31. Vạn lý trường thành

Trăng thấm nghìn đêm lệ chửa khô
Nghìn muôn vợ trẻ nhớ trai phu
Đầy kinh, sương muộn mang tang tóc
Chia khắp lòng dân oán tỏa mờ…

Mưa rửa nghìn đêm máu chửa phai
Nghìn muôn trai tráng sống còn ai?
Trăm thân già héo, trăm triều xế
Lặng kiếm hồn con xuất ải dài…

Những xóm thanh bình khói bếp thưa
Miếng chiều thay sớm, mớm con thơ
Nàng dâu gầy võ nuôi thân lão,
Nhịn đói chờ lương kẻ thú phu.

Có những sơn thôn hết cả trai
Già thường quán dịch lễ Khâm sai.
Dăm người già trả ca vương ý,
Cười để thầm chôn tiếng khóc dài.

Hỡi ôi! Huyết hãn triệu lê dân
Chất lại ngoài biên một triệu lần
Xây trọn Trường Thành muôn dặm vững
Thì muôn trường hận đắp càng căm!

Ở đây dấu vết một kỳ công
Của quốc vương này cắt núi sông
Với quốc vương kia thời buổi đó
Ngai vàng đúc bởi máu trinh trung.

Cửa ải xa xa, cửa ải gần
Chiều soi bóng nhạt, đám tàn dân
Trong đời sống sót còn than oán
Kiếp vạn cô hồn kiếp vạn xuân.

Nghìn thu đi vụt có nghìn tang,
Chia với thành xưa dấu vết tàn…
Ngoại khách ngậm ngùi tìm cố cảnh
Mấy tầng đổ nát mấy tầng hoang!

Đất đá không bền để kỷ công
Đến giờ thiêu huỷ cả non sông.
Họa ra, còn sót mươi nền gạch,
Hát với càn khôn nắm bụi hồng!

Ta hỏi: nghìn xưa, đem máu xương
Đắp Trường Thành để vững ngai vương.
Nhà Tần cũng mất? và sau đó,
Vô dụng, thành kiên cũng đoạn trường!

Và cả Trung Hoa vỡ tựa bình
Đến giờ quốc hận máu còn tanh
Mà nguồn huyết lệ sao nhân loại
Tưới mãi không ngừng vạn chiến tranh.

1940
Nguồn: Thơ Thâm Tâm, NXB Văn học, 1988.

39. Tráng ca

Sinh ta, cha ném bút rồi
Rừng nho tàn rụng cho đời sang xuân.
Nuôi ta, mẹ héo từng năm,
Vắt bầu sữa cạn, tê chân máu gầy.
Dạy ta, ba bảy ông thầy
Gươm dài sách rộng, biển đầy núi vơi.
Nhà ta cầm đợ tay người,
Kép bông đâu áo, ngợt bùi đâu cơm?
Chông gai đổi dại làm khôn,
Ba vòng, mòng sếu liệng tròn lại bay…
Bông hoa chu giáp vần xoay (1)
Cánh vàng non nửa đài gầy tả tơi…
Chữ nhân sáng rực sao trời
Đường xe mở rộng chân người bước xa…
Bọn ta một lớp lìa nhà
Cháo hàng cơm chợ, ngồi ca lúa đồng
Hây hây tóc óng từng vòng
Gió nào là gió chẳng mong thổi lùa
Trường đình phá bỏ từ xưa (2)
Đất này sạch khí tiễn đưa cay sè.
Mốn phương tản mát bạn bè
Nhớ nhau hẹn quả mùa hè gặp nhau.
…Rầm trời chớp giật mưa mau,
Lửa đèn chấp chới khói tầu mù u
Bốn phương đây bạn đó thù
Hiệu còi xoáy lộng bản đồ năm châu.
– A, cơn thảo muội bắt đầu,
Tuổi xanh theo gió ngâm câu dặm dài
Thét roi lượng sức ngựa tài,
Coi trong cuộc rối tìm người chờ mong…
Trai lận đận, gái long đong
Chờ mong khắc khoải nản lòng dăm ba:
Nẻo về gốc mẹ cỗi cha
Thuyền ai nặng chở món quà đắng cay!
Từng nơi sống áo trùng tay
Gió thu thổi bạc một ngày lòng son;
Từng nơi cơm trấu, áo rơm,
Mưa xuân nhuốm tái mấy cơn mặt vàng.
Vượn kêu ruột buốt trên ngàn
Nhưng thôi! Sao việc dã tràng lầm theo?
Nện cho vang tiếng chuông chiều
Thù đem sức sớm đánh kêu trống đình
Thở phù hơi rượu đua tranh
Quăng tay chén khói tan thành trời mưa
Dặm dài bến đón bờ đưa
Thuyền ai buồm lái giúp vùa vào nhau
Kia kìa lũ trước dòng sau
Trăm sông rồi cũng chung đầu đại dương.

