngợp như đứng trước một con Khủng Long vừa hiện hình người. Mà cũng phải thôi! Cụ Hoan có truyện ngắn in báo từ năm 1920. Mãi mười năm sau, cậu bé Châu mới ra đời. Bởi thế, đối với Nguyễn Minh Châu, cụ Hoan như người ở thế kỷ trước, ở mấy kiếp trước. Thế thì ông cụ đúng là con Khủng Long rồi còn gì!

Tôi cũng có cái cảm giác rợn ngợp như vậy khi nhìn thấy Vũ Cao. Đối với tôi, Vũ Cao cũng chẳng khác gì một con Khủng Long. Trông ông cụ cũng cổ kính lắm, hồng hoang lắm. Ông viết Núi Đôi khi tôi vẫn đang còn là một hạt bụi, bay phiêu diêu, lơ lửng đâu đó trong cõi hoang dại. Nhưng khi hỏi ông về bài thơ đã làm nên tên tuổi ông thì ông chỉ cười hô hố. Cái cười cứ nhẹ tênh tênh. Nhiều người bảo Vũ Cao hơn người ở tiếng cười ấy. Bằng tiếng cười đó, ông có thể vượt qua bao nhiêu sóng gió, phức tạp. Hồi ông còn trụ trì ở ngôi chùa thiêng có cái tên rất hiện đại: Tạp chí Văn nghệ quân đội, anh em trong cơ quan với nhau đều thành người ruột thịt. Gặp nhau vui ríu rít. Đó là thời hoàng kim của Văn nghệ quân đội. Tạp chí tung ra đời hàng loạt tác phẩm đặc sắc. Bạn đọc cả nước đón nhận nồng nhiệt. Tạp chí thành một địa chỉ văn hoá đáng tin cậy của cả nước. Ở tòa soạn của tạp chí, ngày nào cũng nườm nượp khách khứa. Nhà thơ Xuân Quỳnh bảo: “Đây là cái nôi của những cây bút trẻ, là trụ sở thứ hai của Hội Nhà văn Việt Nam”. Rồi có lần, chị còn đến tìm gặp Vũ Cao: “Anh cho em tòng quân với nhé. Em chỉ làm lính của anh thôi. Anh xếp em việc gì cũng được”. Vũ Cao vui lắm: “Tốt quá! Nhưng ở đây không thiếu nhà thơ, chỉ thiếu lãnh đạo thôi. Hay cô về thay tôi làm lãnh đạo nhé!”. “Ôi dào ôi! Em tưởng làm nhà thơ mới khó, chứ làm lãnh đạo thì khó quái gì!”. Vũ Cao lại bụm miệng cười. Ông công nhận Xuân Quỳnh nói đúng. Làm lãnh đạo như ông chẳng khó gì. Ông lãnh đạo mà lại như không lãnh đạo gì cả. Đó mới đúng là cách lãnh đạo văn nghệ. Điều này thì không phải ai cũng biết. “Mình nghiệm thấy ở cái nhà số 4 này, anh nào thế nào thì nó đã như thế rồi. – Vũ Cao rủ rỉ. – Người sắc sảo thì đã sắc sảo ngay. Người tham lam, lủn mủn thì đến già cũng vẫn cứ tham lam, lủn mủn. Giời sinh ra thế nào thì nó cứ thế thôi. Làm sao mà “rèn luyện” với “giác ngộ” được cơ chứ! Nói như lý thuyết, như sách vở, như người ta vẫn a dua nhau là sai toét!

Còn nhớ hồi tạp chí Văn nghệ Quân đội in truyện ngắn Hai người trở về trung đoàn của Thái Bá Lợi. Đây là dạng truyện ngắn viết dài. Cái truyện cũng chẳng có gì ghê gớm. Chỉ mỗi một chi tiết: Nhân vật chính là anh lính lại tằng tịu lừa một cô gái, thế mà rồi chẳng sao, lại lên cấp lên chức, rồi làm đến Trung đoàn trưởng. Thế là ầm ĩ lên. Một độc giả chống ba toong đến toà soạn gặp nhà thơ Xuân Sách, người biên tập cái truyện ngắn này: “Cái truyện bậy bạ quá! Phản động quá! Thế mà sao các anh lại cho in? Đề nghị phải bắt ngay cái thằng viết truyện này!”. “Vâng! Cụ nói chí phải! Cái truyện bậy bạ quá! – Nhà thơ Xuân Sách cười tủm tỉm. – Chỉ tiếc tác giả lại đang đánh giặc ở chiến trường. Người cho in cái truyện này là đại tá Vũ Cao. Ông ấy đang ở tầng hai đấy. Cụ lên bắt ngay đi, không ông ấy trốn mất!”. Ông độc giả thập thễnh lên tầng hai, thấy Vũ Cao cười hô hố. Tiếng cười cứ nhẹ tâng. Hoá ra trời đất vẫn hoà bình, chẳng có gì nguy hiểm ảnh hưởng đến an ninh thế giới!

Sau này, Vũ Cao chuyển ra ngoài quân đội. Ông để tiếng cười ở cơ quan, làm hồng phúc, hương hoả cho anh em ở lại.

II

Mùa xuân bữa ấy hình như đến sớm hơn thường lệ. Mới giữa tháng Mười đã thấy mưa bụi bay phiêu diêu như khói. Không khí đã nhuốm hơi xuân. Có gì bâng khuâng, náo nức trong trời đất, trong lòng người. Tạp chí Văn nghệ quân đội làm một cuộc về nguồn. Trưởng đoàn là nhà thơ Vũ Cao, cựu tổng biên tập Tạp chí. Đi “hộ tống” nhà thơ còn có cả một đoàn tuỳ tùng, gồm đầy đủ các thành phần cơ cấu: Nhà văn lão thành cách mạng Nam Hà, nhà văn đương kim phó tổng biên tập Nguyễn Bảo, nhà phê bình Hồng Diệu, còn tôi làm anh loong toong. Thế là đủ cả ba thế hệ nhà văn cầm súng.

