Về đây chỉ thấy toàn hương ngã,
Say vẩn vơ… làn khói gợi đi…
Thời khắc nặng mang hồn trác táng,
Tàng tàng tan xuống rượu trong ly.
Ờ nhỉ, ngày nao ở chốn này,
Chia tay gái lệ với trai say.
Giờ rung bóng rượu hương tàn rụng,
Chỉ thoáng qua lên gợn áo gầy.
Ảo ảnh! Chết rồi trăm áo cũ,
Trong ly, bóng ấy vết thương ta.
Khuya khuya bải hoải màu men khói,
Say mỗi canh sầu lại bốc ra.
Tiểu thuyết thứ bảy số 302 (16-3-1940)
Chiết rượu ra đầy! Rót rõ nhiều!
Mắt chưa rờn rợn bóng xiêu xiêu.
Say làm sao được? Không say được!
Nhẹ ngón tay gò gõ tiếng kêu…
Nhẹ ngón tay gầy gõ cạnh ly…
Tiếng ràn rạn xát xuống pha lê.
Ơ hờ, ta ngó lên không rỗng,
Vẩn bụi vàng trong ánh sáng lòe.
Quán rượu vang vang tiếng nước mưa
Chảy rườn rượt tựa tiếng quay tơ…
Tôi nghe thời khắc tan chầm chậm,
Làn khói ngùi lên, thuốc cháy hờ…
Góc quán mình tôi cạn chén say
Men nồng thêm gắt hận chia tay
Mấy chiều rượu cũ! Bao nhiêu bạn,
Giờ chẳng ai qua lại chốn này.
Tiểu thuyết thứ bảy số 293 (13-1-1940)
Tặng Vũ Oánh
Rượu nồng nốc mãi không say,
Rót đi cứ rót cốc đầy cốc vơi.
Cốc chan chứa sóng rồi vơi,
Cốc dừng trên miệng, cốc rời khỏi tay.
Ha! Ha! Lòng ướt, lòng cay,
Tôi tìm đến chỗ hàng cây không người.
Đảo điên mắt khóc môi cười
Gió đưa đàn cá đến ngồi cành rong.
Gió đưa sóng hát vào lòng,
Gió đưa nước sáng như không có gì.
Hồn buông, đầu óc nặng nề,
Đôi chân nhẹ bỗng như đè lên bông.
Thốt nhiên tôi lại hãi hùng,
Mắt vừa nhận thấy giòng sông đục lờ.
Nhà ai mới nổi kèn thờ,
Điệu tang ai oán ơ hờ lặng trôi.
Qua lòng sắp đắm lại thôi,
Một phen cái chết chịu lùi cái tang.
Trong tôi sợ … ướt lệ nàng,
Và run rẩy tiếng khóc than gia đình.
Với vòng hoa trắng tinh anh,
Lạnh lùng sẽ đặt lên bình nhang thơm …
Tôi về nuôi lại tâm hồn,
Sống hơn xưa, những đêm trường khó say.
Tiểu thuyết thứ năm 1939
Hãy dắt nhau đi hái lộc chùa,
Bẻ nhành hoa thắm ném ngây thơ
Lên ngang mái tóc đoàn xuân nữ,
Vì tuổi yêu đào, ta điểm tô.
Hãy chắp hai tay ở Phật tiền,
Nghe lời cô bé khấn luyên thuyên,
Ngắm đôi mắt biếc ngây ngô mở
Trong khói hương mờ nhẹ bốc lên…
Hãy xán vào nơi đoán thẻ vàng,
Trông cô em lấy vẻ nghiêm trang
Nghe lời Thánh dạy điều hung, cát,
Đôi mí say sưa chớp dịu dàng.
Rồi ngó cô đi thắm miệng cười
Tin lời giải vận, nghịch hoa tươi,
Mơ màng đến chuyện yêu đương tí
Đôi má hây hây, mắt sáng ngời…
– Xin với cô em trẩy lộc chùa,
Cho lòng đượm nắng giải ngây thơ
Trên vừng trán ánh xuân mười sáu,
Trong mắt long lanh vẻ ước mơ…
Thanh Giám
Tuần báo Bắc Hà, Số Tết, (29-1-1938)
Heo may thổi vào lòng em lác đác
Những lá khô đã chết cả màu tươi.
Nàng Lan
– Nói lên khách lặng buồn ơi!
Kẻo sương gió ở lòng tôi lạnh lùng!
– Cô như ánh sáng ngày đông,
Cô như chiếc nhạn mơ mòng cao bay,
Liệng tìm dưới dải trời mây
Một hình ảnh mộng cho ngày yên vui!
– Nói lên khách lặng buồn ơi!
Kẻo sương gió ở lòng tôi lạnh lùng!
– Nhưng đường mưa gió long đong,
Tôi không muốn gửi tấm lòng nơi cô.
Kìa cô trông xuống nguồn thu,
Lá xuôi, lá mắc bên bờ không trôi!
– Nói lên khách lặng buồn ơi!
Kẻo sương gió ở lòng tôi lạnh lùng!
– Nhưng tôi không thấy tưng bừng,
Nhưng tôi không thấy ánh hồng nhuộm tôi!
– Nói lên khách lặng buồn ơi!
Kẻo sương gió ở lòng tôi lạnh lùng!
Ba năm nghe tiếng gió rung
Giật mình còn tưởng tiếng lòng người xưa.
Thanh Giám
Tuần báo Bắc Hà, Số 1 tập mới (18-9-1937)
Tôi đã thấy một chiều ghê tởm quá,
Bên thi bài người hủi đẫm tanh hôi!
Và hôm sau, vùi rấp dưới chân đồi,
Kẻ số mệnh – hỡi linh hồn đau khổ.
Hỡi xác thịt sẽ rữa dần đưới mộ!
Không một tia khói gợn của tuần hương
Và một vài giọt lệ khóc vì… thương.
Tôi chỉ thấy lạnh lùng, người quá khách
Xéo lên đồi, màng cỏ sương vỡ rách
Khẽ kêu lên, như tiếng của âm hồn…
Họ quay đi, khạc nhổ và bồn chồn
Chừng hãi sợ mảnh thây tàn nhầy nhụa!
Vong linh ơi! Thâm tâm ta nhớp nhúa,
Đầy lỗi lầm, hối hận… Ta ngồi đây
Gõ lên mồ ngươi từng một ngón tay
Cho ta thấy tiếng hồn ta nức nở.
Ta cũng bị đời mỉa mai, ruồng bỏ,
Vì tội tình bừa bãi, mà ta không
Thấy bóng hình cứu vớt của Mênh Mông!
Để nhơ nhuốc như mình ngươi hoen rữa.
Không bao giờ lòng ta trong trắng nữa…
Tuấn Trình
Tuân báo Bắc Hà, Số 16, (26-11-1936)
đáp bài “Không về” của Nàng Lê đăng Bắc Hà số 6
Khóm trúc tuôn rơi hàng lệ cũ,
Con thuyền buộc chặt mối tình già.
Thơ Đường