Tiểu thuyết thứ bảy Nguyệt san, số 6, tháng 11-1944

(1) Chu giáp: một vòng 60 năm.
(2) Trường đình: chỗ người xưa thường đặt tiệc rượu tiễn nhau lên đường.

16. Các anh

Các anh hãy chuốc thật say
Cho tôi những cốc rượu đầy rồi im.
Giờ hình như quá nửa đêm
Lòng đau, đau lại trái tim cuối mùa.

Hơi đàn buồn như trời mưa,
Các anh tắt nốt âm thừa đi thôi
Giờ hình như ở ngoài trời
Tiếng xe đã nghiến, đã rời rã đi.

Tâm tình lạnh nhạt, đâu nghe
Tiếng mùa lá chết đã xê dịch chiều.
Giờ hình như gió thổi nhiều
Những loài hoa máu đã giao nối đời.

Bao nhiêu nghệ sĩ nổi trôi
Sá chi cái đẹp dưới trời mong manh.
Sá chi những chuyện tâm tình
Lòng đau đem chữa trong bình rượu cay.

Tiểu thuyết thứ bảy, số 307 (4-5-1940)

30. Ngược gió

Trời hỡi! Mai này tôi phải đi
Thơ này rồi chẳng đọc ai nghe
Đời nhiều nhưng có dăm người bạn
Thì viễn ly không hứa hẹn về.

Tuổi lệ nhầm nuôi những nhớ thương
Lòng thành chim chích hoặc hoa đơn
Gọi hoài… nhưng có dăm trinh nữ
Cũng đã dâng chồng hết phấn hương.

Ngõ cũ đôi hàng gió ngã xoan
Lòng quê đợi lúc lắng giờ tan
May còn có lão dăm đầu bạc
Xót lũ đầu xanh, lặng mắt vàng.

…Mà đọc thơ già tiễn trẻ đi
Càng nghe trầm giọng, dạ càng se
Ngày mai ngược gió, tôi xin ngược
Ai có quan tâm gọi trở về.

Trời hỡi, ngày mai ngày mốt thôi
Ngày mai cay đắng nhất ly bôi
Ngày mai có những tay tàn ác
Cướp của tôi đi hết mọi người.

1940

Bản in trong Thơ Thâm Tâm, NXB Hội Nhà văn, 2015

45. Ngô sơn vọng nguyệt

Bài liên ngâm với Trúc Khê, Nguyễn Bính, Trần Huyền Trân tại nhà Trúc Khê (làng Canh, Hà Đông, nay là xã Xuân Phương, Từ Liêm, Hà Nội), đêm rằm tráng 7 âm lịch 1940.

Trúc Khê:                 

Non Ngô, dưới bóng trăng rằm
Duyên may họp bạn tri âm bữa này.

Trần Huyền Trân:

Rượu vào chưa rót men say
Riêng lòng đã thấy rót đầy tình nhau.

Nguyễn Bính:

Biết rằng gặp mãi nhau đâu
Duyên bèo nước có bền lâu bao giờ.

Thâm Tâm:

Rượu say còn lắng trăng mờ
Tiệc sau e bóng người thơ lạc loài.

Trúc Khê:

Bàn chi những chuyện ngày mai
Hứng vui thu lại ngàn đời một đêm.

Trần Huyền Trân:

Nghìn năm trăng sáng còn lên
Đời ly biệt mới biết duyên tương phùng.

Nguyễn Bính:

Uống cho say não say nùng
Nghìn năm ai thoát khỏi vòng biệt ly.

Thâm Tâm:

Mai này mãi mãi dù đi
Gió thu còn giục hồn về Ngô Sơn.

Trúc Khê:               

Chênh vênh núi nhỏ một hòn
Lưu danh hoặc sẽ chờ ơn thi hào.

Trần Huyền Trân:

Lững lờ trăng đã lên cao
Ha ha hãy uống trăng vào lòng ta.

Nguyễn Bính:

Trăng lên trăng mãi không tà
Trăng lên trăng mãi không già, trăng non.

Thâm Tâm:

Tiệc tàn đến chén con con
Năm năm vẫn nhớ trăng tròn đêm nay.

Nguồn: Thơ Thâm Tâm, 1988.

