Ngày ngắn dần theo ngày trắng dần,
Sáng nay nắng lại đổ vàng sân.
Dáng người phơi áo mùa thu trước
Đã cũ càng rồi… Thôi cố nhân!
Lòng tôi như chiều em bỏ đi
Ta nhìn thiên hạ nỗi phân kỳ,
Phòng thành u uất cho mây khói,
Xây đặc ven trời bóng loạn ly…
Ai đìu hiu đốt lá khô,
Khói lên lôi cả trời thu xuống trần.
Quả bàng lác đác rơi sân,
Nghe đau lòng khách mấy lần lên cao!
Tiểu thuyết thứ bảy số 331 (5-10-1940)
Bạn ơi! Ngùi tiếc ngày tàn,
Là tôi, lòng chứa thu tàn cũng tôi.
Có duyên người diệt mất rồi,
Còn tình nuôi được nửa vời tình đi.
Đờn mình đem gẩy người nghe,
Giả vàng ai giả được gì ngọc châu.
Hình dung ngoài thấy già đâu,
Mà riêng mái tóc trắng màu trong tâm.
Chân tình vắng vẻ tri âm,
Thà đem ngày tháng lần lần vào điên.
Tiểu thuyết thứ bảy số 330 (29-9-1940)
Từng sắc hoa phai. Những vẻ mây
Đã mờ từng sớm. Mấy hàng cây
Ngang đồi ngơ ngác như trông ngóng
Giời mấy lần thu úa tháng ngày…
Lát thêm san sát lá vàng mưa
Ai khiến xui ai chán đợi chờ
Rừng tóc e mầu sương tuyết cải
Chim gà rừng cũ hót càng thưa.
Ngoài bãi đìu hiu gió tịch dương
Bay vàng đôi lối…Nhớ càng thương
Những người cô-lão lên cao ngó
Nắng cháy bơ phờ mái tóc sương.
Chiều xóa dải sông, xóa cả đi
Bông lau lợt đợt, bóng chia ly
Dăm ba chiều cũ ngơi ngơi tắt
Tiếng vọng hương không gửi gắm về!
Lão phụ liu điu đợi mỗi đêm
Sương chiều đặc ngõ, giá lòng kiên
Gió vi vu thổi, hơi hiu hắt
Giấc lạnh đôi hồi mộng nhóm lên.
Mơ thấy thây chồng xa ngất nơi
Sóng muôn trùng đổ, rặt khơi vơi
Thấy con-giòng máu giang hồ kế
Năm tháng say đi bốn góc trời…
Tiểu thuyết thứ bảy số 312 (25-5-1940)
Sen nửa ao lùa phe phất áo,
Ngày nao nắng hạ ngủ hai mi.
Giờ nghe lòng cũ không rung sáo,
Trời cả chiều xuân bạc sắc chì.
Nhớ lửa loài dơi loạng choạng bay,
Đèn chiều lên thắp nội hồn say.
Từng cơn muỗi loạn theo nhau nổi,
Có những đầu bù gục xuống tay.
Đây giữa giao thời của mộng mơ,
Đôi mùa bứt dứt một bơ vơ,
Bao nhiêu tâm trạng nơi đường rẽ,
Nghe xế hoàng hôn cứ ngẩn ngơ…
Giáo giác gà về, chó thả rông,
Giờ tranh sáng tối, dở dang lòng.
Con người bận bịu trong đầu óc,
Những vật đen ngòm cận lửa hung.
Đời nặng mang vòm không khí lạ,
Loài hoa chưa mát dạ hồ sen,
Hỡi ơi! Đợi nắng trời hưu hạ,
Ai tạm đi khuây dưới mộng đèn.
Tiểu thuyết thứ bảy số 311 (18-5-1940)
Điệu kèn ai oán thổi lòng thương
Và tiễn hồn oan – cữu nặng đòn.
Không một vòng hoa phong sắc lạnh,
Trong nhà táng gỗ lở mầu son.
Thất thểu xe linh ngược gió hàn,
Đôi bà ngồi ngó lại tuần nhang.
Im như bóng lẻ người cô lão,
Đi rắc tang rơi vạn thỏi vàng.
Tiếng khóc thưa trong một đám người,
Ấm hơi lửa thuốc, thắm trầu môi.
Dăm tà áo cánh như sương rủ,
Ngơ ngác dăm thân trẻ sụt sùi.
Hồi lệnh vang đưa rộn khắp lòng,
Đã truyền tin lấp huyệt tiêu vong.
Một tuần nhang cuối, đôi lời viếng
Là hết, nằm yên xác lạnh lùng!
Mai mốt còn gì kể với nhau.
-“Ngày xưa…có một lũ khăn nâu.
Dăm người tóc bạc, mươi hai trẻ,
Đưa mấy em thơ, trắng mái đầu.
Em nhỏ đưa tang, lũ láng giềng,
Đưa hồn hàng xóm nắm hương đen…
Thế là chôn cả Tài Năng, cả
Một kiếp thơ trinh xuống cửu tuyền!”
Tiểu thuyết thứ bảy số 310 (11-5-1940)
Về đây chỉ thấy toàn hương ngã,
Say vẩn vơ… làn khói gợi đi…
Thời khắc nặng mang hồn trác táng,
Tàng tàng tan xuống rượu trong ly.
Ờ nhỉ, ngày nao ở chốn này,
Chia tay gái lệ với trai say.
Giờ rung bóng rượu hương tàn rụng,
Chỉ thoáng qua lên gợn áo gầy.
Ảo ảnh! Chết rồi trăm áo cũ,
Trong ly, bóng ấy vết thương ta.
Khuya khuya bải hoải màu men khói,
Say mỗi canh sầu lại bốc ra.
Tiểu thuyết thứ bảy số 302 (16-3-1940)
Chiết rượu ra đầy! Rót rõ nhiều!
Mắt chưa rờn rợn bóng xiêu xiêu.
Say làm sao được? Không say được!
Nhẹ ngón tay gò gõ tiếng kêu…
Nhẹ ngón tay gầy gõ cạnh ly…
Tiếng ràn rạn xát xuống pha lê.
Ơ hờ, ta ngó lên không rỗng,
Vẩn bụi vàng trong ánh sáng lòe.
Quán rượu vang vang tiếng nước mưa
Chảy rườn rượt tựa tiếng quay tơ…
Tôi nghe thời khắc tan chầm chậm,
Làn khói ngùi lên, thuốc cháy hờ…
Góc quán mình tôi cạn chén say
Men nồng thêm gắt hận chia tay
Mấy chiều rượu cũ! Bao nhiêu bạn,
Giờ chẳng ai qua lại chốn này.
Tiểu thuyết thứ bảy số 293 (13-1-1940)
Tặng Vũ Oánh





