Sông bao la vẻ ngân buồn…
Ngẩn ngơ lòng vắng chạnh hờn, thu ơi!
Gái thêu oán dõi ven trời:
Xa xăm khói nước, ngậm ngùi duyên tơ.
Muôn năm ôm ấp “hững hờ”
Sông nhầu ứa lệ pha mờ trăng rung.
Vần thơ biếng gửi điệu lòng,
Lời sương gieo trúc mơ mòng… nhắn đưa…
Kim thêu, ồ! Gẫy bao giờ?
Buồn tênh ánh nước mầu thu gợn nhòa.
Lạnh lùng… tiếng quạ xa xa,
Phả mơ hồ khúc sáo tha thiết sầu.
Hắt hiu gieo ngọn liễu rầu,
Vi vu ru gió ấp lầu phiêu diêu.
Rung sương, tiếng nhạn dặt dìu,
Tưởng như trông ngóng chàng Ngưu nấc lòng.
Nhưng xa, xa tắp muôn trùng,
Sông tan nửa nhịp cầu vồng… Than ôi!
Kìa, con quạ dọc chân trời,
Ngậm bờ Ngâu trắng tuyệt vời bay đâu?
Mông mênh sông lóa đục mầu,
Bọt thêu giọt lệ ngậm sầu, ngâm nga.
Lời buồn tan rớt mưa xa,
Ngàn năm, ôi! Khóc duyên hoa lỡ làng.
Trăm Năm
Tân Việt văn đoàn, số 2, 1935
ÁO BÀO GỐC LIỄU
Giữa những ngày người thơ đang sôi nổi hăng say với ái tình mới mẻ, với viễn miên mộng ước, với những đắm đuối mơ màng tứ lạ hồn riêng trong cuộc thay da đổi thịt gió Á mưa Âu, đã có ba chàng “Áo bào gốc liễu” Trần Huyền Trân, Nguyễn Bính, Thâm Tâm tụ họp với nhau giữa làng thơ. Người đến như trái âm nghịch phách. Người đến với ngang tàng phẫn uất, với kiêu bạc bi hùng. Người đến sẻ cho ta cái mộng anh hùng vãng xa lỡ dở. Đã lâu lắm rồi cái ngày tráng sĩ Kinh Kha qua sông Dịch Thủy tiễn thơ thái tử, đã qua cái thời những chinh phu “áo chàng đỏ tựa ráng pha” (Đặng Trần Côn), chợt nay sống lại, ngay giữa làng Thơ mới đương thời chuyển vận, bao nhiêu dư vị cổ kính của một cảm hứng lãng mạn “tráng sĩ hành.”
Người thi sĩ đầu tiên, mà cái tên đã quen lắm với chúng ta nhưng chí hướng hãy nhiều phần ẩn khuất, là Nguyễn Bính, “thi sĩ chân quê”. Đời nhớ Nguyễn Bính ở cái tình quê duyên quê đằm thắm đôn hậu, nhưng ngoài làm anh trai quê kín đáo hiền lành, người còn chí khí của bậc anh hùng giữa đám quần thoa. Bắt đầu từ ngày người ôm mộng công danh khoa cử:
“Tưng bừng vua mở khoa thi
Tôi đỗ quan trạng vinh qui về làng.”
Mộng ấy đẹp lắm, một mộng nam nhi. Nhưng Nguyễn Bính đã là con người mới, của thời đại mới mất rồi. Thế thời thời thế như cái lồng son giam cánh con chim bằng, nợ nước mây nặng vay chưa trả, vòng danh lợi ghì thân cơm áo:
“Lòng đắng sá gì muôn hớp rượu
Mà không uống cạn mà không say
Lời thề buổi ấy cầu Tư Mã
Mà áo khinh cừu không ai may”.
