22. Tứ sầu

Mùa có sương rồi, sẽ bước đi

Xa vời, ai nhại cảnh Đường thi?

Nhà thơ đăm đắm hơi thu giá

Thèm có người làm dáng Quý Phi.

Tha thướt xiêm đài thoang thoảng khói,

Lò trầm gầy đượm móng tay son.

Nào ai phảng phất? Mà mong đợi,

Thắm rụng vàng rơi, mắt cũng mòn.

Em ở về đâu? Lạnh lắm đây?

Một mình chứa cả nhớ yêu say.

Mùa sương tới sớm và đi muộn,

Lãng đãng lòng ta lẻ tháng ngày.

Ngày tháng vô tình mây cứ bay,

Người ơi! Người ơi! Đừng làm mây!

Tiểu thuyết thứ bảy số 332 (12-10-1940)

21. Thơ ngắn

Ngày ngắn dần theo ngày trắng dần,

Sáng nay nắng lại đổ vàng sân.

Dáng người phơi áo mùa thu trước

Đã cũ càng rồi… Thôi cố nhân!

Lòng tôi như chiều em bỏ đi

Ta nhìn thiên hạ nỗi phân kỳ,

Phòng thành u uất cho mây khói,

Xây đặc ven trời bóng loạn ly…

Ai đìu hiu đốt lá khô,

Khói lên lôi cả trời thu xuống trần.

Quả bàng lác đác rơi sân,

Nghe đau lòng khách mấy lần lên cao!

Tiểu thuyết thứ bảy số 331 (5-10-1940)

20. Thâm tâm

Bạn ơi! Ngùi tiếc ngày tàn,

Là tôi, lòng chứa thu tàn cũng tôi.

Có duyên người diệt mất rồi,

Còn tình nuôi được nửa vời tình đi.

Đờn mình đem gẩy người nghe,

Giả vàng ai giả được gì ngọc châu.

Hình dung ngoài thấy già đâu,

Mà riêng mái tóc trắng màu trong tâm.

Chân tình vắng vẻ tri âm,

Thà đem ngày tháng lần lần vào điên.

Tiểu thuyết thứ bảy số 330 (29-9-1940)

19. Xa xôi

Từng sắc hoa phai. Những vẻ mây

Đã mờ từng sớm. Mấy hàng cây

Ngang đồi ngơ ngác như trông ngóng

Giời mấy lần thu úa tháng ngày…

Lát thêm san sát lá vàng mưa

Ai khiến xui ai chán đợi chờ

Rừng tóc e mầu sương tuyết cải

Chim gà rừng cũ hót càng thưa.

Ngoài bãi đìu hiu gió tịch dương

Bay vàng đôi lối…Nhớ càng thương

Những người cô-lão lên cao ngó

Nắng cháy bơ phờ mái tóc sương.

Chiều xóa dải sông, xóa cả đi

Bông lau lợt đợt, bóng chia ly

Dăm ba chiều cũ ngơi ngơi tắt

Tiếng vọng hương không gửi gắm về!

Lão phụ liu điu đợi mỗi đêm

Sương chiều đặc ngõ, giá lòng kiên

Gió vi vu thổi, hơi hiu hắt

Giấc lạnh đôi hồi mộng nhóm lên.

Mơ thấy thây chồng xa ngất nơi

Sóng muôn trùng đổ, rặt khơi vơi

Thấy con-giòng máu giang hồ kế

Năm tháng say đi bốn góc trời…

Tiểu thuyết thứ bảy số 312 (25-5-1940)

18. Chiều tháng ba

Sen nửa ao lùa phe phất áo,

Ngày nao nắng hạ ngủ hai mi.

Giờ nghe lòng cũ không rung sáo,

Trời cả chiều xuân bạc sắc chì.

Nhớ lửa loài dơi loạng choạng bay,

Đèn chiều lên thắp nội hồn say.

Từng cơn muỗi loạn theo nhau nổi,

Có những đầu bù gục xuống tay.

Đây giữa giao thời của mộng mơ,

Đôi mùa bứt dứt một bơ vơ,

Bao nhiêu tâm trạng nơi đường rẽ,

Nghe xế hoàng hôn cứ ngẩn ngơ…

Giáo giác gà về, chó thả rông,

Giờ tranh sáng tối, dở dang lòng.

Con người bận bịu trong đầu óc,

Những vật đen ngòm cận lửa hung.

Đời nặng mang vòm không khí lạ,

Loài hoa chưa mát dạ hồ sen,

Hỡi ơi! Đợi nắng trời hưu hạ,

Ai tạm đi khuây dưới mộng đèn.

Tiểu thuyết thứ bảy số 311 (18-5-1940)

17. Hư không

Điệu kèn ai oán thổi lòng thương

Và tiễn hồn oan – cữu nặng đòn.

Không một vòng hoa phong sắc lạnh,

Trong nhà táng gỗ lở mầu son.

Thất thểu xe linh ngược gió hàn,

Đôi bà ngồi ngó lại tuần nhang.

Im như bóng lẻ người cô lão,

Đi rắc tang rơi vạn thỏi vàng.

Tiếng khóc thưa trong một đám người,

Ấm hơi lửa thuốc, thắm trầu môi.

Dăm tà áo cánh như sương rủ,

Ngơ ngác dăm thân trẻ sụt sùi.

Hồi lệnh vang đưa rộn khắp lòng,

Đã truyền tin lấp huyệt tiêu vong.

Một tuần nhang cuối, đôi lời viếng

Là hết, nằm yên xác lạnh lùng!

Mai mốt còn gì kể với nhau.

-“Ngày xưa…có một lũ khăn nâu.

Dăm người tóc bạc, mươi hai trẻ,

Đưa mấy em thơ, trắng mái đầu.

Em nhỏ đưa tang, lũ láng giềng,

Đưa hồn hàng xóm nắm hương đen…

Thế là chôn cả Tài Năng, cả

Một kiếp thơ trinh xuống cửu tuyền!”

Tiểu thuyết thứ bảy số 310 (11-5-1940)

14. Cuối mùa

Về đây chỉ thấy toàn hương ngã,

Say vẩn vơ… làn khói gợi đi…

Thời khắc nặng mang hồn trác táng,

Tàng tàng tan xuống rượu trong ly.

Ờ nhỉ, ngày nao ở chốn này,

Chia tay gái lệ với trai say.

Giờ rung bóng rượu hương tàn rụng,

Chỉ thoáng qua lên gợn áo gầy.

Ảo ảnh! Chết rồi trăm áo cũ,

Trong ly, bóng ấy vết thương ta.

Khuya khuya bải hoải màu men khói,

Say mỗi canh sầu lại bốc ra.

Tiểu thuyết thứ bảy số 302 (16-3-1940)

 

13. Quán vắng

Chiết rượu ra đầy! Rót rõ nhiều!

Mắt chưa rờn rợn bóng xiêu xiêu.

Say làm sao được? Không say được!

Nhẹ ngón tay gò gõ tiếng kêu…

Nhẹ ngón tay gầy gõ cạnh ly…

Tiếng ràn rạn xát xuống pha lê.

Ơ hờ, ta ngó lên không rỗng,

Vẩn bụi vàng trong ánh sáng lòe.

Quán rượu vang vang tiếng nước mưa

Chảy rườn rượt tựa tiếng quay tơ…

Tôi nghe thời khắc tan chầm chậm,

Làn khói ngùi lên, thuốc cháy hờ…

Góc quán mình tôi cạn chén say

Men nồng thêm gắt hận chia tay

Mấy chiều rượu cũ! Bao nhiêu bạn,

Giờ chẳng ai qua lại chốn này.

Tiểu thuyết thứ bảy số 293 (13-1-1940)

11. Tự tử

Tặng Vũ Oánh

Rượu nồng nốc mãi không say,

Rót đi cứ rót cốc đầy cốc vơi.

Cốc chan chứa sóng rồi vơi,

Cốc dừng trên miệng, cốc rời khỏi tay.

Ha! Ha! Lòng ướt, lòng cay,

Tôi tìm đến chỗ hàng cây không người.

Đảo điên mắt khóc môi cười

Gió đưa đàn cá đến ngồi cành rong.

Gió đưa sóng hát vào lòng,

Gió đưa nước sáng như không có gì.

Hồn buông, đầu óc nặng nề,

Đôi chân nhẹ bỗng như đè lên bông.

Thốt nhiên tôi lại hãi hùng,

Mắt vừa nhận thấy giòng sông đục lờ.

Nhà ai mới nổi kèn thờ,

Điệu tang ai oán ơ hờ lặng trôi.

Qua lòng sắp đắm lại thôi,

Một phen cái chết chịu lùi cái tang.

Trong tôi sợ … ướt lệ nàng,

Và run rẩy tiếng khóc than gia đình.

Với vòng hoa trắng tinh anh,

Lạnh lùng sẽ đặt lên bình nhang thơm …

Tôi về nuôi lại tâm hồn,

Sống hơn xưa, những đêm trường khó say.

Tiểu thuyết thứ năm 1939

10. Hái lộc

Hãy dắt nhau đi hái lộc chùa,

Bẻ nhành hoa thắm ném ngây thơ

Lên ngang mái tóc đoàn xuân nữ,

Vì tuổi yêu đào, ta điểm tô.

Hãy chắp hai tay ở Phật tiền,

Nghe lời cô bé khấn luyên thuyên,

Ngắm đôi mắt biếc ngây ngô mở

Trong khói hương mờ nhẹ bốc lên…

Hãy xán vào nơi đoán thẻ vàng,

Trông cô em lấy vẻ nghiêm trang

Nghe lời Thánh dạy điều hung, cát,

Đôi mí say sưa chớp dịu dàng.

Rồi ngó cô đi thắm miệng cười

Tin lời giải vận, nghịch hoa tươi,

Mơ màng đến chuyện yêu đương tí

Đôi má hây hây, mắt sáng ngời…

– Xin với cô em trẩy lộc chùa,

Cho lòng đượm nắng giải ngây thơ

Trên vừng trán ánh xuân mười sáu,

Trong mắt long lanh vẻ ước mơ…

Thanh Giám

Tuần báo Bắc Hà, Số Tết, (29-1-1938)