
https://thethaovanhoa.vn/van-hoa-doc-tham-tam-tam-voc-va-su-dang-hien-con-mai-20230512155457609.htm?fbclid=IwAR3Zi6z5wkm4OxMrpGmvsRmxB64CZSyRRAWdyaBss5M0uz2CJQP_Rn29KCs
Kính thưa Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam
Kính thưa các bác, thưa các anh chị em văn nghệ sĩ và các nhà báo,
Tôi rất cảm động khi được thay mặt gia đình Nhà thơ Thâm Tâm có mặt trong buổi Lễ trang trọng và đầm ấm này, xin trân trọng cảm ơn Hội Nhà văn Việt Nam và các bạn đã có mặt ở đây hôm nay, cảm ơn sự có mặt của đại diện Báo QĐND, NXB Quân đội Nhân dân, Sở VHTT Hà Nội, các NXB Văn nghệ, Lao Động, Kim Đồng và các đơn vị liên kết Sbooks, Linh Lan.
Xin phép được tự giới thiệu: Tôi, Nguyễn Tuấn Khoa, con trai Nhà thơ Liệt sĩ Thâm Tâm và vợ Nguyễn Ngọc Mỹ, và các con trai, gái, dâu rể.
Gia đình tôi từ trước chỉ được biết đến các tác phẩm thơ của cha tôi và thấy đây đó giới thiệu cha tôi còn có một số truyện ngắn, kịch đã đăng trên các báo, tập san trước năm 1945.
Năm 1999, anh Văn Giá đã sưu tầm được khá nhiều truyện và kịch của Thâm Tâm đăng trên TTTB, lưu trữ trên microfilm, mang bản in từ Thư viện Thành Ủy TP Hồ Chí Minh ra Hà Nội, tiếp cận với gia đình và tiến hành số hóa, xuất bản “Truyện ngắn Thâm Tâm” gồm 38 truyện và kịch ngắn vào năm 2000.
3 năm qua, được sự giới thiệu của nhiều anh chi em nhà văn, gia đình đã tiếp cận được cơ sở dữ liệu số hóa ảnh bộ TTTB hiện có tại Thư viện Quốc gia Việt Nam và bộ PTBNS Truyền bá, Tuổi trẻ của Thư viện Quốc gia Pháp, tải về được bản ảnh của nhiều số Tiểu thuyết Thứ bảy và Truyền bá. Gia đình cũng liên hệ với một só nhà sưu tầm trong ngoài nước và đã mua được một số lượng khá lớn bản gốc TTTB, Tiểu thuyết thứ bảy Nguyệt san, Truyền bá, Sách của Tân Dân. Cho tới nay, chúng tôi đã sưu tầm được 83 truyện ngắn và 29 kịch ngắn trên TTTB, từ 1939 đến 1945, 27 truyện vừa đăng trên Truyền bá và 2 tiểu thuyết “Thuốc mê” và “Nỗi ân hận dài”do Tân Dân xuất bản. Ngoài ra, còn sưu tầm thêm được một số bài thơ của Thâm Tâm trong các ấn phẩm này.
Sau khi sưu tầm những tác phẩm này, chúng tôi đã tiến hành nhận dạng tiếng Việt để ra bản text và hiệu đính hoàn chỉnh từng tác phẩm có đôi chút sửa chữa theo chính tả hiện hành. NXB Văn học và Sbooks đã ấn hành Truyện ngắn Thâm Tâm, 5 truyện cổ tích và Tập truyện ngắn chọn lọc “Tháng ba sấm động”, NXB Quân đội Nhân dân in tập “Thâm Tâm truyện vừa”, NXB Lao động và CT Linh Lan liên kết ấn hành bộ ba Tuyển truyện ngắn mới sưu tầm thêm “Gió thu hoa cúc gẩy rồi” cùng 2 tiểu thuyết “Thuốc mê”, “Nỗi ân hận dài”, năm 2023, NXB Kim Đồng ấn hành bộ truyện thiếu nhi gồm 3 cuốn “Hai cây hoa nhài” (tập truyện cổ tích), “Thuồng luồng ở nước” (tập truyện dã sử) và “Con rùa đội vẹt” (tập truyện đồng thoại).
Hôm nay, chúng tôi rất hân hạnh được Hội Nhà văn tổ chức buổi ra mắt các tác phẩm văn xuôi của Thâm Tâm mới sưu tầm được. Xin trân trọng cảm ơn các anh chị Hội Nhà văn Việt Nam, cảm ơn anh Văn Giá, người đầu tiên tìm kiếm các tác phẩm văn xuôi của Thâm Tâm từ hơn 20 năm trước, cảm ơn các anh chị đã mách bảo, động viên và giúp đỡ gia đình chúng tôi trong việc sưu tầm, cảm ơn các nhà xuất bản đã giúp đỡ gia đình biên tập lại và xuất bản các tác phẩm của Thâm Tâm đăng trên những ấn phẩm cũ từ hơn 80 năm trước.
Cũng trong mấy năm qua, chúng tôi đã xây dựng trang web Thâmtâmnet.vn, trong đó có đưa lên tất cả những tác phẩm văn thơ truyện, kịch của Thâm Tâm, cùng các chuyên mục về tiểu sử, bình luận, kỷ niệm về Thâm Tâm, Thâm Tâm và những người bạn, Trần Huyền Trân, Nguyễn Bính, Thâm Tâm và TTKh, các sáng tác văn học nghệ thuật về Thâm Tâm, di bút và di ảnh, hình ảnh đồng đội tại TCCT và quê hương Hải Dương, Cao Bằng và Hà Nội có liên quan đến Thâm Tâm, v.v…
Quá trình tìm kiếm và sưu tầm những tác phẩm của Thâm Tâm vẫn sẽ được tiếp tục. Chúng tôi hy vọng sẽ tiếp cận được thêm những sáng tác của Thâm Tâm trong giai đoan 1939-1945, cũng như trong thời gian ngắn ngủi sau Cách mạng Tháng Tám tới ngày Thâm Tâm hy sinh 1950. Công việc này sẽ được con cháu Thâm Tâm tiến hành, như tìm về những di cảo của Cha Ông, cũng góp phần nhỏ bé vào việc sưu tầm các di sản cho nền văn học nghệ thuật nước nhà.
Hai ngày nữa sẽ tới kỷ niệm 106 năm ngày sinh của cha tôi.
Tôi lớn lên mà không biết mặt cha. Trong những ngày sưu tầm và đọc các tác phẩm của cha mình, tôi vẫn tưởng tượng thấy ông đang ngồi bên ngọn đèn vàng viết trong đêm. Thật tình cờ, khi lật giở đến tờ Tiểu thuyết thứ bày số 488, ngày 20-11-1943, tôi đã gặp hình minh họa đúng như cha tôi trong tưởng tượng, bên một bài thơ có tên “Viết đêm” với hai câu thơ cuối :” Hoa đèn không hiểu lòng trang giấy / Soi mãi trên bàn cái vắng teo”.
Không, thưa cha!