Phận tài tử “trí thân vào nợ nước mây” đã những mơ cao, đã những mơ xa. Người vọng tưởng để rồi hụt hẫng nhận ra kẻ anh hùng thuở trước lệch vênh thế nào với thân tài tử bây giờ:
“Kinh Kha quán lạnh sầu nghiêng chén
Ai kẻ dâng vàng, ai biếu tay?
Mơ gì Áp Tiết thiêu văn tự
Giày cỏ, gươm cùn, ta đi đây!”
Toàn bộ thi nghiệp của người, phỏng chừng độ được một hai bài hành ngật ngưỡng giọng trượng phu hảo hán như “Bài hành phương Nam.” Nhưng độ một hai bài đó thôi, ta bỗng thấy một Nguyễn Bính thật khác. Một kẻ sinh bất phùng thời, một người tráng sĩ vóc cao muôn trượng, một khách giang hồ thoát lên vòng luẩn quẩn cơm áo:
“Thế nhân mắt trắng như ngân nhũ
Ta với nhà ngươi cả tiếng cười
Dằn chén hất cao đầu cỏ dại,
Hát rằng phương Nam ta với ngươi.”
Với Trần Huyền Trân, nhà thơ “vẩy bút làm mưa gió”, người đến thi đàn có phần lỡ muộn, lại đôi độ thờ ơ như vãng khách rong chơi. Vậy mà vẫn kịp cho Hoài Thanh phải mở cửa “Thi nhân Việt Nam” đã toan đóng lại mà ghi vội một danh “những vần thơ hiền lành mà ít nói yêu đương.” Kể cũng lạ, tiếp người vào cửa làng thơ, ta thấy gương mặt người đâu mấy hiền lành. Rõ là mặt một lãng khách trông vời trời bể:
“ Đêm nay cùng đổ bụi giầy
Miệng cười ha hả, thơ mày rượu tao
Say đời nhắm lẫn chiêm bao
Thơ ra miệng dại, sầu vào mắt điên”.
Và hơn nữa, là một kẻ giang hồ đương phẫn uất gánh công danh thế thời:
“Nẻo về chật chội áo cơm
Dặm đi động lại từng cơn lá rừng
Lòng ta không sóng không dừng
Thơ vang lại vướng mấy tầng cửa quan”
Hào kiệt mà chẳng gặp thời, ví bằng phận hùm thiêng sa cơ, chim bằng cắt cánh. Nhưng kẻ anh hùng hơn lũ người trần mắt thịt ở chỗ, dẫu có phẫn hận, có cay đắng ngột ngạt, vẫn vẹn nguyên chí khí ngang tàng kiêu bạc như thế:
“Mắt trong ví chọc cho mù
Thì đen bạc đấy cũng ừ vàng son
Cười xòa giờ vẫy nước non
Tay chừng cũng ngượng chẳng còn gió bay”
Nguyễn Sĩ Đại đã chẳng sai khi nói trong cái phẫn chí của Trần Huyền Trân tiềm tàng “cái tao nhã khí khái của một thái độ sống tích cực”. Chẳng vậy mà người, dẫu đau đời đấy mà vẫn yêu đời đấy, căm đời đấy mà vẫn mê say với đời. Và hơn cả thế, rất sẵn một sĩ khí sau này ta mới tỏ tường trong đường người đi theo Cách mệnh:
“Hãy công chiến đề chung trang giấy
Cất bút cho dòng chữ kiếm reo.”
Người cuối cùng là Thâm Tâm, đã đem lại cho thi đàn một “Tống biệt hành” ta ví như “Hoàng Hạc Lâu” của Thôi Hiệu vậy. Chỉ một “Tống biệt hành” ấy người thơ đã lưu danh muôn thuở, và vụng nghĩ cũng chỉ cần một “Tống biệt hành” ấy, ta đã thấy trọn vẹn lắm cái bóng kiêu hùng người thi sĩ lồng lộng đổ xuống một đời thơ.