Ở làng Quặng, xã Định Biên, Thái Nguyên, nơi đóng quân của báo Cứu Quốc xưa, bây giờ Vũ Cao chỉ còn nhớ được hai kỷ niệm. Đó là một cây đa già và một cô gái trẻ. Cây đa chẳng biết có từ bao giờ, sùm soà buông rễ uốn thành một cái cổng làng rất độc đáo. Còn cô gái trẻ tên là Ma Thị Chanh. Cứ như lời Vũ Cao thì cô Chanh đẹp lắm. Trong đời mình, dường như chưa bao giờ ông gặp một cô bé nào có vẻ đẹp như thế. Hình bóng cô cứ lung linh suốt trong tâm trí của ông.

Chiếc xe lướt như trôi trên con đường mềm như một dải lụa, lượn qua mấy dải đồi xập xoè những tán cọ xanh mỡ. Tôi quay lại, hỏi trêu Vũ Cao:

– Sao ngày xưa các bác tìm được chỗ ẩn nấp khéo thế? Đúng là An toàn khu. ở đây còn an toàn tuyệt đối hơn nữa. Bởi chỉ có mỗi một con đường độc đạo này thôi. Hai ổ súng trấn ở hai ngọn đồi kia là xong rồi. Chẳng thằng địch nào có thể mò vào được. Đánh giặc như các bác thật sướng!

– Đâu có! – Vũ Cao cười ho hố. – Ngày xưa làm gì có con đường đẹp như thế này. Chỉ mỗi lối mòn phủ đầy lau sậy. Ngựa đi còn thấy khó, huống hồ người. ấy vậy mà cũng rất nguy hiểm. Thôi Hữu đã hy sinh ngay khi đang đi trên con đường này đây. Tội! Cậu ấy khoẻ lắm. Người cứ chắc nịch như thợ cày. Ăn khoẻ. Ngủ khoẻ. Viết khoẻ. Cậu ấy bị một quả moóc-chi-ê bắn trúng đầu. Thế là chết. Chết tang thương. Mà chết cứ như đùa…

Nói rồi, Vũ Cao ngồi im lặng, vẻ tư lự. Trông ông như một pho tượng đá. Mãi đến lúc nhìn thấy “cố nhân”, ông như mới choàng tỉnh, mới từ cõi đá về lại xứ người. ấy là khi cây đa hiện ra trước mũi xe, che rợp cả một khoảng sân kho mà như lời Vũ Cao, trước đây, nó là một bãi chợ, lèo tèo vài cái quán xiêu vẹo lợp lá mía. Cây đa đúng là rất già. Gốc và cành nổi múi cuồn cuộn. Từ trên cao, buông xuống những chùm rễ to sụ, uốn vắt thành một cái cổng sùm sòa ôm lấy con đường rải sỏi chạy ngang qua cánh đồng sang mãi làng bên. Xưa kia, Thâm Tâm và ông ngày nào cũng hai lượt đi qua cái “cổng làng” này đến cơ quan và bếp ăn tập thể. Bây giờ trông nó vẫn thế. Cả cây đa nữa, vẫn y hệt như ngày xưa. Vũ Cao lặng ngắm cây đa. Còn tôi thì tò mò ngắm ông. Cảm giác như trước mặt tôi là hai cây đa đang đắm đuối nhìn nhau. Chẳng biết “cây đa” nào cổ kính hơn “cây đa” nào. Giọng Vũ Cao bùi ngùi:

– Đến đây, mình thấy nhớ Thâm Tâm quá. Mình hơn một năm sống với Thâm Tâm. Cái này, cứ như là có số trời sắp đặt ấy. Mình được tổ chức phân công sống cùng nhà với Thâm Tâm. Nhà cô Chanh, ở ngay đầu xóm kia thôi. Đấy, nóc nhà sau mấy khóm lau ấy…

Đó là căn nhà sàn khá rộng, nằm khuất trong cây lá. Đường vào nhà đầy lá mục. Cỏ lau lan đến tận chân sàn. Thiên nhiên ở đây dường như vẫn giữ được nguyên vẻ hoang sơ như mấy chục năm trước. Tất tưởi đón chúng tôi là một người phụ nữ nhỏ nhắn. Bà Chanh! Người trong cõi mộng của Vũ Cao đây ư? Tôi bàng hoàng kinh ngạc. Bà Chanh mời chúng tôi lên nhà, rồi lúi húi pha nước. Nước lá rừng ngai ngái đắng. Nhưng Vũ Cao uống rất ngon lành. Hình như ông đã nghiện cái thứ trà rừng này từ xa xưa.

– Năm ngoái, bác lên vội quá, em chưa kịp ngả con lợn mời bác thì bác đã đi rồi…

Bà Chanh tỏ vẻ nuối tiếc. Vũ Cao cười:

– Bây giờ già rồi, chẳng ăn gì được đâu. Cô đừng bày vẽ làm gì!

– Ừ, đúng là bác Cao già rồi! Mà em cũng già rồi! ốm đau luôn đấy. Ngày xưa leo núi phăm phăm. Bây giờ chẳng leo núi cũng mỏi. Em cũng đã 67 tuổi rồi đấy, bác Cao ạ!

Quả là so với cái tuổi 67, bà Chanh còn trẻ lắm. Trông bà chỉ như người ở lứa tuổi 50. Má căng. Da hồng ửng nhu trái táo Mèo. Dáng nhỏ nhắn và nhanh nhẹn. Đôi mắt sáng. Hàm răng hạt na đen rưng rức. Mái tóc xanh dày, búi cao, chưa có một sợi bạc. Bà cười, rất hồn nhiên:

– Ngày xưa có nhiều anh bộ đội yêu tôi lắm. Nhưng tôi không dám lấy đâu. Bố mẹ tôi cũng không cho lấy, sợ phải theo chồng về xuôi, mất con. Nếu hồi ấy, tôi lấy chồng Hà Nội thì không khéo tôi lên tướng rồi. Tôi có nhan sắc nhá, lại có trình độ nhá. Thế thì lên tướng là cái chắc rồi…

– Nói đúng ra là chị có thể làm bà tướng. Là vợ một ông tướng nào đó…

Nhà văn Nam Hà nói chen vào. Bà Chanh lắc đầu, quả quyết:

– Không, tôi phải làm tướng kia. Làm vợ tướng thì cần gì phải học. Tôi có trình độ mà!

– Cô học lớp mấy hồi ấy?