Hôm nay tại Trụ sở Hội Nhà văn Việt Nam, chúng con đang được ở bên cạnh rất đông các nhà văn, nhà thơ và các bạn trẻ, đã tìm được những trang giấy ngày xưa, đã đọc được và đã hiểu lòng những trang giấy đó.
Xin được cúi đầu cảm tạ tất cả các bác, các anh chi và các bạn.
Kính thưa các nhà văn nhà thơ, kính thưa các quý khách, kính thưa đại diện gia đình nhà thơ Thâm Tâm!
Hôm nay Hội Nhà văn Việt Nam cùng gia đình nhà thơ Thâm Tâm làm lễ ra mắt những tác phẩm văn xuôi của Nhà thơ Thâm Tâm. Có lẽ có một điều đặc biệt là chúng ta làm lễ ra mắt sách của một nhà thơ đã mất. Tôi có cảm giác là ông đã mất rất lâu rồi, lâu như câu chuyện cổ tích, ngay từ lúc ban đầu yêu thơ ca, đến với thơ ca, chúng tôi đã được đọc những bài thơ của ông “Tống biệt hành”, “Chiều mưa đường số 5”và các tác phẩm khác, và lúc đó tôi mang cảm giác thơ của ông đã có từ hàng trăm năm hay hàng nghìn năm. Nhưng hôm nay ông đã trở về đây, về ngôi nhà văn chương, trong trụ sở Hội Nhà văn Việt Nam, nơi ông cùng các nhà văn tiền bối đã gây dựng lên giá trị của văn chương Việt Nam, tư cách của văn chương việt Nam và những tư tưởng lớn của văn chương Việt Nam còn lại. Trước kia trong ký ức chúng tôi hồi trẻ chỉ nghĩ rằng Thâm Tâm là một nhà thơ, và cho đến bây giờ chỉ cần một vài bài thơ của Thâm Tâm thôi đã dựng ông lên như một nhân vật, như một nhà thơ rất lớn của thời đại đó và cho đến hôm nay.
Nhà thơ Thâm Tâm mất khi còn rất trẻ, tôi muốn đặt một câu hỏi rằng những năm tháng đó, cái thời đại đó, nhà thơ Thâm Tâm cùng rất nhiều các nhà văn nhà thơ khác, họ viết khi còn rất trẻ, trên dưới 30 tuổi, nhưng tại sao họ để lại những tác phẩm lớn như vậy, mạnh mẽ ấn tượng như vậy, cho đến bây giờ chúng ta đọc vẫn nể phục và đôi khi kinh ngạc. Chính vì họ đã làm cho chúng tôi, thế hệ hôm nay, phải nhìn lại mình và những thế hệ trẻ và đặt một câu hỏi: Trong thời đại quá nhiều điều kiện sống, quá nhiều điều kiện dân chủ tự do công bố tác phẩm và có nhiều điều kiện khác hơn, tại sao văn học Việt Nam vẫn có cảm giác những bước đi đầy lúng túng, đầy khó khăn như hiện nay. Cái gì làm nên điều đó? tôi chắc chắn hiện nay những người trẻ trên dưới 30 tuổi sẽ đọc hơn gấp mười lần, gấp trăm lần những tác phẩm mà Thâm Tâm đọc, bởi vì ngày nay tất cả các tác phẩm kinh điển của thế giới, những tác phẩm hay nhất của thế giới, những tác phẩm cập nhật nhất của thế giới đều được dịch ở Việt Nam. Vậy mà ta vẫn đợi chờ một nhà văn, một nhà thơ như Thâm Tâm, như Nguyên Hồng, như Vũ Trọng Phụng và những nhà văn thời ấy.
Ở đây, chúng ta đặt một câu hỏi: Vậy thì điều kiện sống, điều kiện về kiến thức, điều kiện thông tin có đủ làm nên nhà văn lớn hay chưa? Chưa đủ. Tôi nghĩ thời đại của Thâm Tâm và những nhà văn trước đó có tư thế và tâm thế hoàn toàn khác. Họ bước vào, dấn thân trọn vẹn với văn chương, họ yêu con người đến tận cùng, họ đau đớn đên tận cùng, và họ nghĩ đến sứ mệnh của họ đến tận cùng. Cộng tất cả những điều đó lại đã giúp họ tạo ra tác phẩm của họ. Hiện nay chúng ta sống khác đi, ích kỷ hơn, tham lam hơn, ngạo mạn hơn, chính vì thế đã giết chết văn chương của chúng ta. Lâu nay tôi vẫn đặt ra câu hỏi: Ban chấp hành Hội Nhà van có 11 người, nếu có 110 người cũng không có khả năng làm cho nhà văn viết hay hơn. Mỗi nhà văn phải nhận thức điều đó.
Tôi nghĩ về các nhà văn nhà thơ, đặc biệt trong hai cuộc kháng chiến, họ bước vào cuộc chiến tranh như một nhà văn nhà thơ thực thụ, với tâm thế và tư thế của họ. Chính tinh thần, tư cách lớn lao cao cả của họ cộng với tất cả những điều khác đã làm cho những tác phẩm của họ còn lại với chúng ta.
Hôm nay chúng ta kỷ niệm Thâm Tâm, không chỉ nói cụ thể tới những tác phẩm của ông, mà chúng ta nhìn lại cả thời đại văn chương, nhìn lại giá trị văn chương, để cho tất cả những người cầm bút bây giờ, đặc biệt là những người trẻ, phải suy nghĩ lại sự cầm bút của mình, lương tri mình, tâm hồn mình, sứ mệnh của mình và trách nhiệm xã hội. Hy vọng chúng ta sẽ trả lời được câu hỏi trong đầu mình: Tâm thế nào mà Thâm Tâm thời đó đã có một khối lượng văn xuôi khổng lồ trong những năm tháng đói rét, chiến tranh, bệnh tật, đất nước còn bao nhiêu tai họa. Thâm Tâm, cùng những nhà văn thế hệ ông và sau đó nữa, đã làm nên những trang sử của văn chương hiện đại thật lộng lẫy.
Hôm nay chúng ta ở đây để ra mắt những cuốn sách văn xuôi của ông. Xin cảm ơn gia đình nhà thơ Thâm Tâm, cảm ơn anh Văn Giá, chị Thanh Hương, những người đã nỗ lực hết mình để có thể làm nên bộ sách của Thâm Tâm, để chúng ta nhìn thấy Thâm Tâm trong một vị trí khác hơn nữa, một tầm cao khác hơn nữa và những điều khác hơn nữa hệ trọng đối với văn chương Việt Nam. Đây cũng là dịp chúng ta kỷ niệm để tưởng nhớ, tôn vinh ông và chúng ta nhìn lại đời sống văn học hiện nay. Tôi nghĩ rằng đây là một việc vô cùng quan trọng và niềm vinh hạnh của Hội Nhà văn. Chúng ta dã có dịp xác lập lại một lần nữa giá trị Thâm Tâm để tôn vinh ông, truyền bá tinh thần và tư tưởng của ông, đặc biệt là truyền bá khát vọng sống, khát vọng sáng tạo, sự dâng hiến cho văn chương và cho con người của Thâm Tâm. Để rồi, mỗi nhà văn trong thời đại mới hiện nay, đặc biệt là các nhà văn thế hệ trẻ cần phải nhìn lại, cần phải xem xét nếu muốn bước tới, nếu muốn 50 năm sau, 100 năm sau những thế hệ sau còn nói về họ.
