Nghe vang vỡ cái bất bình thành thơ – Hoài Nam

Ai đó nói rằng công của thi sỹ Vũ Hoàng Chương là nâng cái chán chường lên thành thơ, tôi cũng xin được “nối điêu” bằng một ý: công của phái thơ “Áo bào gốc liễu” là đã nâng cái bất bình lên thành thơ, mang đến cho cái bất bình một chiều kích mỹ học nào đó. Đúng như một câu của Trần Huyền Trân trong bài “Độc hành ca”: “Nghe vang vỡ cái bất bình thành thơ”

“Gió lên về gác Sơn Nam/ Áo thơ gió thổi, đèn tàn gió lay/ Ý thơ lộng gió còn bay/ Ba ta, ba chiếc bóng gầy, đèn khuya/ Đêm dài tù túng đi về/ Ngọn đèn trang giấy cùng chia cái nghèo/ Dầu hao, bấc lụi, gió vèo/ Cháo rau ấm bụng thơ gieo ấm lòng/ Gác Sơn Nam, gác đèo bòng/ Có ba mái tóc bềnh bồng bên nhau/ Gió đời chưa nổi biển dâu/ Gió trời thổi mãi mái đầu nằm mơ”.

Bài “Gió gác Sơn Nam” của thi sỹ Trần Huyền Trân, in năm 1943, ngay dưới nhan đề tác phẩm có chua dòng chữ: “Kỷ niệm với Thâm Tâm và Nguyễn Bính”. Lẽ dĩ nhiên, dòng chữ này chính là yếu tố quan trọng nhất để ta có căn cứ mà cho rằng “ba chiếc bóng gầy”, “ba mái tóc bềnh bồng” trong bài thơ chẳng phải ai khác ngoài ba nhà thơ đã có tên trong “Thi nhân Việt Nam”: Trần Huyền Trân, Thâm Tâm và Nguyễn Bính.

Theo hồi ức của một vài văn sỹ, thi sỹ tiền chiến, đây là ba người bạn rất thân, họ thường nhóm nhau ở vùng Cống Trắng, Khâm Thiên, hoặc sau ga Hà Nội hồi những năm 40. (Gác Sơn Nam có lẽ là toà soạn của tuần báo Bắc Hà mà Trần Huyền Trân làm chủ bút một thời gian và Thâm Tâm là một trong những cộng tác viên đắc lực nhất). Không những thế, bằng một mảng tác phẩm rất riêng của mình, họ còn tự biệt ra thành một phái trong Thơ Mới: phái “Áo bào gốc liễu” (tôi không nhớ chính xác ai là người đã định ra cái tên này?). Có thể, về ý nghĩa văn học sử, phái “Áo bào gốc liễu” còn xa mới có được tầm vóc như “trường thơ Loạn” của các nhà thơ miền Trung Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Bích Khê, nhưng dù sao thì nó cũng không lặp lại ở các nhóm phái thơ ca khác. Bởi thế, nó cũng đã góp phần tạo nên sự đa diện trong và cho Thơ Mới.

Cụm từ “Áo bào gốc liễu”, ngay lập tức gợi cho người ta ấn tượng về hình ảnh một đấng trượng phu, một tráng sĩ, một anh hùng của thời chinh chiến nào đó đã lùi xa trong quá vãng. Hình ảnh kiêu hùng, và trong một số trường hợp, phảng phất nét kiêu bạc của một cá nhân xuất chúng vượt lên trên nhân quần, cô độc giữa những ngổn ngang của thời cuộc. Con người kiểu ấy xuất hiện khá đậm trong thơ của các thi nhân thuộc dòng thơ biên tái đời Đường, và phần nào đó, trong thơ Lý Bạch.