Tôi đâm tò mò. Bà Chanh cười:

– Tôi học lớp Bốn mờ. Lớp Bốn là trình độ cao rồi đấy. Có thể làm tướng được đấy. Có người chỉ học có lớp Ba mà vẫn làm được ông to. Kiến thức cả đời dùng vẫn không hết. Có phải thế không, bác Cao?

Vũ Cao bụm miệng cười:

– Đúng là cô Chanh ngày ấy đẹp lắm. Ở cả vùng này chỉ có hai cô đẹp thôi. Cô Chanh và cô A Mai…

– Bà Mai bây giờ còng rồi. Răng rụng hết rồi. Còn em thì cũng thành Chanh héo, Chanh úa, Chanh thối, sắp vứt xuống lỗ rồi. Hồi bác Cao ở đây, em còn bé tí…

– Chính vì thế mà cô chẳng nhớ chúng tôi đâu nhỉ?

– Chỉ có các bác nhớ em, chứ làm sao em nhớ được các bác. Mấy năm gần đây, thỉnh thoảng bác còn về. Còn một bác nữa thì không thấy về…

– À, đấy là anh Thâm Tâm. Anh ấy ở đây một năm. Rồi sau, chúng tôi về Cao Bằng. Anh Tâm mất ở trên ấy. Cô còn nhớ anh Thâm Tâm không?

Tất nhiên, bà Chanh không còn hình dung nổi gương mặt người chiến sĩ cách mạng ấy nữa. Bà chỉ mang máng nhớ có một người đàn ông đội chiếc mũ nồi, khoác tấm áo bông đã bạc, dáng nhỏ nhắn, hiền lành, rất ít nói, gương mặt lúc nào cũng trầm ngâm. Anh hay ngồi im lặng bên bếp lửa này. Bây giờ cái bếp vẫn thế. Cột nhà, xà nhà và mái lá vẫn đen óng bồ hóng. Cũng tại đây, trong một đêm mùa đông năm 1949, khí núi và sương rừng lùa từ chân sàn lên, buốt ngăn ngắt, Vũ Cao đã đọc cho Thâm Tâm nghe hai câu thơ Thâm Tâm mà ông rất tâm đắc:

Ngoài cửa mưa bay, xuân bốc rượu
Tấc lòng mong mỏi cháy tê tê…

Đấy là hai câu trong bài Vọng nhân hành, viết sau Tống biệt hành. Cả hai bài này, Thâm Tâm muốn ném vào dĩ vãng. Ông quyết đoạn tuyệt nó, chối bỏ nó để đến với cách mạng, không muốn vướng víu những nỗi buồn tiểu tư sản xưa cũ. Không ngờ, những cái ông toan vứt bỏ, người bạn đường của ông – người chiến sĩ cách mạng Vũ Cao – lại trân trọng gìn giữ và nâng niu. Điều ấy, làm ông vừa bối rối vừa sung sướng. Sau đó, ông cùng Vũ Cao đi chiến dịch Biên giới, rồi lên Cao Bằng. Hai ông vẫn ở cùng nhà. Đầu năm 1950, Vũ Cao cùng một đoàn cán bộ sang công tác bên Trung Quốc. Thâm Tâm tiễn ông ra đầu bản: “ Thôi, Cao đi nhé. Mình thấy trong người khó chịu quá!”. Vũ Cao tưởng ông chỉ ốm xì xằng như mọi bận thôi. Ai ngờ sau trận sốt đó, ông ra đi mãi mãi…

– Khổ bác ấy quá nhỉ! – Bà Chanh bùi ngùi. – Thế mà em không biết bác ấy là Thâm Tâm. Bài thơ của bác ấy, con Bính nhà em, con Ma Thị Bính ấy, bác Cao ạ, nó vẫn dạy cho học trò. Thế mà cả nhà chẳng ai biết bác Thâm Tâm nổi tiếng ấy đã từng ở đây hơn một năm giời… Tội quá!…