Xin kính chúc các nhà văn nhà thơ mạnh khỏe, Xin cảm ơn sự hiện diện của các anh chị trong buổi lễ giản dị, long trọng và ý nghĩa này trước một nhà văn nhà thơ đã khuất, Tôi có cảm giác như ông ở một thời đại rất xa xôi, như trong tiền sử, trở về với vẻ đẹp lộng lẫy, huy hoàng và còn nguyên giá trị trong đời sống của chúng ta, trong ngôi nhà của chúng ta, trong đời sống đất nước hiện nay, làm xác lập những giá trị đang bị đánh tráo, nhằm tháo gỡ nguy cơ làm cho các giá trị đó bị biến mất.
Xin cảm ơn!
BỨC LỤA THÊU THƠ
Nhân dịp cháu Nguyễn Tuấn Nhi, con trai nhà nhiếp ảnh Hồng Tranh đầy tuổi tôi, Thâm Tâm có bài thơ này tặng bạn. Bài thơ thêu trên lụa còn đó, nhưng cháu Nhi lớn lên đi bộ đội, đã hy sinh ở chiến trường, thành liệt sĩ được Tổ quốc ghi công.
Một chút mầm xanh như ngọc non
Mở ra cửa ngõ cảnh vườn thơm.
Trăm năm lầu bạn thêm then khóa
Từng bước đường trần vững sắt son.
Giọt sữa thanh bần gây mộng trẻ
Cành hoa chung thủy nở tình con.
Ngọn đèn mùa lạnh nhà tuy xép
Vang tiếng hài nhi nguyệt đã tròn.

Ai đó nói rằng công của thi sỹ Vũ Hoàng Chương là nâng cái chán chường lên thành thơ, tôi cũng xin được “nối điêu” bằng một ý: công của phái thơ “Áo bào gốc liễu” là đã nâng cái bất bình lên thành thơ, mang đến cho cái bất bình một chiều kích mỹ học nào đó. Đúng như một câu của Trần Huyền Trân trong bài “Độc hành ca”: “Nghe vang vỡ cái bất bình thành thơ”
“Gió lên về gác Sơn Nam/ Áo thơ gió thổi, đèn tàn gió lay/ Ý thơ lộng gió còn bay/ Ba ta, ba chiếc bóng gầy, đèn khuya/ Đêm dài tù túng đi về/ Ngọn đèn trang giấy cùng chia cái nghèo/ Dầu hao, bấc lụi, gió vèo/ Cháo rau ấm bụng thơ gieo ấm lòng/ Gác Sơn Nam, gác đèo bòng/ Có ba mái tóc bềnh bồng bên nhau/ Gió đời chưa nổi biển dâu/ Gió trời thổi mãi mái đầu nằm mơ”.
Bài “Gió gác Sơn Nam” của thi sỹ Trần Huyền Trân, in năm 1943, ngay dưới nhan đề tác phẩm có chua dòng chữ: “Kỷ niệm với Thâm Tâm và Nguyễn Bính”. Lẽ dĩ nhiên, dòng chữ này chính là yếu tố quan trọng nhất để ta có căn cứ mà cho rằng “ba chiếc bóng gầy”, “ba mái tóc bềnh bồng” trong bài thơ chẳng phải ai khác ngoài ba nhà thơ đã có tên trong “Thi nhân Việt Nam”: Trần Huyền Trân, Thâm Tâm và Nguyễn Bính.
Theo hồi ức của một vài văn sỹ, thi sỹ tiền chiến, đây là ba người bạn rất thân, họ thường nhóm nhau ở vùng Cống Trắng, Khâm Thiên, hoặc sau ga Hà Nội hồi những năm 40. (Gác Sơn Nam có lẽ là toà soạn của tuần báo Bắc Hà mà Trần Huyền Trân làm chủ bút một thời gian và Thâm Tâm là một trong những cộng tác viên đắc lực nhất). Không những thế, bằng một mảng tác phẩm rất riêng của mình, họ còn tự biệt ra thành một phái trong Thơ Mới: phái “Áo bào gốc liễu” (tôi không nhớ chính xác ai là người đã định ra cái tên này?). Có thể, về ý nghĩa văn học sử, phái “Áo bào gốc liễu” còn xa mới có được tầm vóc như “trường thơ Loạn” của các nhà thơ miền Trung Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Bích Khê, nhưng dù sao thì nó cũng không lặp lại ở các nhóm phái thơ ca khác. Bởi thế, nó cũng đã góp phần tạo nên sự đa diện trong và cho Thơ Mới.
Cụm từ “Áo bào gốc liễu”, ngay lập tức gợi cho người ta ấn tượng về hình ảnh một đấng trượng phu, một tráng sĩ, một anh hùng của thời chinh chiến nào đó đã lùi xa trong quá vãng. Hình ảnh kiêu hùng, và trong một số trường hợp, phảng phất nét kiêu bạc của một cá nhân xuất chúng vượt lên trên nhân quần, cô độc giữa những ngổn ngang của thời cuộc. Con người kiểu ấy xuất hiện khá đậm trong thơ của các thi nhân thuộc dòng thơ biên tái đời Đường, và phần nào đó, trong thơ Lý Bạch.
Thơ Việt Nam thời trung đại có vẻ như cũng không nhiều lắm hình ảnh nhân vật loại này. Thế mà lạ, trong Thơ Mới lãng mạn, khi đại đa số các nhà thơ cởi mở cõi lòng để đắm say với ái tình chàng chàng thiếp thiếp, để tận hưởng cảnh thiên nhiên đẹp và những giấc mơ viễn xứ, hoặc ít ra, để trốn vào làng quê Việt với dăm ba nét xưa cũ còn sót lại trong cuộc thay da đổi thịt lớn lao, thì con người “Áo bào gốc liễu” lại xuất hiện, như một nghịch phách, qua thơ Nguyễn Bính- đặc biệt là qua thơ của Thâm Tâm, Trần Huyền Trân- và khiến người ta phải chú ý. Chú ý vì cái dư vị cổ kính mà các tác giả đó đã tạo được qua thể “ca”, “hành” mượn từ cổ thi. Chú ý vì giọng điệu ngang tàng và phẫn hận trong lời thơ, một giọng điệu quả thực không mấy phổ biến trong Thơ Mới.
Trước hết, hãy nói tới Nguyễn Bính, tác giả vốn được mặc định như là “thi sỹ chân quê”, như là người được sinh ra để cất lên những khúc hát thương cho làng quê Việt đang có nguy cơ bị xâm thực và biến mất trước ngọn triều thành thị hóa. Giọng thơ Nguyễn Bính là giọng thơ thương cảm, “mùi mẫn”, hợp với chủ nghĩa mủi lòng của đại đa số độc giả Việt Nam (điều này giải thích tại sao thơ Nguyễn Bính lại có sức phổ biến rộng và lâu bền đến thế).