Thơ Việt Nam thời trung đại có vẻ như cũng không nhiều lắm hình ảnh nhân vật loại này. Thế mà lạ, trong Thơ Mới lãng mạn, khi đại đa số các nhà thơ cởi mở cõi lòng để đắm say với ái tình chàng chàng thiếp thiếp, để tận hưởng cảnh thiên nhiên đẹp và những giấc mơ viễn xứ, hoặc ít ra, để trốn vào làng quê Việt với dăm ba nét xưa cũ còn sót lại trong cuộc thay da đổi thịt lớn lao, thì con người “Áo bào gốc liễu” lại xuất hiện, như một nghịch phách, qua thơ Nguyễn Bính- đặc biệt là qua thơ của Thâm Tâm, Trần Huyền Trân- và khiến người ta phải chú ý. Chú ý vì cái dư vị cổ kính mà các tác giả đó đã tạo được qua thể “ca”, “hành” mượn từ cổ thi. Chú ý vì giọng điệu ngang tàng và phẫn hận trong lời thơ, một giọng điệu quả thực không mấy phổ biến trong Thơ Mới.

Trước hết, hãy nói tới Nguyễn Bính, tác giả vốn được mặc định như là “thi sỹ chân quê”, như là người được sinh ra để cất lên những khúc hát thương cho làng quê Việt đang có nguy cơ bị xâm thực và biến mất trước ngọn triều thành thị hóa. Giọng thơ Nguyễn Bính là giọng thơ thương cảm, “mùi mẫn”, hợp với chủ nghĩa mủi lòng của đại đa số độc giả Việt Nam (điều này giải thích tại sao thơ Nguyễn Bính lại có sức phổ biến rộng và lâu bền đến thế).

Thế nhưng, ở bài thơ có tên “Bài hành phương Nam”, viết năm 1943, Nguyễn Bính cho thấy một giọng thơ đã khác đi rất nhiều. “Ngày mai, có nghĩa gì đâu nhỉ?/ Cốt nhất vui cười trọn tối nay/ Rẫy ruồng châu ngọc thù son phấn/ Mắt đỏ lên rồi, cứ chết ngay!”. Đó là hình ảnh của một anh hùng giữa đám quần thoa, một anh hùng đang phóng túng hình hài trong cơn bế tắc tinh thần. Thậm chí có thể nói, đó là hình ảnh “lộn trái” của người anh hùng trong cổ thi: “Hỡi ơi, Nhiếp Chính mà băm mặt/ Giữa chợ ai người khóc nhận thây?/ Kinh Kha quán lạnh sầu nghiêng chén/ Ai kẻ dâng vàng, ai biếu tay?/ Mơ gì Áp Tiết thiêu văn tự/ Giày cỏ, gươm cùn, ta đi đây!”.

Phá sản trong nỗ lực tìm kiếm sự đồng hội đồng thuyền từ những nhân vật anh hùng của nước Trung Hoa thuở trước, người “anh hùng” Việt Nam thời tư sản hóa rốt cuộc phải cay đắng đối mặt với tình thế của mình: “Ta đi nhưng biết về đâu chứ?/ Đã dấy phong yên khắp bốn trời/ Thà cứ ở đây ngồi giữa chợ/ Uống say mà gọi thế nhân ơi/ Thế nhân mắt trắng như ngân nhũ/ Ta với nhà ngươi cả tiếng cười/ Dằn chén hất cao đầu cỏ dại/ Hát rằng phương Nam ta với ngươi/ Ngươi ơi! Ngươi ơi, hề ngươi ơi/ Ngươi sang bên ấy sao mà lạnh/ Nhịp trúc ta về lạnh mấy mươi”. Đáng tiếc (có thể nói đáng tiếc chăng?), những bài như “Bài hành phương Nam” là cực hiếm trong toàn bộ thi nghiệp của Nguyễn Bính.

Với Trần Huyền Trân, có lẽ nên nói rằng đó là tác giả có cái bút danh “đượm mùi váy áo” nhưng lại sở hữu một giọng thơ khá rắn rỏi, gân guốc. Hoài Thanh, khi làm “Thi nhân Việt Nam” vào năm 1941, mới chỉ ghi nhận Trần Huyền Trân như là tác giả của “những vần thơ hiền lành và ít nói yêu đương”, và bởi thế, “sau khi đọc hoài những câu rặt anh anh em em”, ông đã “tìm thấy ở đây cái thú của người đi đổi gió”. Thật lạ, chỉ cần đọc một bài như “Độc hành ca” (1940) là sẽ thấy Trần Huyền Trân không “hiền lành” chút nào: “Giao tình tợp chén chiêm bao/ Ngựa Hồ thôi gió bấc nào đạp chân/ Đây người áo đỏ tầm xuân/ Đấy đi tang trắng mấy lần trùng quan/ Không dưng rét cả dây đàn/ Này cung dâng áo ngự hàn là đây/ Nhớ xưa cùng dỗ bụi giầy/ Vỗ đùi ha hả thơ mày rượu tao/ Say đời nhắm lẫn chiêm bao/ Thơ ra miệng dại, rượu vào mắt điên”. Đây đích thị là khẩu khí của một hào khách ngang tàng, lấy giang hồ làm nhà, lấy bằng hữu làm vui, coi tiếng “khà” thích khẩu còn hơn cả trùng trùng danh lợi. Nhưng, cũng rất dễ nhận thấy ở “Độc hành ca” cái cảm thức về sự bế tắc, tù túng, ngột ngạt, không lối thoát: “Nẻo về chật chội áo cơm/ Dặm đi động lại từng cơn lá rừng/ Lòng ta không sóng không dừng/ Thơ vang lại vướng mấy tầng cửa quan”. Bởi thế, rất logic, tác giả đã kết bài thơ của mình bằng những câu chất chứa đầy tâm trạng phẫn hận, những câu thơ như nhỏ máu: “Chiều nay nhấc chén lên môi/ Không dưng tưởng nhắp máu người tanh tanh/ Khóc nhau ném chén tan tành/ Nghe vang vỡ cái bất bình thành thơ/ Cố nhân, ới hỡi người xưa/ Dọn đi tâm sự, đây mưa về rừng”.

Tới năm 1943, trong bài “Say ca”, Trần Huyền Trân đã chuyển hóa sự phẫn hận ấy thành tiếng cười gằn, cay đắng, kiêu bạc: “Mắt trong ví chọc cho mù/ Thì đen bạc đấy cũng ừ vàng son/ Cười xòa giờ vẫy nước non/ Tay chừng cũng ngượng chẳng còn gió bay/ Này thôi đấy! Này thôi đây/ Này thôi kia nữa, hớp này thì thôi/ Men lên ví chuyển lại thời/ Lũ ta đội ướt đêm dài với nhau”.

Nguyễn Sĩ Đại, trong bài viết “Từ những mưa đêm lều vó đến vô tận nguồn hương” có nhận xét khá tinh tế: “Cái lạ là ông dùng nhiều khẩu ngữ, khẩu ngữ của một anh chàng phẫn chí mà vẫn toát lên được cái tao nhã khí khái của một thái độ sống tích cực” (Thơ Trần Huyền Trân. NXB Văn học, 2001. Tr 253). Quả có vậy, trong tiếng cười cay đắng kiêu bạc của “Say ca”, hình như đã ẩn chứa một tâm thế sẵn sàng hành động (không nên quên rằng chính vào năm 1943, nhà thơ Trần Huyền Trân đã tham gia Việt Minh và Hội Văn hóa cứu quốc).

Thâm Tâm, nhân vật cuối cùng trong phái “Áo bào gốc liễu”, là tác giả đã quá nổi tiếng với bài “Tống biệt hành”, nổi tiếng đến mức đôi khi làm người ta quên mất rằng ông còn là tác giả của những bài thơ rất đặc sắc khác, như “Tráng ca’, “Vọng nhân hành”, “Can trường hành” (đều viết trong năm 1944). Đọc thơ Thâm Tâm, ở những đoạn như “Phiếm du mấy chốc đời như mộng/ Ném chén cười cho đã mắt ta/ Thà với mãng phu ngoài bến nước/ Uống dăm chén rượu quăng tay thước/ Cái sống ngang tàng quen bốc men” hay: “Thi với người nằm say bóng liễu/ Thi với người chờ mong kẻ rượu/ Lòng thênh thênh nhẹ gió thu sơ/ Nghĩa khí ngàn năm gió chẳng mờ” (Can trường hành), tôi không khỏi liên tưởng tới thi tiên Lý Bạch với những “Tương tiến tửu”, “Hiệp khách hành” lưu danh thiên cổ: cũng thái độ khinh thế ngạo vật ấy, cũng hào khí bừng bừng ấy, không khác! Từ một phía khác, khác với Nguyễn Bính và Trần Huyền Trân, có thể thấy khá rõ ở thơ Thâm Tâm nổi lên chủ yếu không phải là sự cay đắng, phẫn chí, mà là một tinh thần sục sôi hành động, một cảm hứng xóa cũ tạo mới không gì ngăn được.