Tráng sĩ là ai? Một chàng hào kiệt nuôi chí tang bồng:
“- Ly khách! Ly khách! Con đường nhỏ,
Chí nhớn chưa về bàn tay không,
Thì không bao giờ nói trở lại!
Ba năm mẹ già cũng đừng mong!”
Song, cũng một con người rất đời, rất thường, có phần riêng tư ủy mị:
“Đưa người, ta không đưa qua sông,
Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
Bóng chiều không thắm, không vàng vọt,
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?”
Và trên tất cả là một kẻ sĩ khinh thế ngạo vật, một hào khí bừng bừng sục sôi
“Phiếm du mấy chốc đời như mộng:
Ném chén cười cho đã mắt ta
Thà với mãng phu ngoài bến nước
Uống dăm chén rượu quăng tay thước
Cái sống ngang tàng quen bốc men”
Thâm Tâm có dáng dấp của thi tiên Lí Bạch, một dáng dấp tự do. Không nặng đắng cay, thơ người là một dòng sức mạnh sôi nổi và hứng khởi:
“Nện cho vang tiếng chuông chiều
Thù đem sức sớm đánh kêu trống đình
Thở phù hơi rượu đua tranh
Quăng tay chén khói tan thành trời mưa”
Tuồng như ta thấy lại bóng dáng chàng Từ Hải “chọc trời khuấy nước mặc dầu” vậy. Nợ tang bồng vay trả trả vay, người đã sẵn tay mà ganh đua với đời. Có lẽ bởi âm hưởng thời đại của Cách mạng tháng Tám, nên dẫu có đấy dáng dấp cổ thi, người tráng sĩ của Thâm Tâm đã là người anh hùng rất mới:
“Sông Hồng chẳng phải xưa sông Dịch
Ta ghét hoài câu nhất khứ hề”.
Ba chàng thi sĩ về lại với nhau, như khi xưa tiệc rượu vườn đào Lưu – Quan – Trương kết nghĩa. Nhưng không cơ đồ nghiệp lớn, chẳng mưu thành thiên sự, “Áo bào gốc liễu” là một nhóm thi khách ôm mộng anh hùng quen mùi mây gió. Thảng lại gặp nhau cạn chén tri âm, rồi thoắt đã lang bạt hải hồ. Một đời thơ. Một đời mộng. Cái mộng vàng son tráng chí rơi lại từ những ngày rất xưa.
Mấy trăm năm bãi bể nương dâu thời gian vần chuyển, bóng người tráng sĩ ngày nào bên bờ sông Dịch đã tan vào dòng sông kí ức trong tâm tưởng kẻ hậu thế. Những người thơ “Áo bào gốc liễu” khuất mặt giấu tên, nhưng gương mặt người vẫn là một gương mặt thời đại. Người đã cất công nâng cái phẫn hận chán chường của một thế hệ lên thành thơ, thành cái bất bình chứa chiều kích thẩm mĩ. Vả chăng, chí anh hùng của người vẫn còn nguyên trong giấy mực đó. Biết kính cẩn nghiêng mình trước những bậc anh hào, cũng là lẽ phải đạo vậy.
Trang Hoa
https://thethaovanhoa.vn/van-hoa-doc-tham-tam-tam-voc-va-su-dang-hien-con-mai-20230512155457609.htm?fbclid=IwAR3Zi6z5wkm4OxMrpGmvsRmxB64CZSyRRAWdyaBss5M0uz2CJQP_Rn29KCs
Kính thưa Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam
Kính thưa các bác, thưa các anh chị em văn nghệ sĩ và các nhà báo,
Tôi rất cảm động khi được thay mặt gia đình Nhà thơ Thâm Tâm có mặt trong buổi Lễ trang trọng và đầm ấm này, xin trân trọng cảm ơn Hội Nhà văn Việt Nam và các bạn đã có mặt ở đây hôm nay, cảm ơn sự có mặt của đại diện Báo QĐND, NXB Quân đội Nhân dân, Sở VHTT Hà Nội, các NXB Văn nghệ, Lao Động, Kim Đồng và các đơn vị liên kết Sbooks, Linh Lan.