Trần Đăng Khoa

Kỷ niệm về nhà thơ Vũ Cao – Vân Long

Tôi ít được tiếp xúc với nhà thơ Vũ Cao, tuy vậy, tiếng lành đồn xa, tôi được biết nhà thơ Vũ Cao là một nhà lãnh đạo văn nghệ được anh chị em Văn nghệ quân đội yêu kính nhất.
Bởi ông đôn hậu, độ lượng như một người anh cả, sẵn sàng bỏ qua những thiếu sót về sinh hoạt của cấp dưới. Với những sai sót trong văn chương, chuyện to, ông hóa giải thành chuyện nhỏ, chuyện nhỏ coi như không có gì.
Riêng tôi còn hàm ơn ông trong vụ “đi tìm tác giả bài thơ Dặm về”. Đến lúc có đủ chứng lý bài thơ đó là của Nguyễn Đình Tiên, tác giả cuốn Chân dung tướng ngụy Sài Gòn, chứ không phải của Quang Dũng như nhiều người đã đoan quyết (trong đó có Hoàng Cầm, Nguyễn Dậu…) và một số tuyển tập thơ trong Sài Gòn trước Giải phóng (Thi nhân tiền chiến… in là của Quang Dũng).
Sau khi đã đưa nhân chứng đến gặp Nguyễn Đình Tiên (nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc người phổ nhạc bài thơ này ngay trước kháng chiến chống Pháp…) rồi người cuối cùng xác nhận là GS TS Nguyễn Đình Quang (Đi tìm xuất xứ một bài thơ, báo Văn Nghệ số 37 ra ngày 16/9/1989), vẫn có người, nhất là những người gần gũi công tác với Nguyễn Đình Tiên thắc mắc: “… chưa bao giờ thấy ông ấy nói đến thơ!”.
Những thắc mắc ấy lại chỉ xuất phát từ nhận định “Ông Nguyễn Đình Tiên là một cán bộ rất nguyên tắc, lý trí, hơn cả một cán bộ tổ chức. Sao ông có thể là tác giả bài thơ lãng mạn đó!”.
Tôi đã gặp nhà thơ Vũ Cao cũng là bạn lâu năm của đại tá Nguyễn Đình Tiên, kể về sự không thuyết phục được những người này, thì nhà thơ thấy ngay vấn đề, ông kể cho tôi nghe một kỷ niệm về Thâm Tâm thật ấn tượng:
Một đêm giao thừa ở Việt Bắc hồi kháng chiến chống Pháp, lúc Vũ Cao còn là một phóng viên báo Quân đội nhân dân, mà nhà thơ Thâm Tâm đang là thư ký tòa soạn.
“Ngày Tết, chỉ còn tôi và anh Thâm Tâm ở lại trực, bên đống lửa chống cái rét đêm 30, khi câu chuyện đi vào chiều sâu tâm sự, tôi dè dặt nói”: “Anh ạ! Muốn nói gì thì nói, bài thơ “Tống biệt hành” của anh, theo ý tôi, vẫn là bài thơ rất hay, xúc động lòng người. Đêm nay, chỉ có anh và tôi, anh cho tôi được đọc lại bài thơ đó!”.
Thâm Tâm nhíu mày, nghĩ ngợi, rồi khẽ gật đầu. Khi tôi đọc, tôi để ý, thấy từng câu, từng câu, mắt anh rưng lệ. Tôi đọc xong, anh lấy khăn tay chấm mắt, rồi nghiêm trọng cấm tôi từ nay không được nhắc đến bài thơ đó nữa!
Anh Vũ Cao nhớ lại tính nghiêm cẩn, nguyên tắc trong công việc của nhà thơ Thâm Tâm, “đặc biệt, anh có thể ngồi lì bên bàn viết cả buổi, nghiêm đến nỗi có liên lạc ở tuổi 18 (sau thành bà vợ tôi) đi qua sau lưng anh phải rón rén, sợ ảnh hưởng đến công việc của anh, mà tôi nhớ lúc đó, anh chỉ khoảng ngoài ba mươi tuổi. Anh khác hẳn con người nghệ sĩ Thâm Tâm trước Cách mạng như tôi được biết…”
Muốn trở thành con người mới, Thâm Tâm quyết dứt bỏ đứa con tinh thần, dấu ấn thời lãng mạn tiểu tư sản của minh! Phải chăng Nguyễn Đình Tiên cũng có sự thay đổi quyết liệt con người mình như vậy?
Hóa ra cách lý giải xã hội học của ông Vũ Cao lại mang tính thuyết phục người đọc không kém những chứng lý cụ thể cho bài viết của tôi hồi đó! (Bài thơ tìm được tác giả, báo Văn nghệ tháng 10/1989).
Sức sống của một bài thơ hay quyết liệt hơn ý chí chủ quan của con người, câu chuyện của anh Vũ Cao đã rọi sáng thêm cho tôi điều đó!
Thế mà có lúc tôi lại dám hỗn với anh trong một bài viết. Tôi còn giữ được bản photo bài báo Bài thơ ra đời như thế nào hình như in trên Văn Nghệ trẻ, lại quên ghi tên, số báo và ngày ra báo.
Bài viết tôi trả lời một bạn thơ trẻ thắc mắc về cách lý giải hai bài thơ hay tiêu biểu của hai bậc đàn anh Vũ Cao và Hoàng Cầm.
Trong một buổi tiếp xúc với độc giả ở Cung Văn hóa Việt Xô, Vũ Cao đã kể về sự ra đời bài thơ “Núi Đôi” (tôi cũng được nghe) như sau: “Tôi đi sau các bà trên đường đến chợ huyện. Các bà kể cho nhau nghe câu chuyện mà sau này tôi viết thành bài thơ “Núi Đôi”. Tôi chỉ là người ghi chép lại câu chuyện cảm động đó. Nếu không phải là tôi mà là ông Trần Lê Văn đây chẳng hạn nghe được, thì bài Núi Đôi… có khi là của ông Văn”.
Còn nhà thơ Hoàng Cầm đã nhiều lần kể với mọi người: “Tôi thỉnh thoảng cứ nghe có tiếng đọc thơ bên tai. Lúc có giấy bút sẵn tôi ghi thì không mất đi những cầu thơ hay, riêng bài “Lá diêu bông” thì giọng đọc bài thơ rành rọt (một giọng nữ) từ câu đầu đến câu cuối, tôi chỉ ghi chép lại”.
Bạn thơ trẻ viết cho tôi: “Hai cách cắt nghĩa thơ như nước với lửa này làm tôi, một người mới bước vào làng thơ hoang mang. Chả lẽ nhà thơ chỉ là người thư ký ghi chép thôi sao? Khi thì ghi từ lới các bà đi chợ, khi thì ghi lại lời của bậc thần nhân. Vậy những điều lý luận văn học đã đúc kết là thừa cả chăng? Không nói đến cảm hứng, không có cấu từ, không cả sự nghĩ ngợi tối thiểu của nhà thơ?”.
Tôi đành phải giải thích cho bạn trẻ hai cách nói trên của bậc đàn anh, đại ý: Nhà thơ Vũ Cao hẳn là có ý khiêm tốn, đề cao việc học tập ngôn ngữ dân gian.
Có những năm, văn nghệ sĩ đi vào thực tế học làm, học nói, tiếng nói của quần chúng đặc biệt được đề cao. Nhà thơ Vũ Cao là người trưởng thành từ thuở ấy, ông vẫn giữ nguyên quan niệm ấy. .
“Núi Đôi” là bài thơ kể chuyện cảm động ta bằng lời kể dung dị rất gần ngôn ngữ dân gian. Ở câu chuyện thương cảm này, nếu cách điệu, duy mỹ sẽ làm giảm sự chân thực.
Nhưng… những câu như Xuân Dục, Đoài Đông đôi cánh lúa/ Bữa thì anh tới bữa em sang, có thể nói là ghi theo lời kể. Chứ Sương trắng người đi lại nhớ người hoặc: Nắng lụi bỗng dưng mờ bóng khói/ Núi vẫn đôi mà anh mất em thì nhà thơ muốn ghim ở mức chân chất mãi cũng không được, đến lúc cao trào của tình cảm, nó vẫn được thăng hoa.
Tôi đoan chắc không một bà nông dân nào nói ra được những câu như vậy! Nhà thơ cứ làm thơ một cách hồn nhiên như nước từ nguồn chảy ra, nhưng việc thưởng thức thì chúng ta có thể phân chất những thành phần gì từ nguồn nước ấy.
Còn nhà thơ Hoàng Cầm, hẳn là nhiều năm bị ức chế vì cách nhìn giản lược một thời, nay thời đổi mới đã chấp nhận những cách tiếp cận thực tế đa dạng hơn, yếu tố tâm linh không xa lạ gì với nhà thơ gặp thơ từ trước Cách mạng, nên ông muốn nói quá đi một chút đến mức thần bí hóa công việc sáng tạo…
Tôi giải thích cho bạn trẻ: Hai cách lý giải thơ của hai nhà thơ đàn anh trên, tưởng như đối lập mà vẫn gắn bó với nhau như hoạt động con lắc. Kéo qua về phía tả bao nhiêu, con lắc sẽ trả về phía hữu bấy nhiêu.
Tôi kết luận bài viết trên bằng một câu đùa trêu hai vị đàn anh:
“Bạn thích làm thơ, cứ làm thơ hồn nhiên như con nước vọt ra tự nguồn, dần dà thời gian (kinh nghiệm và tri thức thơ) sẽ điều chỉnh thơ bạn. Đứng hoang mang gì về tuyên ngôn các vị đàn anh, đến khi bạn nổi tiếng bạn lại lý giải thơ cách khác, nhiều người vẫn phải nghe…”.
Tôi áy náy như có gì không phải với hai người tôi yêu kính, nếu cách anh không đọc những dòng trên, coi như tôi nói sau lưng hai anh. Nghĩ thế, một hôm tôi đến gặp anh Vũ Cao, đưa anh xem bài báo và xin lỗi anh, nếu anh không thông cảm. Nhà thơ Vũ Cao đọc qua bài viết, rồi với nụ cười độ lượng quen thuộc:
– Lời nói cũng như trang chữ đã ra với công chúng, có sự phản hồi là điều tốt, mình có nói giữa sa mạc đâu! Cậu nói vui và có lý đấy, việc gì phải áy náy!
Thêm một lần tôi biết ơn nhà thơ, người lãnh đạo văn nghệ có đức độ hiếm có!