Thế nhưng, ở bài thơ có tên “Bài hành phương Nam”, viết năm 1943, Nguyễn Bính cho thấy một giọng thơ đã khác đi rất nhiều. “Ngày mai, có nghĩa gì đâu nhỉ?/ Cốt nhất vui cười trọn tối nay/ Rẫy ruồng châu ngọc thù son phấn/ Mắt đỏ lên rồi, cứ chết ngay!”. Đó là hình ảnh của một anh hùng giữa đám quần thoa, một anh hùng đang phóng túng hình hài trong cơn bế tắc tinh thần. Thậm chí có thể nói, đó là hình ảnh “lộn trái” của người anh hùng trong cổ thi: “Hỡi ơi, Nhiếp Chính mà băm mặt/ Giữa chợ ai người khóc nhận thây?/ Kinh Kha quán lạnh sầu nghiêng chén/ Ai kẻ dâng vàng, ai biếu tay?/ Mơ gì Áp Tiết thiêu văn tự/ Giày cỏ, gươm cùn, ta đi đây!”.
Phá sản trong nỗ lực tìm kiếm sự đồng hội đồng thuyền từ những nhân vật anh hùng của nước Trung Hoa thuở trước, người “anh hùng” Việt Nam thời tư sản hóa rốt cuộc phải cay đắng đối mặt với tình thế của mình: “Ta đi nhưng biết về đâu chứ?/ Đã dấy phong yên khắp bốn trời/ Thà cứ ở đây ngồi giữa chợ/ Uống say mà gọi thế nhân ơi/ Thế nhân mắt trắng như ngân nhũ/ Ta với nhà ngươi cả tiếng cười/ Dằn chén hất cao đầu cỏ dại/ Hát rằng phương Nam ta với ngươi/ Ngươi ơi! Ngươi ơi, hề ngươi ơi/ Ngươi sang bên ấy sao mà lạnh/ Nhịp trúc ta về lạnh mấy mươi”. Đáng tiếc (có thể nói đáng tiếc chăng?), những bài như “Bài hành phương Nam” là cực hiếm trong toàn bộ thi nghiệp của Nguyễn Bính.
Với Trần Huyền Trân, có lẽ nên nói rằng đó là tác giả có cái bút danh “đượm mùi váy áo” nhưng lại sở hữu một giọng thơ khá rắn rỏi, gân guốc. Hoài Thanh, khi làm “Thi nhân Việt Nam” vào năm 1941, mới chỉ ghi nhận Trần Huyền Trân như là tác giả của “những vần thơ hiền lành và ít nói yêu đương”, và bởi thế, “sau khi đọc hoài những câu rặt anh anh em em”, ông đã “tìm thấy ở đây cái thú của người đi đổi gió”. Thật lạ, chỉ cần đọc một bài như “Độc hành ca” (1940) là sẽ thấy Trần Huyền Trân không “hiền lành” chút nào: “Giao tình tợp chén chiêm bao/ Ngựa Hồ thôi gió bấc nào đạp chân/ Đây người áo đỏ tầm xuân/ Đấy đi tang trắng mấy lần trùng quan/ Không dưng rét cả dây đàn/ Này cung dâng áo ngự hàn là đây/ Nhớ xưa cùng dỗ bụi giầy/ Vỗ đùi ha hả thơ mày rượu tao/ Say đời nhắm lẫn chiêm bao/ Thơ ra miệng dại, rượu vào mắt điên”. Đây đích thị là khẩu khí của một hào khách ngang tàng, lấy giang hồ làm nhà, lấy bằng hữu làm vui, coi tiếng “khà” thích khẩu còn hơn cả trùng trùng danh lợi. Nhưng, cũng rất dễ nhận thấy ở “Độc hành ca” cái cảm thức về sự bế tắc, tù túng, ngột ngạt, không lối thoát: “Nẻo về chật chội áo cơm/ Dặm đi động lại từng cơn lá rừng/ Lòng ta không sóng không dừng/ Thơ vang lại vướng mấy tầng cửa quan”. Bởi thế, rất logic, tác giả đã kết bài thơ của mình bằng những câu chất chứa đầy tâm trạng phẫn hận, những câu thơ như nhỏ máu: “Chiều nay nhấc chén lên môi/ Không dưng tưởng nhắp máu người tanh tanh/ Khóc nhau ném chén tan tành/ Nghe vang vỡ cái bất bình thành thơ/ Cố nhân, ới hỡi người xưa/ Dọn đi tâm sự, đây mưa về rừng”.
Tới năm 1943, trong bài “Say ca”, Trần Huyền Trân đã chuyển hóa sự phẫn hận ấy thành tiếng cười gằn, cay đắng, kiêu bạc: “Mắt trong ví chọc cho mù/ Thì đen bạc đấy cũng ừ vàng son/ Cười xòa giờ vẫy nước non/ Tay chừng cũng ngượng chẳng còn gió bay/ Này thôi đấy! Này thôi đây/ Này thôi kia nữa, hớp này thì thôi/ Men lên ví chuyển lại thời/ Lũ ta đội ướt đêm dài với nhau”.
Nguyễn Sĩ Đại, trong bài viết “Từ những mưa đêm lều vó đến vô tận nguồn hương” có nhận xét khá tinh tế: “Cái lạ là ông dùng nhiều khẩu ngữ, khẩu ngữ của một anh chàng phẫn chí mà vẫn toát lên được cái tao nhã khí khái của một thái độ sống tích cực” (Thơ Trần Huyền Trân. NXB Văn học, 2001. Tr 253). Quả có vậy, trong tiếng cười cay đắng kiêu bạc của “Say ca”, hình như đã ẩn chứa một tâm thế sẵn sàng hành động (không nên quên rằng chính vào năm 1943, nhà thơ Trần Huyền Trân đã tham gia Việt Minh và Hội Văn hóa cứu quốc).
Thâm Tâm, nhân vật cuối cùng trong phái “Áo bào gốc liễu”, là tác giả đã quá nổi tiếng với bài “Tống biệt hành”, nổi tiếng đến mức đôi khi làm người ta quên mất rằng ông còn là tác giả của những bài thơ rất đặc sắc khác, như “Tráng ca’, “Vọng nhân hành”, “Can trường hành” (đều viết trong năm 1944). Đọc thơ Thâm Tâm, ở những đoạn như “Phiếm du mấy chốc đời như mộng/ Ném chén cười cho đã mắt ta/ Thà với mãng phu ngoài bến nước/ Uống dăm chén rượu quăng tay thước/ Cái sống ngang tàng quen bốc men” hay: “Thi với người nằm say bóng liễu/ Thi với người chờ mong kẻ rượu/ Lòng thênh thênh nhẹ gió thu sơ/ Nghĩa khí ngàn năm gió chẳng mờ” (Can trường hành), tôi không khỏi liên tưởng tới thi tiên Lý Bạch với những “Tương tiến tửu”, “Hiệp khách hành” lưu danh thiên cổ: cũng thái độ khinh thế ngạo vật ấy, cũng hào khí bừng bừng ấy, không khác! Từ một phía khác, khác với Nguyễn Bính và Trần Huyền Trân, có thể thấy khá rõ ở thơ Thâm Tâm nổi lên chủ yếu không phải là sự cay đắng, phẫn chí, mà là một tinh thần sục sôi hành động, một cảm hứng xóa cũ tạo mới không gì ngăn được.