Xin phép được tự giới thiệu: Tôi, Nguyễn Tuấn Khoa, con trai Nhà thơ Liệt sĩ Thâm Tâm và vợ Nguyễn Ngọc Mỹ, và các con trai, gái, dâu rể.
Gia đình tôi từ trước chỉ được biết đến các tác phẩm thơ của cha tôi và thấy đây đó giới thiệu cha tôi còn có một số truyện ngắn, kịch đã đăng trên các báo, tập san trước năm 1945.
Năm 1999, anh Văn Giá đã sưu tầm được khá nhiều truyện và kịch của Thâm Tâm đăng trên TTTB, lưu trữ trên microfilm, mang bản in từ Thư viện Thành Ủy TP Hồ Chí Minh ra Hà Nội, tiếp cận với gia đình và tiến hành số hóa, xuất bản “Truyện ngắn Thâm Tâm” gồm 38 truyện và kịch ngắn vào năm 2000.
3 năm qua, được sự giới thiệu của nhiều anh chi em nhà văn, gia đình đã tiếp cận được cơ sở dữ liệu số hóa ảnh bộ TTTB hiện có tại Thư viện Quốc gia Việt Nam và bộ PTBNS Truyền bá, Tuổi trẻ của Thư viện Quốc gia Pháp, tải về được bản ảnh của nhiều số Tiểu thuyết Thứ bảy và Truyền bá. Gia đình cũng liên hệ với một só nhà sưu tầm trong ngoài nước và đã mua được một số lượng khá lớn bản gốc TTTB, Tiểu thuyết thứ bảy Nguyệt san, Truyền bá, Sách của Tân Dân. Cho tới nay, chúng tôi đã sưu tầm được 83 truyện ngắn và 29 kịch ngắn trên TTTB, từ 1939 đến 1945, 27 truyện vừa đăng trên Truyền bá và 2 tiểu thuyết “Thuốc mê” và “Nỗi ân hận dài”do Tân Dân xuất bản. Ngoài ra, còn sưu tầm thêm được một số bài thơ của Thâm Tâm trong các ấn phẩm này.
Sau khi sưu tầm những tác phẩm này, chúng tôi đã tiến hành nhận dạng tiếng Việt để ra bản text và hiệu đính hoàn chỉnh từng tác phẩm có đôi chút sửa chữa theo chính tả hiện hành. NXB Văn học và Sbooks đã ấn hành Truyện ngắn Thâm Tâm, 5 truyện cổ tích và Tập truyện ngắn chọn lọc “Tháng ba sấm động”, NXB Quân đội Nhân dân in tập “Thâm Tâm truyện vừa”, NXB Lao động và CT Linh Lan liên kết ấn hành bộ ba Tuyển truyện ngắn mới sưu tầm thêm “Gió thu hoa cúc gẩy rồi” cùng 2 tiểu thuyết “Thuốc mê”, “Nỗi ân hận dài”, năm 2023, NXB Kim Đồng ấn hành bộ truyện thiếu nhi gồm 3 cuốn “Hai cây hoa nhài” (tập truyện cổ tích), “Thuồng luồng ở nước” (tập truyện dã sử) và “Con rùa đội vẹt” (tập truyện đồng thoại).
Hôm nay, chúng tôi rất hân hạnh được Hội Nhà văn tổ chức buổi ra mắt các tác phẩm văn xuôi của Thâm Tâm mới sưu tầm được. Xin trân trọng cảm ơn các anh chị Hội Nhà văn Việt Nam, cảm ơn anh Văn Giá, người đầu tiên tìm kiếm các tác phẩm văn xuôi của Thâm Tâm từ hơn 20 năm trước, cảm ơn các anh chị đã mách bảo, động viên và giúp đỡ gia đình chúng tôi trong việc sưu tầm, cảm ơn các nhà xuất bản đã giúp đỡ gia đình biên tập lại và xuất bản các tác phẩm của Thâm Tâm đăng trên những ấn phẩm cũ từ hơn 80 năm trước.