Vũ Cao ngâm thơ Thâm Tâm – Nhật Chung

(TNTT>) Nhà thơ ngâm thơ mình hay thơ người là chuyện bình thường, có gì phải nói? Nhưng không phải nhà thơ nào cũng sẵn sàng ngâm thơ, dù là thơ mình. Nhà thơ Vũ Cao thuộc trường hợp như vậy.

Nhà thơ Vũ Cao

Ông có lẽ là một trong những nhà thơ Việt đương đại khiêm nhường nhất, nhẹ nhàng nhất, và cũng ít… đọc thơ mình nhất. Dù ông là tác giả của bài thơ vượt thời gian “Núi Đôi”. Mỗi khi nghe đến câu thơ “Núi vẫn đôi mà anh mất em”, câu thơ giản dị như không thể giản dị hơn, mà cứa vào lòng ta nỗi xót đau khó câu thơ nào có được, tôi lại như thấy dáng đi dáng đứng sừng sững như một ngọn núi của tác giả bài thơ. Vũ Cao có lẽ phải cao đến hơn mét tám, có phải vì thế ông có tên là “Cao”? Nhưng con người cao lớn ấy lại thường “lặng thinh như núi”. Ông thật hiền, cứ lặng lẽ mà ấm áp. Nhiều lần gặp và cũng nhiều lần chuyện trò với ông, nhưng tôi chưa thấy Vũ Cao đọc thơ mình bao giờ. Cho tới một lần…
Ấy là vào khoảng năm 1978, Vũ Cao vào công tác tại trại sáng tác quân khu Năm, nơi tôi và một số nhà thơ nhà văn đang sống và viết. Sau khi làm việc với “trại trưởng” Nguyễn Chí Trung, buổi tối Vũ Cao tới nhà mấy anh em chúng tôi chơi. Hồi đó, nói tới “chơi” phải hiểu ngầm là tới “uống”. Vũ Cao tới nhà chúng tôi uống rượu. Bấy giờ thời buổi khó khăn, chúng tôi chỉ có rượu thuốc và mồi nhậu đơn sơ đãi ông. Nhưng Vũ Cao uống rượu với chúng tôi vô cùng hào hứng. Hóa ra, “ông già” uống rất được! Tới lúc bốc, đột nhiên Vũ Cao… ngâm thơ. Không phải bài “Núi Đôi”, không phải thơ ông, mà Vũ Cao ngâm thơ Thâm Tâm, một người bạn, người anh, người đồng chí mà ông vô cùng quý trọng và kính phục.
Thật bất ngờ, giọng Vũ Cao ngâm thơ, nhất là ngâm bài “Tống biệt hành” của Thâm Tâm, nghe hay đến… nhức xương. Nó da diết, hào sảng, bất cần, thất vọng, rồi hy vọng… Lúc bấy giờ tôi cảm giác, cứ như Thâm Tâm đang nhập vào Vũ Cao để đọc bài thơ này. Bài thơ đã hết mà im lặng trong bàn rượu còn kéo dài hàng phút. Tất cả chúng tôi đều xúc động. Vũ Cao sau đó còn ngâm một vài bài thơ Thâm Tâm, trong đó có cả bài thơ hình như chưa được Thâm Tâm công bố. Giọng ngâm của Vũ Cao đầy ma mị mà lại ấm áp vô cùng. Tôi chợt nghĩ, chúng ta còn hiểu về nhà thơ “lặng im như núi” này quá ít.
Con người ấy thường vẫn giấu kín những “xúc cảm nguồn” của mình, và vẫn sống như một người hết sức bình dị, nhân hậu và khiêm nhường. Chỉ tới một lúc nào đó, gặp một “trường đồng cảm” nào đó, ông mới thật trải lòng mình. Đêm đó Vũ Cao tâm sự với chúng tôi rất nhiều chuyện mà tôi biết, bình thường ông không hề nói với ai. Chẳng phải vì chúng tôi thân với ông hơn người khác, mà đơn giản, chỉ vì chúng tôi ăn may gặp đúng “cơn” thổ lộ, vọt trào, xuất thần của ông.
Nhật Chung
Nguồn: http://www.baomoi.com/Vu-Cao-ngam-tho/152/3778715.epi

Viếng mộ Thâm Tâm – Nguyễn Siêu Việt

Nhà ông ở Hải Dương, ngày nào tôi chẳng qua
Mà phần mộ ông hôm nay tôi mới đến
Người phụ nữ Nùng chỉ tôi, cái nhìn cảm mến:
– Kia, mộ ông ở chỗ hai cái cây!