Bình bài “Tống biệt hành” (chắc chắn là được viết trước năm 1941), Hoài Thanh nói rằng nó “đượm chút bâng khuâng khó hiểu của thời đại”, nhưng ở các bài thơ sau này của Thâm Tâm thì chẳng có gì bâng khuâng khó hiểu cả. Hãy đọc: “Nện cho vang tiếng chuông chiều/ Thù đem sức sớm đánh kêu trống đình/ Thở phù hơi rượu đua tranh/ Quăng tay chén khói tan thành trời mưa/ Dặm dài bến đón bờ đưa/ Thuyền ai buồm lái giúp vùa vào nhau/ Kìa kìa lũ trước dòng sau/ Trăm sông rồi cũng chung đầu đại dương” (Tráng ca); và đọc: “Sông Hồng chẳng phải xưa sông Dịch/ Ta ghét hoài câu nhất khứ hề/ Ngoài phố mưa bay xuân bốc rượu/ Tấc lòng mong mỏi cháy tê tê/ Ơi ơi bạn tác ngoài trôi dạt/ Chẳng đọc thơ ta tất cũng về” (Vọng nhân hành). Những câu thơ ấy, ở bên trong cái vẻ ngoài mang dáng dấp cổ thi của nó, nếu không rơi vào suy diễn quá mức, tôi cho rằng đó chính là những câu thơ cách mạng, theo nghĩa: thơ về và vì một sự thay đổi thật lớn lao. (Xin lưu ý đến thời điểm ra đời những bài thơ này của Thâm Tâm Nguyễn Tuấn Trình: năm 1944, đêm trước của Cách mạng tháng Tám).
Xin nhắc lại một lần nữa để tránh mọi sự hiểu nhầm: trên phương diện văn học sử, thơ của phái “Áo bào gốc liễu” có thể không phải bộ phận tác phẩm thực sự quan trọng (với cả phong trào Thơ Mới, hay với riêng một tác giả như Nguyễn Bính, Trần Huyền Trân cũng vậy). Thế nhưng, nó độc đáo, nó góp phần làm thành sự đa dạng cho diện mạo thơ Việt Nam trước năm 1945, và tất nhiên chúng ta sẽ không thể có nhận thức đầy đủ về một giai đoạn trong thơ hiện đại nếu gạt nó ra khỏi sự quan tâm. Ai đó nói rằng công của thi sỹ Vũ Hoàng Chương là nâng cái chán chường lên thành thơ, tôi cũng xin được “nối điêu” bằng một ý: công của phái thơ “Áo bào gốc liễu” là đã nâng cái bất bình lên thành thơ, mang đến cho cái bất bình một chiều kích mỹ học nào đó. Đúng như một câu của Trần Huyền Trân trong bài “Độc hành ca”: “Nghe vang vỡ cái bất bình thành thơ”
Hoài Nam
Bài “Gió gác Sơn Nam” của thi sĩ Trần Huyền Trân, in năm 1943, ngay dưới nhan đề tác phẩm có chua dòng chữ: “Kỷ niệm với Thâm Tâm và Nguyễn Bính”. Lẽ dĩ nhiên, dòng chữ này chính là yếu tố quan trọng nhất để ta có căn cứ mà cho rằng “ba chiếc bóng gầy”, “ba mái tóc bềnh bồng” trong bài thơ chẳng phải ai khác ngoài ba nhà thơ đã có tên trong “Thi nhân Việt Nam”: Trần Huyền Trân, Thâm Tâm và Nguyễn Bính.
“Gió lên về gác Sơn Nam/ Áo thơ gió thổi, đèn tàn gió lay/ Ý thơ lộng gió còn bay/ Ba ta, ba chiếc bóng gầy, đèn khuya/ Đêm dài tù túng đi về/ Ngọn đèn trang giấy cùng chia cái nghèo/ Dầu hao, bấc lụi, gió vèo/ Cháo rau ấm bụng thơ gieo ấm lòng/ Gác Sơn Nam, gác đèo bòng/ Có ba mái tóc bềnh bồng bên nhau/ Gió đời chưa nổi biển dâu/ Gió trời thổi mãi mái đầu nằm mơ”.
Bài “Gió gác Sơn Nam” của thi sĩ Trần Huyền Trân, in năm 1943, ngay dưới nhan đề tác phẩm có chua dòng chữ: “Kỷ niệm với Thâm Tâm và Nguyễn Bính”. Lẽ dĩ nhiên, dòng chữ này chính là yếu tố quan trọng nhất để ta có căn cứ mà cho rằng “ba chiếc bóng gầy”, “ba mái tóc bềnh bồng” trong bài thơ chẳng phải ai khác ngoài ba nhà thơ đã có tên trong “Thi nhân Việt Nam”: Trần Huyền Trân, Thâm Tâm và Nguyễn Bính.
Theo hồi ức của một vài thi sĩ tiền chiến, đây là ba người bạn rất thân, họ thường nhóm nhau ở vùng Cống Trắng, Khâm Thiên, hoặc sau ga Hà Nội hồi những năm 1940. Không những thế, bằng một mảng tác phẩm rất riêng của mình, họ còn tự tách biệt ra thành một phái trong Thơ Mới: phái “áo bào gốc liễu”.

Cụm từ “áo bào gốc liễu”, ngay lập tức gợi cho người ta ấn tượng về hình ảnh một đấng trượng phu, một tráng sĩ, một anh hùng của thời chinh chiến nào đó đã lùi xa trong quá vãng. Hình ảnh kiêu hùng, và trong một số trường hợp, phảng phất nét kiêu bạc của một cá nhân xuất chúng vượt lên trên nhân quần, cô độc giữa những ngổn ngang của thời cuộc. Con người kiểu ấy xuất hiện khá đậm trong thơ của các thi nhân thuộc dòng thơ biên tái đời Đường, và phần nào đó, trong thơ Lý Bạch. Thơ Việt Nam thời trung đại có vẻ như cũng không nhiều lắm hình ảnh nhân vật loại này.
Thế mà lạ, trong Thơ Mới lãng mạn, khi đại đa số các nhà thơ cởi mở cõi lòng để đắm say với ái tình chàng chàng thiếp thiếp, để tận hưởng cảnh thiên nhiên đẹp và những giấc mơ viễn xứ, hoặc ít ra, để trốn vào làng quê Việt với dăm ba nét xưa cũ còn sót lại trong cuộc thay da đổi thịt lớn lao, thì con người “áo bào gốc liễu” lại xuất hiện, như một nghịch phách, qua thơ Nguyễn Bính – đặc biệt là qua thơ của Thâm Tâm, Trần Huyền Trân – và khiến người ta phải chú ý. Chú ý vì cái dư vị cổ kính mà các tác giả đó đã tạo được qua thể “ca”, “hành” mượn từ cổ thi. Chú ý vì giọng điệu ngang tàng và phẫn hận trong lời thơ, một giọng điệu quả thực không mấy phổ biến trong Thơ Mới.