Cũng trong mấy năm qua, chúng tôi đã xây dựng trang web Thâmtâmnet.vn, trong đó có đưa lên tất cả những tác phẩm văn thơ truyện, kịch của Thâm Tâm, cùng các chuyên mục về tiểu sử, bình luận, kỷ niệm về Thâm Tâm, Thâm Tâm và những người bạn, Trần Huyền Trân, Nguyễn Bính, Thâm Tâm và TTKh, các sáng tác văn học nghệ thuật về Thâm Tâm, di bút và di ảnh, hình ảnh đồng đội tại TCCT và quê hương Hải Dương, Cao Bằng và Hà Nội có liên quan đến Thâm Tâm, v.v…
Quá trình tìm kiếm và sưu tầm những tác phẩm của Thâm Tâm vẫn sẽ được tiếp tục. Chúng tôi hy vọng sẽ tiếp cận được thêm những sáng tác của Thâm Tâm trong giai đoan 1939-1945, cũng như trong thời gian ngắn ngủi sau Cách mạng Tháng Tám tới ngày Thâm Tâm hy sinh 1950. Công việc này sẽ được con cháu Thâm Tâm tiến hành, như tìm về những di cảo của Cha Ông, cũng góp phần nhỏ bé vào việc sưu tầm các di sản cho nền văn học nghệ thuật nước nhà.
Hai ngày nữa sẽ tới kỷ niệm 106 năm ngày sinh của cha tôi.
Tôi lớn lên mà không biết mặt cha. Trong những ngày sưu tầm và đọc các tác phẩm của cha mình, tôi vẫn tưởng tượng thấy ông đang ngồi bên ngọn đèn vàng viết trong đêm. Thật tình cờ, khi lật giở đến tờ Tiểu thuyết thứ bày số 488, ngày 20-11-1943, tôi đã gặp hình minh họa đúng như cha tôi trong tưởng tượng, bên một bài thơ có tên “Viết đêm” với hai câu thơ cuối :” Hoa đèn không hiểu lòng trang giấy / Soi mãi trên bàn cái vắng teo”.
Không, thưa cha!
Hôm nay tại Trụ sở Hội Nhà văn Việt Nam, chúng con đang được ở bên cạnh rất đông các nhà văn, nhà thơ và các bạn trẻ, đã tìm được những trang giấy ngày xưa, đã đọc được và đã hiểu lòng những trang giấy đó.
Xin được cúi đầu cảm tạ tất cả các bác, các anh chi và các bạn.
Kính thưa các nhà văn nhà thơ, kính thưa các quý khách, kính thưa đại diện gia đình nhà thơ Thâm Tâm!
Hôm nay Hội Nhà văn Việt Nam cùng gia đình nhà thơ Thâm Tâm làm lễ ra mắt những tác phẩm văn xuôi của Nhà thơ Thâm Tâm. Có lẽ có một điều đặc biệt là chúng ta làm lễ ra mắt sách của một nhà thơ đã mất. Tôi có cảm giác là ông đã mất rất lâu rồi, lâu như câu chuyện cổ tích, ngay từ lúc ban đầu yêu thơ ca, đến với thơ ca, chúng tôi đã được đọc những bài thơ của ông “Tống biệt hành”, “Chiều mưa đường số 5”và các tác phẩm khác, và lúc đó tôi mang cảm giác thơ của ông đã có từ hàng trăm năm hay hàng nghìn năm. Nhưng hôm nay ông đã trở về đây, về ngôi nhà văn chương, trong trụ sở Hội Nhà văn Việt Nam, nơi ông cùng các nhà văn tiền bối đã gây dựng lên giá trị của văn chương Việt Nam, tư cách của văn chương việt Nam và những tư tưởng lớn của văn chương Việt Nam còn lại. Trước kia trong ký ức chúng tôi hồi trẻ chỉ nghĩ rằng Thâm Tâm là một nhà thơ, và cho đến bây giờ chỉ cần một vài bài thơ của Thâm Tâm thôi đã dựng ông lên như một nhân vật, như một nhà thơ rất lớn của thời đại đó và cho đến hôm nay.