“Tống biệt hành”, đã bao lần tôi giảng cho
bầy em thơ ngây
Nhưng cuộc li biệt này vẫn không sao hiểu nổi
Có lẽ nào lại “coi như hạt bụi”?

Giữa khoảng ánh ngày níu tắt
Đầy hoàng hôn trong mắt trong
Tôi lần đọc dòng chữ khắc
“Nhà thơ – liệt sĩ” khiêm nhường

Chợt tôi nhìn lên: mảnh trăng non ngậm sương muối
đầm đầm
Để nhận ra đời mình có một góc “Thâm Tâm”
Gửi lại đá núi Quảng Uyên gió hú…

Văn Nghệ Công An 18/06/2009

Đi tìm Anh (kỷ niệm 50 năm ngày mất nhà thơ Thâm Tâm) – Y Phương

Thân tặng Anh chị Nguyễn Tuấn Khoa

‘Đưa người ta không đưa qua sông”
Câu thơ anh tôi đọc một lần
Nhớ một đời.

Hôm nay
Cả nước đi tìm anh
Thi sĩ tài hoa
“Một đi không trở lại”.

Ai như áo bông trần quả chám
Mũ nan lưới dù
Tái tê cơn sốt
Ai như mũ nồi cười
Áo nâu sồng túi dết
Thơ như súng đi lùng giặc Pháp
Đêm đêm qua cửa nhà tôi.

Ai như khói sương, chiều vàng rơm rạ
Bản nghèo nơi chân đèo Mã Phục
Ai lại về chùi chân cầu thang
Lập bập gọi tôi ra mở cửa.

Đi lâu thế nhà thơ, trời sắp đổ cơn mưa
Hơn một ngàn tuần nhang tôi thắp
Trọn một đời đội xanh đi tìm anh
Sao đi lâu thế nhà thơ ơi…

Bỗng đâu hoa đá mỉm cười
Núi ấm dần lên.

Cao Bằng 18-8-2000

Thấy hiu hiu gió – Tùy bút của Băng Sơn

(Nhân Dân) – Mùa xuân năm nào cũng trở lại, tiếc sao con người một đi không thấy ai trở lại bao giờ, mà đều thành hư vô bóng khói trong cõi mịt mùng vô định.

Riêng Hà Nội từng có những con người kiệt xuất đã sống, đã làm việc và đã ra đi, cả sớm và muộn đều chỉ còn dư ảnh. Nhà văn Gam-da-tốp có lần đã viết: “Một đất nước khi cần đưa chứng minh thư ra thì đó là những nhà chính khách kiệt xuất, những nhà thơ”.

Chúng ta phải đổ máu suốt ba mươi năm chiến tranh. Vì chiến tranh mà chúng ta chưa kịp hay không kịp làm nhiều điều chúng ta cần và mong muốn, trong đó có việc phải làm là dựng những bảo tàng nhà văn, chí ít là những nhà lưu niệm nhà văn.

Hà Nội đã có đường phố mang tên Nguyễn Tuân, Xuân Diệu, v.v. Nhưng chưa có con đường Thạch Lam mà Thạch Lam là một tâm hồn “trăm phần trăm Hà Nội”. Ngôi nhà ông từ đấy ra đi bên ven bờ Ao Vả làng Yên Phụ đã thay chủ mới từ lâu lắm, ngày nay ta cũng không biết nắm xương tàn kia nằm trong gió thốc thời gian ở một nơi nào hiu hắt với sao trăng!

Vũ Bằng nữa, người con sinh ra ở phố Hàng Gai, đi chiến đấu tít tận trời Nam và vĩnh viễn không về (ông được công nhận là liệt sĩ cách mạng sau bao oan trái). Con người ấy nhúng bút vào bình nước mắt nhớ thương để viết nên kiệt tác “Thương nhớ mười hai”, đó là tình cảm của người con Hà Nội xa xứ như bị lưu đầy luôn nhớ về quê mẹ. Ngày nay không hề có chút lưu niệm gì về họ Vũ, và ta cũng chẳng biết được linh hồn ông tìm nhập vào cốt xác ở nơi nào.

Nghe nói thị trấn Cẩm Giàng (cách Hà Nội 40 cây số) đã có một đường phố Thạch Lam và huyện Cẩm Giàng đang lập đề án xây dựng nhà lưu niệm Thạch Lam, người làm vẻ vang cho Cẩm Giàng, để mỗi chuyến xe lửa qua đây, linh hồn ông lại bay theo làn khói vào tâm hồn mọi người…

Thế Lữ, một chủ tướng của phong trào Thơ Mới những năm ba mươi, bốn mươi thế kỷ 20, rồi ông cũng là chủ tướng của nền kịch nói Việt Nam, nhưng đến nay, sau ngày ông ra đi hàng chục năm, có người muốn thắp một nén nhang hoài niệm mà đành ngậm ngùi không biết về đâu, họa chăng chỉ có nữ Nghệ sĩ Nhân dân Song Kim đang ở số 50 Nguyễn Bỉnh Khiêm đêm đêm nhớ thương phu quân của mình trong thời gian mờ xóa.

Một Tản Ðà (Nguyễn Khắc Hiếu) lừng danh ra đi năm 1939, sau thời gian nằm nơi chân núi Hương Sơn với rừng mơ hoa trắng mùa đông, quả thơm mùa hạ, ông được đưa về Sơn Tây, nơi ông cất tiếng chào đời. Không hiểu nhà thơ ngông này có gặp nhà quản lý văn chương Vũ Ðình Long, một người đỡ đầu cho cả mấy thế hệ nhà văn Việt Nam nổi tiếng, cũng đang nằm trên đất Hà Tây… Thật may, cả hai con người hiếm có này đều có ngôi nhà xây đàng hoàng, tường bao và bát hương gắn vào nắp mộ, thỉnh thoảng có bó hoa tươi bên cây vạn thọ lác đác chùm hoa vàng cho đỡ phần đơn độc…

Cả nước đang nhắc đến nhà thơ Quang Dũng, con người của “Tây Tiến” bất tử. Nhà thơ yêu quý đó đã “trời tiến” từ hơn mười năm nay, vợ con ông đang sống thiếu thốn nơi khu nhà tập thể cũ kỹ. Làm gì có khu lưu niệm nào, họa chăng ông sống trong lòng bè bạn vì thế mà ông được làm pho tượng chân dung bằng đồng đặt tại ngôi trường cấp một thị trấn Phùng để ông sống cùng quê hương.

