17. Hư không

Điệu kèn ai oán thổi lòng thương

Và tiễn hồn oan – cữu nặng đòn.

Không một vòng hoa phong sắc lạnh,

Trong nhà táng gỗ lở mầu son.

Thất thểu xe linh ngược gió hàn,

Đôi bà ngồi ngó lại tuần nhang.

Im như bóng lẻ người cô lão,

Đi rắc tang rơi vạn thỏi vàng.

Tiếng khóc thưa trong một đám người,

Ấm hơi lửa thuốc, thắm trầu môi.

Dăm tà áo cánh như sương rủ,

Ngơ ngác dăm thân trẻ sụt sùi.

Hồi lệnh vang đưa rộn khắp lòng,

Đã truyền tin lấp huyệt tiêu vong.

Một tuần nhang cuối, đôi lời viếng

Là hết, nằm yên xác lạnh lùng!

Mai mốt còn gì kể với nhau.

-“Ngày xưa…có một lũ khăn nâu.

Dăm người tóc bạc, mươi hai trẻ,

Đưa mấy em thơ, trắng mái đầu.

Em nhỏ đưa tang, lũ láng giềng,

Đưa hồn hàng xóm nắm hương đen…

Thế là chôn cả Tài Năng, cả

Một kiếp thơ trinh xuống cửu tuyền!”

Tiểu thuyết thứ bảy số 310 (11-5-1940)

14. Cuối mùa

Về đây chỉ thấy toàn hương ngã,

Say vẩn vơ… làn khói gợi đi…

Thời khắc nặng mang hồn trác táng,

Tàng tàng tan xuống rượu trong ly.

Ờ nhỉ, ngày nao ở chốn này,

Chia tay gái lệ với trai say.

Giờ rung bóng rượu hương tàn rụng,

Chỉ thoáng qua lên gợn áo gầy.

Ảo ảnh! Chết rồi trăm áo cũ,

Trong ly, bóng ấy vết thương ta.

Khuya khuya bải hoải màu men khói,

Say mỗi canh sầu lại bốc ra.

Tiểu thuyết thứ bảy số 302 (16-3-1940)

 

13. Quán vắng

Chiết rượu ra đầy! Rót rõ nhiều!

Mắt chưa rờn rợn bóng xiêu xiêu.

Say làm sao được? Không say được!

Nhẹ ngón tay gò gõ tiếng kêu…

Nhẹ ngón tay gầy gõ cạnh ly…

Tiếng ràn rạn xát xuống pha lê.

Ơ hờ, ta ngó lên không rỗng,

Vẩn bụi vàng trong ánh sáng lòe.

Quán rượu vang vang tiếng nước mưa

Chảy rườn rượt tựa tiếng quay tơ…

Tôi nghe thời khắc tan chầm chậm,

Làn khói ngùi lên, thuốc cháy hờ…

Góc quán mình tôi cạn chén say

Men nồng thêm gắt hận chia tay

Mấy chiều rượu cũ! Bao nhiêu bạn,

Giờ chẳng ai qua lại chốn này.

Tiểu thuyết thứ bảy số 293 (13-1-1940)

11. Tự tử

Tặng Vũ Oánh

Rượu nồng nốc mãi không say,

Rót đi cứ rót cốc đầy cốc vơi.

Cốc chan chứa sóng rồi vơi,

Cốc dừng trên miệng, cốc rời khỏi tay.

Ha! Ha! Lòng ướt, lòng cay,

Tôi tìm đến chỗ hàng cây không người.

Đảo điên mắt khóc môi cười

Gió đưa đàn cá đến ngồi cành rong.

Gió đưa sóng hát vào lòng,

Gió đưa nước sáng như không có gì.

Hồn buông, đầu óc nặng nề,

Đôi chân nhẹ bỗng như đè lên bông.

Thốt nhiên tôi lại hãi hùng,

Mắt vừa nhận thấy giòng sông đục lờ.

Nhà ai mới nổi kèn thờ,

Điệu tang ai oán ơ hờ lặng trôi.

Qua lòng sắp đắm lại thôi,

Một phen cái chết chịu lùi cái tang.