Nhà thơ Thâm Tâm mất khi còn rất trẻ, tôi muốn đặt một câu hỏi rằng những năm tháng đó, cái thời đại đó, nhà thơ Thâm Tâm cùng rất nhiều các nhà văn nhà thơ khác, họ viết khi còn rất trẻ, trên dưới 30 tuổi, nhưng tại sao họ để lại những tác phẩm lớn như vậy, mạnh mẽ ấn tượng như vậy, cho đến bây giờ chúng ta đọc vẫn nể phục và đôi khi kinh ngạc. Chính vì họ đã làm cho chúng tôi, thế hệ hôm nay, phải nhìn lại mình và những thế hệ trẻ và đặt một câu hỏi: Trong thời đại quá nhiều điều kiện sống, quá nhiều điều kiện dân chủ tự do công bố tác phẩm và có nhiều điều kiện khác hơn, tại sao văn học Việt Nam vẫn có cảm giác những bước đi đầy lúng túng, đầy khó khăn như hiện nay. Cái gì làm nên điều đó? tôi chắc chắn hiện nay những người trẻ trên dưới 30 tuổi sẽ đọc hơn gấp mười lần, gấp trăm lần những tác phẩm mà Thâm Tâm đọc, bởi vì ngày nay tất cả các tác phẩm kinh điển của thế giới, những tác phẩm hay nhất của thế giới, những tác phẩm cập nhật nhất của thế giới đều được dịch ở Việt Nam. Vậy mà ta vẫn đợi chờ một nhà văn, một nhà thơ như Thâm Tâm, như Nguyên Hồng, như Vũ Trọng Phụng và những nhà văn thời ấy.
Ở đây, chúng ta đặt một câu hỏi: Vậy thì điều kiện sống, điều kiện về kiến thức, điều kiện thông tin có đủ làm nên nhà văn lớn hay chưa? Chưa đủ. Tôi nghĩ thời đại của Thâm Tâm và những nhà văn trước đó có tư thế và tâm thế hoàn toàn khác. Họ bước vào, dấn thân trọn vẹn với văn chương, họ yêu con người đến tận cùng, họ đau đớn đên tận cùng, và họ nghĩ đến sứ mệnh của họ đến tận cùng. Cộng tất cả những điều đó lại đã giúp họ tạo ra tác phẩm của họ. Hiện nay chúng ta sống khác đi, ích kỷ hơn, tham lam hơn, ngạo mạn hơn, chính vì thế đã giết chết văn chương của chúng ta. Lâu nay tôi vẫn đặt ra câu hỏi: Ban chấp hành Hội Nhà van có 11 người, nếu có 110 người cũng không có khả năng làm cho nhà văn viết hay hơn. Mỗi nhà văn phải nhận thức điều đó.
Tôi nghĩ về các nhà văn nhà thơ, đặc biệt trong hai cuộc kháng chiến, họ bước vào cuộc chiến tranh như một nhà văn nhà thơ thực thụ, với tâm thế và tư thế của họ. Chính tinh thần, tư cách lớn lao cao cả của họ cộng với tất cả những điều khác đã làm cho những tác phẩm của họ còn lại với chúng ta.
