
Chiều mưa đồng rạ trắng
Đất tề sông quạnh vắng
Ngồi kín dưới nhà gianh
Nghe lúa lùa ắng lặng
Chiều mưa đường số 5
Đôi mắt sao đăm đăm
Chứa cả trời mây nặng
Miền Việt Bắc xa xăm?
Ôi núi rừng thương nhớ
Rét mướt đã hai năm!
Chiều mưa ngàn mai nở
Hoa phới bay màu xuân
Bếp sàn gây ngọn lửa
Chén trà ngát tình dân
Chiều mưa lùa các cửa
Ngày bộ đội hành quân
Mẹ già không nói nữa
Nước mắt nhìn rân rân…
Ôi đâu rồi sơn nhân
Đâu rồi anh du kích
Chiều mưa manh áo rách
Vác súng vượt lên đèo
Giao thông qua mũi địch
Đâu rồi “nhình” với “a”
Tiếng cười reo khúc khích
Đón chiến sĩ quay về
Sau trận đi phục kích
Chiều mưa giã gạo mau
Chầy tập đoàn thình thịch
Ôi núi thẳm rừng sâu
Trung đội cũ về đâu
Biết chăng chiều mưa mau
Nơi đây chăn giá ngắt
Nhớ cái rét ban đầu
Thắm mối tình Việt Bắc.
(1948)
Nguồn: Thơ Thâm Tâm, NXB Văn học, 1988.
Đưa người, ta không đưa qua sông
Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
Bóng chiều không thắm, không vàng vọt
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong ?
Đưa người ta chỉ đưa người ấy
Một giã gia đình một dửng dưng…
– Li khách! Li khách! Con đường nhỏ
Chí lớn chưa về bàn tay không
Thì không bao giờ nói trở lại!
Ba năm mẹ già cũng đừng mong!
Ta biết người buồn chiều hôm trước
Bây giờ mùa hạ sen nở nốt
Một chị, hai chị cùng như sen
Khuyên nốt em trai dòng lệ sót.
Ta biết người buồn sáng hôm nay
Trời chưa mùa thu, tươi lắm thay
Em nhỏ ngây thơ đôi mắt biếc
Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay…
Người đi? Ừ nhỉ, người đi thực!
Mẹ thà coi như chiếc lá bay
Chị thà coi như là hạt bụi
Em thà coi như hơi rượu say…
(1940)
Nguồn: Thơ Thâm Tâm, NXB Văn học, 1988.
Thăng Long đất lớn chí tung hoành,
Bàng bạc gương hồ ánh mắt xanh
Một lứa chung tình từ tứ chiếng
Hội nhau vầy một tiệc quần anh.
Mày gươm nét mác chữ nhân già
Hàm bạnh hình đồi, lưng cỗi đa
Tay yếu đang cùng tay mạnh dắt
Chưa ngất men trời hả rượu cha.
Rau đất cá sông gào chẳng đủ
Nổi bùng giữa tiệc trận phong ba
Rằng: “Đương gió bụi mờ tơi tả
Thiên hạ phải dùng thơ chúng ta!”
Thơ ngâm giở giọng, thời chưa thuận
Tan tiệc quần anh, người nuốt giận
Chim nhạn, chim hồng rét mướt bay
Vuốt cọp, chân voi còn lận đận.
Thằng thí cho nhàm sức võ sinh
Thằng bó văn chương đôi gối hận
Thằng thư trói buộc, thằng giã quê
Thằng phấn son nhơ… chửa một về!
Sông Hồng chẳng phải xưa sông Dịch
Ta ghét hoài câu “nhất khứ hề”
Ngoài phố mưa bay: xuân bốc rượu
Tấc lòng mong mỏi cháy tê tê
– Ới ơi bạn tác ngoài trôi giạt
Chẳng đọc thơ ta tất cũng về.
(1944)
Nguồn: Thơ Thâm Tâm, NXB Văn học, 1988.
Trăng thấm nghìn đêm lệ chửa khô
Nghìn muôn vợ trẻ nhớ trai phu
Đầy kinh, sương muộn mang tang tóc
Chia khắp lòng dân oán tỏa mờ…
Mưa rửa nghìn đêm máu chửa phai
Nghìn muôn trai tráng sống còn ai?