Trước hết, hãy nói tới Nguyễn Bính, tác giả vốn được mặc định như là “thi sĩ chân quê”, như là người được sinh ra để cất lên những khúc hát thương cho làng quê Việt đang có nguy cơ bị xâm thực và biến mất trước ngọn triều thành thị hóa. Giọng thơ Nguyễn Bính là giọng thơ thương cảm, “mùi mẫn”, hợp với chủ nghĩa mủi lòng của đại đa số độc giả Việt Nam.
Thế nhưng, ở bài thơ có tên “Bài hành phương Nam”, viết năm 1943, Nguyễn Bính cho thấy một giọng thơ đã khác đi rất nhiều. “Ngày mai, có nghĩa gì đâu nhỉ?/ Cốt nhất vui cười trọn tối nay/ Rẫy ruồng châu ngọc thù son phấn/ Mắt đỏ lên rồi, cứ chết ngay!”. Đó là hình ảnh của một anh hùng giữa đám quần thoa, một anh hùng đang phóng túng hình hài trong cơn bế tắc tinh thần. Thậm chí có thể nói, đó là hình ảnh “lộn trái” của người anh hùng trong cổ thi: “Hỡi ơi, Nhiếp Chính mà băm mặt/ Giữa chợ ai người khóc nhận thây?/ Kinh Kha quán lạnh sầu nghiêng chén/ Ai kẻ dâng vàng, ai biếu tay?/ Mơ gì Ap Tiết thiêu văn tự/ Giày cỏ, gươm cùn, ta đi đây!”.
Phá sản trong nỗ lực tìm kiếm sự đồng hội đồng thuyền từ những nhân vật anh hùng của nước Trung Hoa thuở trước, người “anh hùng” Việt Nam thời tư sản hóa rốt cuộc phải cay đắng đối mặt với tình thế của mình: “Ta đi nhưng biết về đâu chứ?/ Đã dấy phong yên khắp bốn trời/ Thà cứ ở đây ngồi giữa chợ/ Uống say mà gọi thế nhân ơi/ Thế nhân mắt trắng như ngân nhũ/ Ta với nhà ngươi cả tiếng cười/ Dằn chén hất cao đầu cỏ dại/ Hát rằng phương Nam ta với ngươi...”. Đáng tiếc, những bài như “Bài hành phương Nam” là cực hiếm trong toàn bộ thi nghiệp của Nguyễn Bính.
Với Trần Huyền Trân, có lẽ nên nói rằng đó là tác giả có cái bút danh “đượm mùi váy áo” nhưng lại sở hữu một giọng thơ khá rắn rỏi, gân guốc. Hoài Thanh, khi làm “Thi nhân Việt Nam” vào năm 1941, mới chỉ ghi nhận Trần Huyền Trân như là tác giả của “những vần thơ hiền lành và ít nói yêu đương”.
Thật lạ, chỉ cần đọc một bài như “Độc hành ca” (1940) là sẽ thấy Trần Huyền Trân không “hiền lành” chút nào: “Giao tình tợp chén chiêm bao/ Ngựa Hồ thôi gió bấc nào đạp chân/ Đây người áo đỏ tầm xuân/ Đấy đi tang trắng mấy lần trùng quan/ Không dưng rét cả dây đàn/ Này cung dâng áo ngự hàn là đây/ Nhớ xưa cùng dỗ bụi giầy/ Vỗ đùi ha hả thơ mày rượu tao/ Say đời nhắm lẫn chiêm bao/ Thơ ra miệng dại, rượu vào mắt điên”. Đây đích thị là khẩu khí của một hào khách ngang tàng, lấy giang hồ làm nhà, lấy bằng hữu làm vui, coi tiếng “khà” thích khẩu còn hơn cả trùng trùng danh lợi.
Nhưng, cũng rất dễ nhận thấy ở “Độc hành ca” cái cảm thức về sự bế tắc, tù túng, ngột ngạt, không lối thoát: “Nẻo về chật chội áo cơm/ Dặm đi động lại từng cơn lá rừng/ Lòng ta không sóng không dừng/ Thơ vang lại vướng mấy tầng cửa quan”. Bởi thế, rất logic, tác giả đã kết bài thơ của mình bằng những câu chất chứa đầy tâm trạng phẫn hận, những câu thơ như nhỏ máu: “Chiều nay nhấc chén lên môi/ Không dưng tưởng nhắp máu người tanh tanh/ Khóc nhau ném chén tan tành/ Nghe vang vỡ cái bất bình thành thơ/ Cố nhân, ới hỡi người xưa/ Dọn đi tâm sự, đây mưa về rừng”.
Tới năm 1943, trong bài “Say ca”, Trần Huyền Trân đã chuyển hóa sự phẫn hận ấy thành tiếng cười gằn, cay đắng, kiêu bạc: “Mắt trong ví chọc cho mù/ Thì đen bạc đấy cũng ừ vàng son/ Cười xòa giờ vẫy nước non/ Tay chừng cũng ngượng chẳng còn gió bay/ Này thôi đấy! Này thôi đây/ Này thôi kia nữa, hớp này thì thôi/ Men lên ví chuyển lại thời/ Lũ ta đội ướt đêm dài với nhau”. Nhưng trong tiếng cười cay đắng kiêu bạc ấy, hình như đã ẩn chứa một tâm thế sẵn sàng hành động (không nên quên rằng chính vào năm 1943, nhà thơ Trần Huyền Trân đã tham gia Việt Minh và Hội Văn hóa cứu quốc).
Thâm Tâm, nhân vật cuối cùng trong phái “áo bào gốc liễu”, là tác giả đã quá nổi tiếng với bài “Tống biệt hành”, nổi tiếng đến mức đôi khi làm người ta quên mất rằng ông còn là tác giả của những bài thơ rất đặc sắc khác, như “Tráng ca, “Vọng nhân hành”, “Can trường hành” (đều viết trong năm 1944).
Đọc thơ Thâm Tâm, ở những đoạn như “Phiếm du mấy chốc đời như mộng/ Ném chén cười cho đã mắt ta/ Thà với mãng phu ngoài bến nước/ Uống dăm chén rượu quăng tay thước/ Cái sống ngang tàng quen bốc men” hay: “Thi với người nằm say bóng liễu/ Thi với người chờ mong kẻ rượu/ Lòng thênh thênh nhẹ gió thu sơ/ Nghĩa khí ngàn năm gió chẳng mờ” (Can trường hành), ta không khỏi liên tưởng tới thi tiên Lý Bạch với những “Tương tiến tửu”, “Hiệp khách hành” lưu danh thiên cổ: cũng thái độ khinh thế ngạo vật ấy, cũng hào khí bừng bừng ấy, không khác.