Hôm nay chúng ta kỷ niệm Thâm Tâm, không chỉ nói cụ thể tới những tác phẩm của ông, mà chúng ta nhìn lại cả thời đại văn chương, nhìn lại giá trị văn chương, để cho tất cả những người cầm bút bây giờ, đặc biệt là những người trẻ, phải suy nghĩ lại sự cầm bút của mình, lương tri mình, tâm hồn mình, sứ mệnh của mình và trách nhiệm xã hội. Hy vọng chúng ta sẽ trả lời được câu hỏi trong đầu mình: Tâm thế nào mà Thâm Tâm thời đó đã có một khối lượng văn xuôi khổng lồ trong những năm tháng đói rét, chiến tranh, bệnh tật, đất nước còn bao nhiêu tai họa. Thâm Tâm, cùng những nhà văn thế hệ ông và sau đó nữa, đã làm nên những trang sử của văn chương hiện đại thật lộng lẫy.
Hôm nay chúng ta ở đây để ra mắt những cuốn sách văn xuôi của ông. Xin cảm ơn gia đình nhà thơ Thâm Tâm, cảm ơn anh Văn Giá, chị Thanh Hương, những người đã nỗ lực hết mình để có thể làm nên bộ sách của Thâm Tâm, để chúng ta nhìn thấy Thâm Tâm trong một vị trí khác hơn nữa, một tầm cao khác hơn nữa và những điều khác hơn nữa hệ trọng đối với văn chương Việt Nam. Đây cũng là dịp chúng ta kỷ niệm để tưởng nhớ, tôn vinh ông và chúng ta nhìn lại đời sống văn học hiện nay. Tôi nghĩ rằng đây là một việc vô cùng quan trọng và niềm vinh hạnh của Hội Nhà văn. Chúng ta dã có dịp xác lập lại một lần nữa giá trị Thâm Tâm để tôn vinh ông, truyền bá tinh thần và tư tưởng của ông, đặc biệt là truyền bá khát vọng sống, khát vọng sáng tạo, sự dâng hiến cho văn chương và cho con người của Thâm Tâm. Để rồi, mỗi nhà văn trong thời đại mới hiện nay, đặc biệt là các nhà văn thế hệ trẻ cần phải nhìn lại, cần phải xem xét nếu muốn bước tới, nếu muốn 50 năm sau, 100 năm sau những thế hệ sau còn nói về họ.
Xin kính chúc các nhà văn nhà thơ mạnh khỏe, Xin cảm ơn sự hiện diện của các anh chị trong buổi lễ giản dị, long trọng và ý nghĩa này trước một nhà văn nhà thơ đã khuất, Tôi có cảm giác như ông ở một thời đại rất xa xôi, như trong tiền sử, trở về với vẻ đẹp lộng lẫy, huy hoàng và còn nguyên giá trị trong đời sống của chúng ta, trong ngôi nhà của chúng ta, trong đời sống đất nước hiện nay, làm xác lập những giá trị đang bị đánh tráo, nhằm tháo gỡ nguy cơ làm cho các giá trị đó bị biến mất.
Xin cảm ơn!
BỨC LỤA THÊU THƠ
Nhân dịp cháu Nguyễn Tuấn Nhi, con trai nhà nhiếp ảnh Hồng Tranh đầy tuổi tôi, Thâm Tâm có bài thơ này tặng bạn. Bài thơ thêu trên lụa còn đó, nhưng cháu Nhi lớn lên đi bộ đội, đã hy sinh ở chiến trường, thành liệt sĩ được Tổ quốc ghi công.
Một chút mầm xanh như ngọc non
Mở ra cửa ngõ cảnh vườn thơm.
Trăm năm lầu bạn thêm then khóa
Từng bước đường trần vững sắt son.
Giọt sữa thanh bần gây mộng trẻ
Cành hoa chung thủy nở tình con.
Ngọn đèn mùa lạnh nhà tuy xép
Vang tiếng hài nhi nguyệt đã tròn.
























