33. Ngậm ngùi cố sự

Lảo đảo năm canh lệ mấy hàng,
Ngậm ngùi cố sự, bóng lưu quang.
Cuối thu, mưa nát lòng dâu bể,
Ngày muộn, chuông đau chuyện đá vàng.

Chán ngán nhân tình, sầu ngất ngất,
Già teo thân thế, hận mang mang.
Thẹn cùng trời đất mòn xuôi ngược,
Chí lớn không đầy nửa tấc gang.

1940

Bản in trong Thơ Thâm Tâm, NXB Hội Nhà văn, 2015

37. Một mảnh tình – Lá quạt hoa quỳ

Đôi lứa phương tâm một mảnh tình
Như trăng, vàng mở vẹn gương trinh.
Chén sen ráo miệng, thề pha luỵ
Quạt trúc trao tay, ước lỗi hình.

Gió trái luống gào duyên cựu mộng,
Dây oan chưa dứt chí kim sinh!
Say ngùi ta đốt tương tư thảo*,
Bóng khói qua mây, lại nhớ mình…

Trích trong truyện Lá quạt hoa quỳ,

Tiểu thuyết thứ bảy số 416, 6-6-1942

* Tương tư thảo: một cách gọi thuốc lào.

26. Màu máu Ti gôn

Gửi T.T.KH. Tác giả bài thơ “Hai sắc hoa Ti gôn”

Người ta trả lại cánh hoa tàn,
Thôi thế duyên tình cũng dở dang!
Màu máu ti gôn đà biến sắc,
Tim người yêu cũ phủ màu tang!

K… hỡi! người yêu của tôi ơi!
Nào ngờ em giết chết một đời!
Dưới mồ đau khổ anh ghi nhớ
Hình ảnh em hoài, mãi thế thôi.

Quên làm sao được thuở ban đầu
Một cánh ti gôn dạ khắc sâu!
Một cánh hoa xưa màu hy vọng!
Nay còn dư ảnh trái tim đau.

Anh biết làm sao được hỡi trời!
Dứt tình sao nỡ, nhớ không thôi,
Thôi em hãy giữ cành hoa úa,
Kỷ niệm ngàn năm một cuộc đời!

1940

Bản in trong Thơ Thâm Tâm, NXB Hội Nhà văn, 2015

24. Lưu biệt

Tiệc này đêm cuối mai chia ly
Anh cố lưu tôi có ích gì
Đời người điên tỉnh bao nhiêu dịp
Xin cạn chén rượu để tôi đi…
Đau tình không xót bằng đau nghĩa
Tay gầy càng ném chén vô tri
Mắt xanh càng gửi ngoài mưa gió
Lòng không càng sống với cầm thi
Rượu xuân càng đượm say mùi cũ
Cố nhân càng biết cười phân kỳ…

Gió lên! Gió lên! Cùng rũ tất
Con chim còn đỗ lại làm chi?
Đất trời rộng quá tôi không chịu
Cắm chặt sông đây một cánh bè
Rót rượu ra anh, tôi muốn uống
Cực kỳ trong sạch cực say mê
Sáng mai qua bến Ninh Cơ lạnh
Khỏi thấy se lòng trận gió tê.

Giong đèn lưu luyến làm chi nữa
Tôi quyết đi rồi, tôi phải đi!

Tiểu thuyết thứ bảy số 397, 1940

Có một số chỗ khác Bản in trong Thơ Thâm Tâm, NXB Hội Nhà văn, 2015

12. Không đề

Tháng chạp sương giăng tan sáng trăng
Thua trời, sao tắt sắc vân vân…
Đêm mang lạnh xuống lòng cây rách
Buồn chảy quê rêu, giọt nước thầm.

Hiên vẩn vơ bay mạng nhện tơ…
Hồn thương lững thững ẩm như mưa
Ngoài xa đôi tiếng rao đêm vắng,
Rung cả mây trời cả ý thơ!

Tôi đợi trăng tươi pha ngọt mắt,
Và chờ bóng lá đắp lòng đơn..
Hôm qua không có, hôm nay mất,
Ai rủ tang trời tám hướng sương.

Biết mấy đời trai trong góa bụa
Đêm ròng đứng thắp mẩu tâm hương.
Tro tàn có đốt không hồng nữa
Thắt lạnh bên lòng mối hận thương…

Tiểu thuyết thứ bảy số 292 (6-1-1940)

Đây là bản gốc bài Không đề, có vài chỗ khác bản đã in trong “Thơ Thâm Tâm”, NXB Hội Nhà văn, 2015