Từ một phía khác, khác với Nguyễn Bính và Trần Huyền Trân, có thể thấy khá rõ ở thơ Thâm Tâm nổi lên chủ yếu không phải là sự cay đắng, phẫn chí, mà là một tinh thần sục sôi hành động, một cảm hứng xóa cũ tạo mới không gì ngăn được.
Bình bài “Tống biệt hành” (chắc chắn là được viết trước năm 1941), Hoài Thanh nói rằng nó “đượm chút bâng khuâng khó hiểu của thời đại”, nhưng ở các bài thơ sau này của Thâm Tâm thì chẳng có gì bâng khuâng khó hiểu cả.
Hãy đọc: “Nện cho vang tiếng chuông chiều/ Thù đem sức sớm đánh kêu trống đình/ Thở phù hơi rượu đua tranh/ Quăng tay chén khói tan thành trời mưa/ Dặm dài bến đón bờ đưa/ Thuyền ai buồm lái giúp vùa vào nhau/ Kìa kìa lũ trước dòng sau/ Trăm sông rồi cũng chung đầu đại dương” (Tráng ca); và đọc: “Sông Hồng chẳng phải xưa sông Dịch/ Ta ghét hoài câu nhất khứ hề/ Ngoài phố mưa bay xuân bốc rượu/ Tấc lòng mong mỏi cháy tê tê/ Ơi ơi bạn tác ngoài trôi giạt/ Chẳng đọc thơ ta tất cũng về” (Vọng nhân hành).
Những câu thơ ấy, ở bên trong cái vẻ ngoài mang dáng dấp cổ thi của nó, chính là những câu thơ cách mạng, theo nghĩa: thơ về và vì một sự thay đổi thật lớn lao. (Xin lưu ý đến thời điểm ra đời những bài thơ này của Thâm Tâm Nguyễn Tuấn Trình: năm 1944, đêm trước của Cách mạng Tháng Tám).
Trên phương diện văn học sử, thơ của phái “áo bào gốc liễu” có thể không phải bộ phận tác phẩm thực sự quan trọng của phong trào Thơ Mới. Thế nhưng, nó độc đáo, nó góp phần làm thành sự đa dạng cho diện mạo thơ Việt Nam trước năm 1945, và tất nhiên chúng ta sẽ không thể có nhận thức đầy đủ về một giai đoạn trong thơ hiện đại nếu gạt nó ra khỏi sự quan tâm. Công của phái thơ “áo bào gốc liễu”, có lẽ, là đã nâng cái bất bình lên thành thơ, mang đến cho cái bất bình một chiều kích mỹ học nào đó. Đúng như một câu của Trần Huyền Trân trong bài “Độc hành ca”: “Nghe vang vỡ cái bất bình thành thơ”.
https://vnca.cand.com.vn/Tu-lieu-van-hoa/ba-thi-nhan-bat-binh-cua-tho-moi-i662811/
Thâm Tâm (1917-1950) nhà thơ chiến sĩ để lại cho đời không nhiều lắm những sáng tác văn chương. Tuy nhiên, chỉ với “Chiều mưa đường số 5” và “Tống biệt hành”, tên tuổi ông cũng đã đủ khắc sâu vào lịch sử văn chương nước nhà, như một nhà thơ nổi tiếng. Và có giọng điệu riêng, đầy ấn tượng!
Bài thơ “Tống biệt hành”, thực ra cũng chỉ mới được tôn vinh trở lại từ khi có tư tưởng đổi mới. Hơn thế, nó còn được đưa vào sách giáo khoa, được nghiên cứu, bình giải, như một bài thơ đặc sắc của thơ ca tiếng Việt thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Đó cũng là một sự công bằng lịch sử!
Tuy nhiên, “Tống biệt hành” của Thâm Tâm, quả là một bài thơ có nội hàm phong phú. Đã từng xảy ra rất nhiều tranh biện sôi nổi từ nhiều năm qua về bài thơ này, cả về giá trị nội dung và nghệ thuật. Nhìn chung, cũng chưa hẳn mọi vấn đề đã được giải quyết một cách “xuôi chèo mát mái”, chưa hẳn người đọc người nghe đã đi tới một cách hiểu tương đối nhất quán, hoàn toàn tâm phục khẩu phục! Điều ấy cho hay, “Tống biệt hành” là một bài thơ chứa nhiều uẩn súc trong các hình ảnh, hình tượng thơ, trong cấu trúc thẩm mỹ, trong bối cảnh sáng tác…
Ngay như cái tên của bài thơ, toàn là từ Hán Việt. Có người hiểu “Hành” ở đây là một thể thơ (Thể Hành). Nhưng nếu ghép đầy đủ cả ba từ Hán Việt này thành một cụm từ, thì đơn giản chỉ là “Tiễn biệt người ra đi”…Thế thôi!

Vậy thì ai tiễn ai? Căn cứ vào bề mặt câu chữ “Đưa người ta không đưa qua sông”… thì có vẻ như tác giả bài thơ (Ta), cùng với gia đình (mẹ, một chị, hai chị và em gái) tiễn một người nào đó ra đi, ví như một người bạn trai nào đó thân thiết của tác giả chẳng hạn.
Hình dung như là “ta” tiễn biệt một tráng sĩ đi làm một công việc đặc biệt gì đó, vì nghĩa lớn, cao cả. Lại có hơi hướng sử thi như cái việc tiễn chàng hiệp sĩ Kinh Kha đi hành thích bạo chúa Tần Thuỷ Hoàng, đã diễn ra ở bên Tàu cách đây mấy nghìn năm…
Tôi ngờ rằng, nhân vật trữ tình “Ta” với “Người” ở đây có lẽ chỉ là một. Nghĩa là TA cùng với gia đình tiễn biệt chính TA, chứ chẳng phải là tiễn đưa một ai khác!
Hãy đọc lại đoạn thơ mở đầu thử xem:
Đưa người ta không đưa qua sông
sao có tiếng sóng ở trong lòng?
Nắng chiều không thắm không vàng vọt
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?”…
Hãy khoan nói về nghệ thuật sử dụng các vần “bằng”, “trắc”, về nhịp thơ… để tạo dựng âm thanh, tiết tấu, gợi mở tâm trạng, gợi mở không gian bi tráng của đoạn thơ mở đầu, chỉ nói về bối cảnh tiễn đưa. Rằng “Ta” tiễn một người ra đi, chẳng qua sông sâu biển rộng gì sất, mà nghe rõ như có tiếng sóng đang vỗ ào ạt trong lòng. Đấy là hỏi chính mình, đồng thời khẳng định đó chính là cảm xúc của chính mình, cảm xúc của một cuộc ra đi, linh cảm hình như là rất khó, hoặc như chẳng có ngày trở lại. Thế nên, đó là một cảm xúc buồn, mơ hồ buồn. “Nắng chiều không thắm không vàng vọt/ sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?”. Nỗi buồn đã nhuốm vào cả thiên nhiên, đến như ráng chiều cũng nhợt nhạt đi, dài dại đi, “không thắm không vàng vọt”, ấy thế mà người ra đi cũng nhuốm đầy hoàng hôn trong đôi mắt trong veo, ráo hoảnh của mình.