Người lính Cụ Hồ nhà thơ Thâm Tâm, tác giả Tống biệt hành và Can trường hành, nhân vật huyền thoại của văn học một thời T.T.Kh., ông nằm đâu hay gần biên giới, muốn thắp cho ông một nén nhang mà đành nhờ gió xuân thổi hộ vậy thôi.

Vũ Trọng Phụng từng được xưng tụng là “Ông vua phóng sự đất Bắc Kỳ” đó là lời đồng nghiệp tặng tài năng kỳ lạ của ông. Ông sống cùng bà mẹ góa bụa rất sớm, chỉ biết thờ chồng nuôi con (tức là ông) rồi ông làm cho vợ mình cũng góa bụa sớm khi ông ra đi ở tuổi 27 sau mười năm cầm bút làm ra giông tố trên văn đàn.

Vũ Quân có may mắn không, khi đứa trẻ đỏ hỏn nằm trong tay vợ ông trong đám tang ông, sau này lớn lên là chị Vũ Mỵ Hằng đã lo toan và đảm đang đưa được nắm xương tàn của cha mình về với khu vườn xưa nơi quê hương chiu chắt. Ngôi mộ họ Vũ đặt ngay trong vườn tại làng Giáp Nhất sau đình làng Mọc, có bóng cây che chở và nhang khói quanh năm. Chị Vũ Mỵ Hằng còn bán bớt đi một ít vườn để xây được ngôi nhà lưu niệm khá khang trang, trưng bày sách và nhiều di vật của Vũ Quân. Ngày khánh thành, rất nhiều bè bạn đến tưởng niệm nhà văn có biệt tài này. Chồng chị Vũ Mỵ Hằng là anh Nghiêm Xuân Sơn còn có ý định từ nay về sau sẽ dành khu vườn này để các nhà văn nào muốn nằm chung với người đi trước là Vũ Quân, khi đã thành mây thành bóng… Một ý tưởng tốt và táo bạo, chân thành. Tiếc sao chị Hằng cũng sớm theo cha mình sang thế giới người muôn năm cũ. Cũng may là nhà lưu niệm Vũ Quân đang còn và vẫn có người đến thắp những nén nhang tưởng nhớ.

Có một nhà thơ trào phúng có biệt tài và nổi lên trên “Dòng nước ngược”, đó là Tú Mỡ. Sau khi cả ông và bà quy tiên, con cháu đã hỏa thiêu và đem di hài hai người trộn chung một bình đặt trong ngôi miếu nhỏ giữa khu vườn làng Láng, mảnh đất mà thời ông mua được do tiền nhuận bút. Bây giờ ba làng Láng đã đổi thay, vườn xưa thành nhà, làng xưa thành ra phố. Ngôi miếu kia chẳng biết ra sao?

Nhà phê bình Hoài Thanh từng nói khi đóng quyển Thi nhân Việt Nam lại ở trang cuối cùng rằng: Ðến đây, dù có thiên tài đến gõ cửa, tôi cũng không mở ra nữa… thế mà rồi ông phải mở cửa để đón một nhà thơ nữa, đó là nhà thơ sau còn kiêm nhà hoạt động sân khấu Trần Huyền Trân.

Trần Huyền Trân sinh năm 1913, mất năm 1989 sau khi nằm bệnh viện gần bốn năm và lần lượt tháo hết cả hai chi dưới. Khi ra đi, ông chỉ còn một khúc thân, ông không còn lững thững một lần nào nữa, như ông từng viết:

Tôi nghe xa lắm làn mây trắng

Rời bóng kinh thành lững thững đi…

Ông từng là bạn thân của Thâm Tâm và Nguyễn Bính, mà Thâm Tâm từng viết về ông rằng: “Ðây một loài hoa khác hải đường”. Một đời lận đận, một đời thơ hay, một đời sân khấu tài năng, một đời vợ đẹp, nói thế vì sinh thời có nhiều phụ nữ quá yêu thơ ông, đã thêu thơ ông lên vải khiến ông phải viết những lời từ tạ. Ông làm cách mạng trong Hội Văn hóa cứu quốc, đã giác ngộ được nhiều văn nghệ sĩ khác, ông kết duyên với người đẹp một thời, nữ tài tử Hạc Ðính.

Sau khi thi sĩ Trần ra đi gần hai chục năm, nhờ con cái ăn nên làm ra, mà bà Hạc Ðính cất được ngôi nhà khang trang, bà dành riêng hẳn tầng một của ngôi nhà làm nơi kỷ niệm nhà thơ với bàn thờ, tranh ảnh, thơ lưu bút, sách vở, cùng nhiều di vật từ chiếc gạt tàn bằng gộc tre, bộ bàn ghế bằng tre, tủ sách bằng tre…

Năm 2005, nhà lưu niệm được khánh thành, cũng không ồn ào, chỉ dăm ba người quen cũ, những người yêu mến nhà thơ đến chia vui và thắp nhang tưởng niệm.

Không hiểu ngôi nhà lưu niệm này có phải là một trong vài ngôi nhà kỷ niệm những con người kiệt xuất một thời mà sau bao năm, đọc lại họ, chúng ta vẫn xao xuyến, bâng khuâng cùng xúc động và ta phải cảm tạ họ đã cho chúng ta được sống thêm trong một thế giới tinh thần giàu có…

Còn biết bao con người tài năng khác nữa mà nay chúng ta muốn chiêu niệm chút tình xuân mà chẳng thể. Họ nằm nơi nào trong không gian bao la này, họ nằm khúc nào trong thời gian mang mang này?

Mùa xuân lại đến, có lẽ ta nhớ thì họ sẽ về, nói như Nguyễn Du:

Mai sau…

Trông ra ngọn cỏ lá cây
Thấy hiu hiu gió thì hay chị về…

Nhớ Thâm Tâm – Võ Sa Hà

Bài thơ chưa kịp viết
Anh đã về lòng thung
Muôn đời nghe đá thở
Đêm lạnh sương mờ giăng.