Trong tôi sợ … ướt lệ nàng,

Và run rẩy tiếng khóc than gia đình.

Với vòng hoa trắng tinh anh,

Lạnh lùng sẽ đặt lên bình nhang thơm …

Tôi về nuôi lại tâm hồn,

Sống hơn xưa, những đêm trường khó say.

Tiểu thuyết thứ năm 1939

10. Hái lộc

Hãy dắt nhau đi hái lộc chùa,

Bẻ nhành hoa thắm ném ngây thơ

Lên ngang mái tóc đoàn xuân nữ,

Vì tuổi yêu đào, ta điểm tô.

Hãy chắp hai tay ở Phật tiền,

Nghe lời cô bé khấn luyên thuyên,

Ngắm đôi mắt biếc ngây ngô mở

Trong khói hương mờ nhẹ bốc lên…

Hãy xán vào nơi đoán thẻ vàng,

Trông cô em lấy vẻ nghiêm trang

Nghe lời Thánh dạy điều hung, cát,

Đôi mí say sưa chớp dịu dàng.

Rồi ngó cô đi thắm miệng cười

Tin lời giải vận, nghịch hoa tươi,

Mơ màng đến chuyện yêu đương tí

Đôi má hây hây, mắt sáng ngời…

– Xin với cô em trẩy lộc chùa,

Cho lòng đượm nắng giải ngây thơ

Trên vừng trán ánh xuân mười sáu,

Trong mắt long lanh vẻ ước mơ…

Thanh Giám

Tuần báo Bắc Hà, Số Tết, (29-1-1938)

9. Tiếng xưa

Heo may thổi vào lòng em lác đác

Những lá khô đã chết cả màu tươi.

Nàng Lan

          – Nói lên khách lặng buồn ơi!

     Kẻo sương gió ở lòng tôi lạnh lùng!

          – Cô như ánh sáng ngày đông,

     Cô như chiếc nhạn mơ mòng cao bay,

          Liệng tìm dưới dải trời mây

     Một hình ảnh mộng cho ngày yên vui!

          – Nói lên khách lặng buồn ơi!

     Kẻo sương gió ở lòng tôi lạnh lùng!

          – Nhưng đường mưa gió long đong,

     Tôi không muốn gửi tấm lòng nơi cô.

          Kìa cô trông xuống nguồn thu,

     Lá xuôi, lá mắc bên bờ không trôi!

          – Nói lên khách lặng buồn ơi!

     Kẻo sương gió ở lòng tôi lạnh lùng!

          – Nhưng tôi không thấy tưng bừng,

     Nhưng tôi không thấy ánh hồng nhuộm tôi!

          – Nói lên khách lặng buồn ơi!

     Kẻo sương gió ở lòng tôi lạnh lùng!

          Ba năm nghe tiếng gió rung

     Giật mình còn tưởng tiếng lòng người xưa.

Thanh Giám

Tuần báo Bắc Hà, Số 1 tập mới (18-9-1937)

7. Nhơ bẩn

Tôi đã thấy một chiều ghê tởm quá,

Bên thi bài người hủi đẫm tanh hôi!

Và hôm sau, vùi rấp dưới chân đồi,

Kẻ số mệnh – hỡi linh hồn đau khổ.

Hỡi xác thịt sẽ rữa dần đưới mộ!

Không một tia khói gợn của tuần hương

Và một vài giọt lệ khóc vì… thương.

Tôi chỉ thấy lạnh lùng, người quá khách

Xéo lên đồi, màng cỏ sương vỡ rách

Khẽ kêu lên, như tiếng của âm hồn…

Họ quay đi, khạc nhổ và bồn chồn

Chừng hãi sợ mảnh thây tàn nhầy nhụa!

Vong linh ơi! Thâm tâm ta nhớp nhúa,

Đầy lỗi lầm, hối hận… Ta ngồi đây

Gõ lên mồ ngươi từng một ngón tay

Cho ta thấy tiếng hồn ta nức nở.

Ta cũng bị đời mỉa mai, ruồng bỏ,

Vì tội tình bừa bãi, mà ta không

Thấy bóng hình cứu vớt của Mênh Mông!

Để nhơ nhuốc như mình ngươi hoen rữa.

Không bao giờ lòng ta trong trắng nữa…

Tuấn Trình

Tuân báo Bắc Hà, Số 16, (26-11-1936)

6. Cố lãng quên đi

đáp bài “Không về” của Nàng Lê đăng Bắc Hà số 6

Khóm trúc tuôn rơi hàng lệ cũ,

Con thuyền buộc chặt mối tình già.

Thơ Đường

Buổi ấy, sao chìm, tiếng nhạn đâu

Gọi hơi thu nổi suốt ngàn dâu,

Giọng gà sớm gáy giờ ly biệt,

– Kìa, cuối trời xa đã trắng màu!

Ta bước lên bờ, em dưới sông

Cắm thuyền, sương dột lạnh lùng không?

Khoát tay vốc nước, em lau mặt

Giấu lệ rơi… mà vẫn ngước trông …

Rồi gió may reo lá tả tơi,

Ta còn buồn đoái lại… Nhưng nơi

Đìu hiu bến nước sương bừng sáng,

Em chỉ còn là chiếc bóng thôi!

Những sắc hoa phai, những vẻ mây

Đã mờ từng sớm, những thân cây

Ngang đồi ngơ ngác như trông ngóng…

Những mấy lần thu nhuộm tháng ngày!

Ta nhớ mầu trăng đọng mắt huyền

Khi ta hôn ngấn lệ đầu tiên,

Và chưa quên ánh sao chìm tắt

Trên sóng khi em vốc nước lên …

Ta biết, năm năm, em nản lòng

Khi luồng gió mới cuốn ngang sông

Lá vàng từng đợt. Ôi, hiu hắt!

Ngày thắm trôi theo nước cuộn giòng…

Đường thế xa xăm cát trắng bay,

Mà đời lý tưởng vẫn mê say!

Chân ta mải bước trong gian khổ,

Cố lãng quên em lẫn tháng ngày…

Nhưng đêm nay gió lạnh, sao tàn,

Chim lạ đem về tiếng thở than,

Ta trạnh thương người lần tóc bạc

Bên đèn khuya ở bến sông Hàn.

Tuấn Trình

Tuần báo Bắc Hà, Số 11, (19-10-1936)

5. Chút tình bỡ ngỡ

Lơ đãng, em nâng, rủ bức rèm,

Mắt buồn quên ngắm ánh chiều in

Trên hồ thu nhạt, vì em ngại

Khôn thả hồn say cánh mộng êm.

Tình em như khói, nửa mang mang

Nửa quyến mây êm gợn nhẹ nhàng

Cánh nhạn bên trời xa vắng vẻ,

Lờ đờ như vẫy khói nhòa tan…

Em biết lòng em đượm ái ân

Như anh ca mãi mộng “Tình quân”

Nhưng sao ta lại như chim, khói

Chim lửng lơ trôi, khói tản dần.

Em chẳng hay: Tình mới mẻ kia

Dẫu nồng, dẫu thắm, dẫu say mê

Vẫn còn vương vấn vòng e lệ

Đừng bảo: Lòng em chả ngượng gì!

Nhưng mà tiếng hát của yêu đương

Êm ái ru ta đắm mộng trường.

Anh chẳng quên đi, em vẫn nhớ

Như hoa thu vẫn đẫm màu sương.

T. G. Kh.

Tân Việt văn đoàn, số 8, 1935

4. Mơ lợt

Tặng Tym

Mơ vẫy bạn, tay tung dây nắng liễu,

Mắt buồn trông giọt phấn đọng tim sen.

Ta không muốn say sưa cùng ráng yếu

Nhuộm vàng đào đôi vịt nước hồ in…

Bởi, ai ơi! Bức uyên ương ai tặng,

Màu thuốc phai lần lữa, với tình quên.

Đã xóa nhòa giấc mơ thời mộng thắm!

Để trăm năm đời vắng giận hờn tim!

Mà ôm tranh ruổi dài đường cô lữ,

Nét phôi pha hoen chết cả màu tươi.

Ta biết tìm đâu được, mộng lòng ơi!?

Trăm Năm

Tân Việt văn đoàn, số 3, 1935