Đoạn thơ mở đầu đã thấy dự báo một cuộc chia ly vĩnh viễn, như một định mệnh đã được sắp đặt sẵn cả rồi. Xốn xang buồn, bi tráng, nhưng vẫn làm chủ được mình, bởi đã trải qua bao vật vã nghĩ suy, rồi mới đi đến một quyết định dứt khoát. Người đọc thấy nể trọng một nhân cách lớn, không dối mình, không dối người, không lãng mạn viển vông, cũng không lên gân to tát. Bởi đó chính là tiếng nói của trái tim, nhân bản!
Hãy nghe người thơ chiến sĩ tâm sự:
Đưa người, ta chỉ đưa người ấy
Một giã gia đình, một dửng dưng”…
Thế là “Ta” tiễn biệt chính “Ta”, “ta chỉ đưa người ấy”, cho nên mới có tâm trạng “một giã gia đình, một dửng dưng”. Một khi mục tiêu đã xác định, chí đã quyết, thì “chí lớn chưa về bàn tay không/ thì không bao giờ nói trở lại”, thì “ba năm mẹ già cũng đừng mong”!
Có cảm giác như người ra đi đang bừng bừng nghĩa khí, bất giác thốt lên những lời ca tráng sĩ, như cố xua đi, gạt phăng đi những cảm xúc có phần yếu đuối đang len lỏi trong tâm hồn tuổi trẻ yêu đời. Đó cũng là một cảm xúc chân thành, không phải chỉ Thâm Tâm mới có.
Tuy nhiên, để có một quyết tâm cao độ, dứt khoát như vậy, thật không đơn giản chút nào. Hãy nghe tác giả trình bày:
Ta biết người buồn chiều hôm trước,
Ta biết người buồn sáng hôm nay.
Thế nghĩa là buồn bã cũng đã mấy ngày rồi, trăn trở vân vi cũng đã mấy ngày rồi, chứ đâu phải đi vào chỗ hiểm nguy, vào chỗ có thể hy sinh mà bảo là tươi vui ngay cho được? Có lẽ người ra đi suy nghĩ lung lắm. Phần thì thương mẹ già, em nhỏ, các chị gái chưa chồng, chiến tranh loạn lạc thế này, trai tráng ra đi hết cả. Mà “bây giờ mùa hạ sen nở nốt”, biết đâu rồi “một chị hai chị cũng như sen”, nở rồi, thì rồi cũng sẽ tàn phai thôi? Có thể các chị đã “khuyên nốt em trai” bằng những dòng lệ xót xa thương cảm, còn sót lại, sau khi đã chảy nhiều lắm rồi. Còn cô em gái bé bỏng ngây thơ, dẫu là thương anh lắm lắm, nhưng nó cũng chỉ biết “gói tròn thương tiếc”, gói lại những giọt nước mắt xót thương anh trong chính chiếc khăn tay mỏng manh bé nhỏ của mình…
Cuối cùng, những buồn thương, những xót xa trong buổi tiễn đưa người ra đi rồi cũng tạm lắng dịu. Tác giả dường như vừa chợt tỉnh cơn mơ: “Người đi? Ừ nhỉ người đi thực”! Thế là đi thật rồi, chia ly thật rồi! Bao vật vã giằng xé, lại dồn nén, rồi bật ra những lời tâm sự chí tình. “Ly khách” dường như đang nói lời tâm huyết với mẹ, với chị và với em, xem như lời dặn dò sâu nặng nghĩa tình. Với mẹ, thì xin mẹ hãy coi con như một chiếc lá, một chiếc lá xanh, một “chiếc lá bay”…Với chị, xin hãy cứ coi thằng em trai này như một hạt bụi trên đời, thân cát bụi lại trở về cát bụi, thế thôi. Còn với đứa em bé nhỏ “mắt ngây thơ”, tình cảm anh em chúng mình, hãy xem đó chỉ là một thoáng tươi đẹp trong đời, “như hơi rượu say”, rồi thời gian sẽ dần nguôi quên…
“Tống biệt hành” của Thâm Tâm, như tôi thiển nghĩ, chỉ là một bài thơ được thể hiện như một kiểu tự tình, tự đối diện với chính mình, tự phân thân như một thủ pháp nghệ thuật cần thiết. Các hình ảnh, hình tượng thơ và cấu trúc hình thức, phải chăng, chỉ là cách biểu hiện độc đáo của tâm trạng, trong một bối cảnh đặc biệt nào đó của nhân vật trữ tình?
Có thể là chính tác giả, cùng với những xúc cảm chân thành, khi quyết định bước chân vào trường tranh đấu đầy hiểm nguy, linh cảm sẽ có thể hy sinh. Một phần, cũng có thể tác giả trình bày như một ký thác tâm tư tình cảm của những người lính “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” một thời máu lửa chưa xa chẳng hạn…
Cũng chẳng nên rạch ròi quá làm gì, bởi thơ là nghệ thuật tuyệt diệu của trí tưởng tượng, phập phồng thực ảo, huyền bí sâu xa. Người đọc cảm nhận ở “Tống biệt hành” của Thâm Tâm một tấm chân tình, một nỗi niềm trung thực, sáng trong, nhuốm màu bi tráng của một thời khốc liệt và oanh liệt của dân tộc đã qua.
Thâm Tâm (Liệt sĩ Nguyễn Tuấn Trình), chàng trai Xứ Đông tràn đầy nhiệt huyết đã ngã xuống khi tuổi đời đang sung sức. Vậy nên, “Tống biệt hành” có thể xem là một bài thơ dự báo định mệnh. Đó là một bài thơ rất lạ, đến nay vẫn còn rất lạ, khiến người đời sau phải rơi nước mắt, phải nghĩ ngợi mãi chưa thôi!…
Tống biệt hành
Đưa người ta không đưa qua sông
Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
Nắng chiều không thắm không vàng vọt
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?
Đưa người, ta chỉ đưa người ấy
Một giã gia đình, một dửng dưng…
– Ly khách! Ly khách! Con đường nhỏ
Chí nhớn chưa về bàn tay không
Thì không bao giờ nói trở lại!
Ba năm mẹ già cũng đừng mong
Ta biết người buồn chiều hôm trước
Bây giờ mùa hạ sen nở nốt
Một chị, hai chị cũng như sen
Khuyên nốt em trai dòng lệ sót
Ta biết người buồn sáng hôm nay
Trời chưa mùa thu tươi lắm thay
Em nhỏ ngây thơ đôi mắt biếc
Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay…
Người đi? Ừ nhỉ người đi thực
Mẹ thà coi như chiếc lá bay
Chị thà coi như là hạt bụi
Em thà coi như hơi rượu say…
Thâm Tâm
https://vnca.cand.com.vn/Tu-lieu-van-hoa/tham-tam-tu-tong-biet-minh-i665968/






