Chiến dịch Biên giới mở
Bài anh còn chưa xong
Trên hành lang đông bắc
Anh nằm thơm hoa rừng.

Trang đầu tờ Vệ quốc
Vắng rồi một cái tên
Ai người thay anh viết
Những dòng tin đầu tiên?

Cuộc đời con suối chảy
Đến tận cùng vực xa
Người đi thành sương núi
Trắng trời biên ải hoa.

Nghĩa trang liệt sĩ Quảng Uyên – Cao Bằng
Ngày tảo mộ 2006
Văn nghệ Quân đội số 651 tháng 8 năm 2006

Gió Thâm Tâm – Nguyễn Ngọc Phú

Ngọn gió thổi dọc cánh rừng sốt rét
Nắng ký-ninh vàng vọt da người
Anh lẫn với cỏ cây đồng đội
Câu thơ giờ như đứa trẻ mồ côi

Ngọn gió thổi những quả đồi nhưng nhức
Sao trên trời, xương cốt dưới đất nâu
Tôi mới hiểu vì sao cánh rừng nhiều đom đóm
Bướm trắng bay dọc con suối đục ngầu

Ngọn gió thổi bạc phơ bao mái tóc
Chiến tranh tắt lâu rồi, hương khói vẫn cong nhang
Chị vẫn buộc đò dưới bóng cầu lẻ ván
Đêm đêm nghe sóng vỗ nát lòng

Thâm Tâm hỡi! Người đi, người đi thật
Chúng tôi lại tiễn nhau bằng Tống biệt hành
Câu thơ sống lâu hơn đời người viết
Gió Cao Bằng hay gió Thâm Tâm…

Cao Bằng tháng 8-2000
Văn nghệ Quân đội số 11 năm 2000

Bài thơ đầu tiên của Thâm Tâm – Phương Thảo

Khi bước vào tuổi thanh niên thì gia đình Thâm Tâm lâm vào cảnh khó khăn. Từ Hải Dương, gia đình chuyển lên Hà Nội sinh sống. Thâm Tâm làm đủ nghề: đóng sách cho nhà in Mai Lĩnh, rồi vẽ cả tranh “Bờ Hồ” bán rất chạy ở cửa các trại lính Tây – mong kiếm thêm thu nhập cho kinh tế gia đình. Dường như sự thúc ép khó khăn của đời sống không ngăn nổi tình cảm mơ mộng, dạt dào của tuổi trẻ. Cùng với khả năng hội họa, Thâm Tâm bắt đầu viết. Bài thơ đầu tiên ông chỉ rụt rè gửi cho tờ Tiểu thuyết ba xu với bút danh Trăm Năm. Đây là một bài thơ tình phảng phất nỗi buồn man mác nhưng cũng báo hiệu nhiều nét tài hoa của một thi sĩ tương lai. Bài thơ đăng xong, một điều bất ngờ đén với tác giả, ông chủ nhiệm Trường Xuân đến nhà tìm ông. Gặp tác giả, ông không thể ngờ một người ít tuổi với vóc dáng thư sinh, nhỏ bé lại có thể viết được những dòng thơ tài hoa ấy. Sau bài thơ được đăng cùng buổi gặp gỡ với ông chủ nhiệm, Thâm Tâm bỏ qua những mặc cảm rụt rè, ông trở nên phấn khích. Từ đây ông mạnh dạn viết, đặc biệt là viết nhiều truyện ngắn thường xuyên cho Tiểu thuyết thứ bảy. Kể lại cho tôi nghe xuất xứ bài thơ đầu tiên. Đây cảnh cũ, đâu người xưa của Thâm Tâm, bà Oanh, chị nhà thơ còn nhớ “khi viết bài thơ này cậu ấy viết trên chiếc bàn mọt ở phố Thái Phiên ngày nay”. Cũng nói thêm với bàn đọc, bài thơ này được ghi lại cũng từ lời kể của bà Oanh. Bà vẫn nhớ như in bài thơ từ lần đầu được đọc trên báo:

Đây cảnh cũ, đâu người xưa
Tình cũ năm qua để hững hờ
Hoa dẫu mỉm cười nhưng có ý
Phảng buồn mặt phấn nét tương tư
Giận thời gian, tiếc ngây thơ
Lòng xuân tình cảm bây giờ gửi ai?
Trinh xuân mộng cũ đi rồi
Cảnh sinh xa vắng ngậm ngùi ly tao
Gặp Trinh trong bóng xuân đào
Đang khi quãng gió dạt dào chim ca
Má hồng, hồng đượm hương hoa
Rung rinh đọng giọt phấn nhòa sương rơi
Hoa xuân thắm, nụ xuân tươi
Quyện hoa hơn hớn, lòng ơi mộng lòng
Trinh tay nâng giấc cánh hồng
Với vần thơ hái mơ mòng tôi yêu…
Cảm nhau từ đấy xuân chiều
Cành thơ, lá gió dập dìu ngân nga
Tìm Trinh trong nắng tôi ra
Lời oanh ríu rít vuốt hoa Trinh cười
Nhưng đây nắng liễu buồn ơi !
Ba xuân nẩy nét chia phôi chim ngừng….

1941

Cũng chẳng biết sau bài thơ này Thâm Tâm còn lấy bút danh Trăm Năm nữa không và người còn gái có tên Trinh được nhắc tới là ai?
Phương Thảo
(Trích từ Tiền Phong, in lại trong Thâm Tâm và T.T.Kh. – SĐD)

Phim tài liệu “Nhớ Thâm Tâm”

“Nhớ Thâm Tâm” là bộ phim tài liệu do VTV thực hiện và phát năm 2000, kỷ niệm 50 năm ngày mất của Nhà thơ liệt sĩ Thâm Tâm. Kịch bản Hoàng Quảng Uyên, Đạo diễn Trần Minh Đại, Phó đạo diễn Thanh Tú, Quay phim Lô Thắng, Nguyễn Hiếu, Lời bình Đào Trọng Khánh, Thuyết minh Kim Tiến.
Xin giới thiệu bộ phim: