8. Phấn bướm

Vườn giám chiều nay gió lộng về…

Ngắt chùm cỏ bạc xách lê thê,

Ta đi săn bướm trong màu nắng,

-Ồ! Cánh hoa chi đậu dưới hè?

– Ra cánh bướm vàng hãi gió may,

Bíu trên chốc cỏ, cỏ nghiêng lay…

Ta vồ, ta bắt, nhưng kìa nắng

Gió thổi bay… Kìa, chiếc bướm bay!

Bướm vụt mờ tan trong nắng rơi,

Còn dư chút phấn bợn tay thôi!

Ta về, phong nhẹm hương tàn đó

Mà nhớ, mà so với “một người”.

Tựa với cô em thoáng rỡn qua,

Phớt quầng mắt lệ, sưởi lòng ta.

Một giờ thu ấy, rồi êm lặng…

– Thoáng, rỡn đâu còn dáng thướt tha?

Phấn bướm, hình em giữ ở lòng,

Ta chờ… ngày bướm liệng ngang song,

Ngày em nghiêng nón ngang vai, đến

Rắc ánh môi cười lẫn nắng đông!

Tuấn Trình

Tuần báo Bắc Hà, Số  17, (3-12-1936)

42. Mùa thu mới

Trái hồng trĩu xuống cây rơm,

Sáng nay mùa cốm dậy thơm đầy làng.

Lúa vươn thân hút ánh vàng,

Nguồn tươi vồng nở thu sang tốt lành.

Vườn ai ngồn ngộn rau xanh,

Nhà ai mới dựng mái gianh đậm đà.

Góc sân lửa bếp rà rà,

Giữa sân vừa nở đàn gà óng tơ.

Mắt dài còn biếc cơn mơ,

Có người dõi ống khói mờ cuối sông,

Thiết tha ý vọ thương chồng,

Gửi lên xưởng máy tấc lòng lúa quê.

Chim ra tới tấp bốn bề,

Đò ngang tiếng gọi đã nghe ời ời,

Ngửa trông bài học giữa giỏi,

E mình mù chữ đường đởi lỡ chân,

Ấy ai hối hả đánh vần,

Thú vui tập đọc một lần mà say.

Đường xa tắm tắp cò bay,

Gió thu gợi dải yếm hây hây đào.

Ngõ soan khối miệng thì thào

Chuyện năm đám cưới gộp vào một nơi;

Tinh mơ, hoa mộc thơm rồi,

Uỷ ban làng báo một lời là xong.

Lối đi tói nẻo hội đồng,

Họ trai họ gái đều trông ngọn cờ…

Hồn thiêng khắp hết cõi bờ

Sáng nay óng ánh, trên tơ vải điều.

Nghiêm! chào! còi thét tiếng kêu!

Mấy anh Vệ-quốc nghe reo sóng đời.

Bình thân, ngước mắt sáng ngời,

Lạnh lùng không chuyển cốt người sắt đanh.

Tạp chí Tiên Phong, số 15-16-17, tr. 58, 1946

38. Viết đêm

Ngày tối cầy xong mươi luống chữ,

Mây giời lảng đảng giục buồn hiu.

Thơ lười gửi bạn vài câu nhỏ,

Bút mỏi cười ta lắm vận nghèo.

Ngoài phố mưa bay mờ bóng cũ,

Trên vai tóc rụng gợn niềm yêu.

Hoa đèn không hiểu lòng trang giấy,

Soi mãi trên bàn cái vắng teo.

Tiểu thuyết thứ bảy số 488 (20-11-1943)

35. Thơ lên đường

            Đề tựa thơ Trần Huyền Trân

Chàng say màu son sắt

Lại khát ánh hoa sương

Nửa đời khôn ném bút

Dăm chuyến vẫn chê hương.

Thơ chàng cho lính thú

Lính thú ngút trùng dương

Thơ chàng cho xuân nữ

Xuân nữ cười đoạn trường.

Hôm nay

            thơ lên đường

Hồn chàng ra thiên hạ

Ta vừa nghe lã chã dòng sương

Ngâm thôi

            quăng bút cười ha hả

Đây một loài hoa khác hải đường.

1942

23. Cuối thu

Tình tan giấc mộng lòng đau,

Nửa mong tảng sáng, nửa cầu thẳm khuya.

Tiếng chuông tận giáo đường kia

Hay trong chùa nọ, sầu chia sang người.

Biết sương đang đổ nên lười

Nằm nghe lá rụng đôi hồi gió Tây.

Em ơi buồn lạnh thế này,

Cùng ta chẳng có một ngày nằm đôi.

Hãy nghe trong một chiều sầu

Tiếng xe lạch cạch lên cầu lỏng tay…

Người xưa đang ngẩn bước giầy,

Xuống xe, đứng nhớ ai gầy với thu.