Trăm thân già héo, trăm triều xế
Lặng kiếm hồn con xuất ải dài…
Những xóm thanh bình khói bếp thưa
Miếng chiều thay sớm, mớm con thơ
Nàng dâu gầy võ nuôi thân lão,
Nhịn đói chờ lương kẻ thú phu.
Có những sơn thôn hết cả trai
Già thường quán dịch lễ Khâm sai.
Dăm người già trả ca vương ý,
Cười để thầm chôn tiếng khóc dài.
Hỡi ôi! Huyết hãn triệu lê dân
Chất lại ngoài biên một triệu lần
Xây trọn Trường Thành muôn dặm vững
Thì muôn trường hận đắp càng căm!
Ở đây dấu vết một kỳ công
Của quốc vương này cắt núi sông
Với quốc vương kia thời buổi đó
Ngai vàng đúc bởi máu trinh trung.
Cửa ải xa xa, cửa ải gần
Chiều soi bóng nhạt, đám tàn dân
Trong đời sống sót còn than oán
Kiếp vạn cô hồn kiếp vạn xuân.
Nghìn thu đi vụt có nghìn tang,
Chia với thành xưa dấu vết tàn…
Ngoại khách ngậm ngùi tìm cố cảnh
Mấy tầng đổ nát mấy tầng hoang!
Đất đá không bền để kỷ công
Đến giờ thiêu huỷ cả non sông.
Họa ra, còn sót mươi nền gạch,
Hát với càn khôn nắm bụi hồng!
Ta hỏi: nghìn xưa, đem máu xương
Đắp Trường Thành để vững ngai vương.
Nhà Tần cũng mất? và sau đó,
Vô dụng, thành kiên cũng đoạn trường!
Và cả Trung Hoa vỡ tựa bình
Đến giờ quốc hận máu còn tanh
Mà nguồn huyết lệ sao nhân loại
Tưới mãi không ngừng vạn chiến tranh.
1940
Nguồn: Thơ Thâm Tâm, NXB Văn học, 1988.
Sinh ta, cha ném bút rồi
Rừng nho tàn rụng cho đời sang xuân.
Nuôi ta, mẹ héo từng năm,
Vắt bầu sữa cạn, tê chân máu gầy.
Dạy ta, ba bảy ông thầy
Gươm dài sách rộng, biển đầy núi vơi.
Nhà ta cầm đợ tay người,
Kép bông đâu áo, ngợt bùi đâu cơm?
Chông gai đổi dại làm khôn,
Ba vòng, mòng sếu liệng tròn lại bay…
Bông hoa chu giáp vần xoay (1)
Cánh vàng non nửa đài gầy tả tơi…
Chữ nhân sáng rực sao trời
Đường xe mở rộng chân người bước xa…
Bọn ta một lớp lìa nhà
Cháo hàng cơm chợ, ngồi ca lúa đồng
Hây hây tóc óng từng vòng
Gió nào là gió chẳng mong thổi lùa
Trường đình phá bỏ từ xưa (2)
Đất này sạch khí tiễn đưa cay sè.
Mốn phương tản mát bạn bè
Nhớ nhau hẹn quả mùa hè gặp nhau.
…Rầm trời chớp giật mưa mau,
Lửa đèn chấp chới khói tầu mù u
Bốn phương đây bạn đó thù
Hiệu còi xoáy lộng bản đồ năm châu.
– A, cơn thảo muội bắt đầu,
Tuổi xanh theo gió ngâm câu dặm dài
Thét roi lượng sức ngựa tài,
Coi trong cuộc rối tìm người chờ mong…
Trai lận đận, gái long đong
Chờ mong khắc khoải nản lòng dăm ba:
Nẻo về gốc mẹ cỗi cha
Thuyền ai nặng chở món quà đắng cay!
Từng nơi sống áo trùng tay
Gió thu thổi bạc một ngày lòng son;
Từng nơi cơm trấu, áo rơm,
Mưa xuân nhuốm tái mấy cơn mặt vàng.
Vượn kêu ruột buốt trên ngàn
Nhưng thôi! Sao việc dã tràng lầm theo?
Nện cho vang tiếng chuông chiều
Thù đem sức sớm đánh kêu trống đình
Thở phù hơi rượu đua tranh
Quăng tay chén khói tan thành trời mưa
Dặm dài bến đón bờ đưa
Thuyền ai buồm lái giúp vùa vào nhau
Kia kìa lũ trước dòng sau
Trăm sông rồi cũng chung đầu đại dương.
Tiểu thuyết thứ bảy Nguyệt san, số 6, tháng 11-1944
(1) Chu giáp: một vòng 60 năm.
(2) Trường đình: chỗ người xưa thường đặt tiệc rượu tiễn nhau lên đường.
Các anh hãy chuốc thật say
Cho tôi những cốc rượu đầy rồi im.
Giờ hình như quá nửa đêm
Lòng đau, đau lại trái tim cuối mùa.
Hơi đàn buồn như trời mưa,
Các anh tắt nốt âm thừa đi thôi
Giờ hình như ở ngoài trời
Tiếng xe đã nghiến, đã rời rã đi.
Tâm tình lạnh nhạt, đâu nghe
Tiếng mùa lá chết đã xê dịch chiều.
Giờ hình như gió thổi nhiều
Những loài hoa máu đã giao nối đời.
Bao nhiêu nghệ sĩ nổi trôi
Sá chi cái đẹp dưới trời mong manh.
Sá chi những chuyện tâm tình
Lòng đau đem chữa trong bình rượu cay.
Tiểu thuyết thứ bảy, số 307 (4-5-1940)
Trời hỡi! Mai này tôi phải đi
Thơ này rồi chẳng đọc ai nghe
Đời nhiều nhưng có dăm người bạn
Thì viễn ly không hứa hẹn về.
Tuổi lệ nhầm nuôi những nhớ thương
Lòng thành chim chích hoặc hoa đơn
Gọi hoài… nhưng có dăm trinh nữ
Cũng đã dâng chồng hết phấn hương.
Ngõ cũ đôi hàng gió ngã xoan
Lòng quê đợi lúc lắng giờ tan
May còn có lão dăm đầu bạc
Xót lũ đầu xanh, lặng mắt vàng.
…Mà đọc thơ già tiễn trẻ đi
Càng nghe trầm giọng, dạ càng se
Ngày mai ngược gió, tôi xin ngược
Ai có quan tâm gọi trở về.
Trời hỡi, ngày mai ngày mốt thôi
Ngày mai cay đắng nhất ly bôi
Ngày mai có những tay tàn ác
Cướp của tôi đi hết mọi người.
1940
Bản in trong Thơ Thâm Tâm, NXB Hội Nhà văn, 2015
Bài liên ngâm với Trúc Khê, Nguyễn Bính, Trần Huyền Trân tại nhà Trúc Khê (làng Canh, Hà Đông, nay là xã Xuân Phương, Từ Liêm, Hà Nội), đêm rằm tráng 7 âm lịch 1940.
Trúc Khê:
Non Ngô, dưới bóng trăng rằm
Duyên may họp bạn tri âm bữa này.
Trần Huyền Trân:
Rượu vào chưa rót men say
Riêng lòng đã thấy rót đầy tình nhau.
Nguyễn Bính:
Biết rằng gặp mãi nhau đâu
Duyên bèo nước có bền lâu bao giờ.
Thâm Tâm:
Rượu say còn lắng trăng mờ
Tiệc sau e bóng người thơ lạc loài.
Trúc Khê:
Bàn chi những chuyện ngày mai
Hứng vui thu lại ngàn đời một đêm.
Trần Huyền Trân:
Nghìn năm trăng sáng còn lên
Đời ly biệt mới biết duyên tương phùng.
Nguyễn Bính:
Uống cho say não say nùng
Nghìn năm ai thoát khỏi vòng biệt ly.
Thâm Tâm:
Mai này mãi mãi dù đi
Gió thu còn giục hồn về Ngô Sơn.
Trúc Khê:
Chênh vênh núi nhỏ một hòn
Lưu danh hoặc sẽ chờ ơn thi hào.
Trần Huyền Trân:
Lững lờ trăng đã lên cao
Ha ha hãy uống trăng vào lòng ta.
Nguyễn Bính:
Trăng lên trăng mãi không tà
Trăng lên trăng mãi không già, trăng non.
Thâm Tâm:
Tiệc tàn đến chén con con
Năm năm vẫn nhớ trăng tròn đêm nay.
Nguồn: Thơ Thâm Tâm, 1988.