Tiểu thuyết thứ bảy số 333 (19-10-1940)

22. Tứ sầu

Mùa có sương rồi, sẽ bước đi

Xa vời, ai nhại cảnh Đường thi?

Nhà thơ đăm đắm hơi thu giá

Thèm có người làm dáng Quý Phi.

Tha thướt xiêm đài thoang thoảng khói,

Lò trầm gầy đượm móng tay son.

Nào ai phảng phất? Mà mong đợi,

Thắm rụng vàng rơi, mắt cũng mòn.

Em ở về đâu? Lạnh lắm đây?

Một mình chứa cả nhớ yêu say.

Mùa sương tới sớm và đi muộn,

Lãng đãng lòng ta lẻ tháng ngày.

Ngày tháng vô tình mây cứ bay,

Người ơi! Người ơi! Đừng làm mây!

Tiểu thuyết thứ bảy số 332 (12-10-1940)

21. Thơ ngắn

Ngày ngắn dần theo ngày trắng dần,

Sáng nay nắng lại đổ vàng sân.

Dáng người phơi áo mùa thu trước

Đã cũ càng rồi… Thôi cố nhân!

Lòng tôi như chiều em bỏ đi

Ta nhìn thiên hạ nỗi phân kỳ,

Phòng thành u uất cho mây khói,

Xây đặc ven trời bóng loạn ly…

Ai đìu hiu đốt lá khô,

Khói lên lôi cả trời thu xuống trần.

Quả bàng lác đác rơi sân,

Nghe đau lòng khách mấy lần lên cao!

Tiểu thuyết thứ bảy số 331 (5-10-1940)

20. Thâm tâm

Bạn ơi! Ngùi tiếc ngày tàn,

Là tôi, lòng chứa thu tàn cũng tôi.

Có duyên người diệt mất rồi,

Còn tình nuôi được nửa vời tình đi.

Đờn mình đem gẩy người nghe,

Giả vàng ai giả được gì ngọc châu.

Hình dung ngoài thấy già đâu,

Mà riêng mái tóc trắng màu trong tâm.

Chân tình vắng vẻ tri âm,

Thà đem ngày tháng lần lần vào điên.

Tiểu thuyết thứ bảy số 330 (29-9-1940)

19. Xa xôi

Từng sắc hoa phai. Những vẻ mây

Đã mờ từng sớm. Mấy hàng cây

Ngang đồi ngơ ngác như trông ngóng

Giời mấy lần thu úa tháng ngày…

Lát thêm san sát lá vàng mưa

Ai khiến xui ai chán đợi chờ

Rừng tóc e mầu sương tuyết cải

Chim gà rừng cũ hót càng thưa.

Ngoài bãi đìu hiu gió tịch dương

Bay vàng đôi lối…Nhớ càng thương

Những người cô-lão lên cao ngó

Nắng cháy bơ phờ mái tóc sương.

Chiều xóa dải sông, xóa cả đi

Bông lau lợt đợt, bóng chia ly

Dăm ba chiều cũ ngơi ngơi tắt

Tiếng vọng hương không gửi gắm về!

Lão phụ liu điu đợi mỗi đêm

Sương chiều đặc ngõ, giá lòng kiên

Gió vi vu thổi, hơi hiu hắt

Giấc lạnh đôi hồi mộng nhóm lên.

Mơ thấy thây chồng xa ngất nơi

Sóng muôn trùng đổ, rặt khơi vơi

Thấy con-giòng máu giang hồ kế

Năm tháng say đi bốn góc trời…

Tiểu thuyết thứ bảy số 312 (25-5-1940)

18. Chiều tháng ba

Sen nửa ao lùa phe phất áo,

Ngày nao nắng hạ ngủ hai mi.

Giờ nghe lòng cũ không rung sáo,

Trời cả chiều xuân bạc sắc chì.

Nhớ lửa loài dơi loạng choạng bay,

Đèn chiều lên thắp nội hồn say.

Từng cơn muỗi loạn theo nhau nổi,

Có những đầu bù gục xuống tay.

Đây giữa giao thời của mộng mơ,

Đôi mùa bứt dứt một bơ vơ,

Bao nhiêu tâm trạng nơi đường rẽ,

Nghe xế hoàng hôn cứ ngẩn ngơ…

Giáo giác gà về, chó thả rông,

Giờ tranh sáng tối, dở dang lòng.

Con người bận bịu trong đầu óc,

Những vật đen ngòm cận lửa hung.

Đời nặng mang vòm không khí lạ,

Loài hoa chưa mát dạ hồ sen,

Hỡi ơi! Đợi nắng trời hưu hạ,

Ai tạm đi khuây dưới mộng đèn.

Tiểu thuyết thứ bảy số 311 (18-5-1940)