Bình bài “Tống biệt hành” (chắc chắn là được viết trước năm 1941), Hoài Thanh nói rằng nó “đượm chút bâng khuâng khó hiểu của thời đại”, nhưng ở các bài thơ sau này của Thâm Tâm thì chẳng có gì bâng khuâng khó hiểu cả. Hãy đọc: “Nện cho vang tiếng chuông chiều/ Thù đem sức sớm đánh kêu trống đình/ Thở phù hơi rượu đua tranh/ Quăng tay chén khói tan thành trời mưa/ Dặm dài bến đón bờ đưa/ Thuyền ai buồm lái giúp vùa vào nhau/ Kìa kìa lũ trước dòng sau/ Trăm sông rồi cũng chung đầu đại dương” (Tráng ca); và đọc: “Sông Hồng chẳng phải xưa sông Dịch/ Ta ghét hoài câu nhất khứ hề/ Ngoài phố mưa bay xuân bốc rượu/ Tấc lòng mong mỏi cháy tê tê/ Ơi ơi bạn tác ngoài trôi dạt/ Chẳng đọc thơ ta tất cũng về” (Vọng nhân hành). Những câu thơ ấy, ở bên trong cái vẻ ngoài mang dáng dấp cổ thi của nó, nếu không rơi vào suy diễn quá mức, tôi cho rằng đó chính là những câu thơ cách mạng, theo nghĩa: thơ về và vì một sự thay đổi thật lớn lao. (Xin lưu ý đến thời điểm ra đời những bài thơ này của Thâm Tâm Nguyễn Tuấn Trình: năm 1944, đêm trước của Cách mạng tháng Tám).

Xin nhắc lại một lần nữa để tránh mọi sự hiểu nhầm: trên phương diện văn học sử, thơ của phái “Áo bào gốc liễu” có thể không phải bộ phận tác phẩm thực sự quan trọng (với cả phong trào Thơ Mới, hay với riêng một tác giả như Nguyễn Bính, Trần Huyền Trân cũng vậy). Thế nhưng, nó độc đáo, nó góp phần làm thành sự đa dạng cho diện mạo thơ Việt Nam trước năm 1945, và tất nhiên chúng ta sẽ không thể có nhận thức đầy đủ về một giai đoạn trong thơ hiện đại nếu gạt nó ra khỏi sự quan tâm. Ai đó nói rằng công của thi sỹ Vũ Hoàng Chương là nâng cái chán chường lên thành thơ, tôi cũng xin được “nối điêu” bằng một ý: công của phái thơ “Áo bào gốc liễu” là đã nâng cái bất bình lên thành thơ, mang đến cho cái bất bình một chiều kích mỹ học nào đó. Đúng như một câu của Trần Huyền Trân trong bài “Độc hành ca”: “Nghe vang vỡ cái bất bình thành thơ”

Hoài Nam

 

Ba thi nhân “bất bình” của Thơ Mới

Bài “Gió gác Sơn Nam” của thi sĩ Trần Huyền Trân, in năm 1943, ngay dưới nhan đề tác phẩm có chua dòng chữ: “Kỷ niệm với Thâm Tâm và Nguyễn Bính”. Lẽ dĩ nhiên, dòng chữ này chính là yếu tố quan trọng nhất để ta có căn cứ mà cho rằng “ba chiếc bóng gầy”, “ba mái tóc bềnh bồng” trong bài thơ chẳng phải ai khác ngoài ba nhà thơ đã có tên trong “Thi nhân Việt Nam”: Trần Huyền Trân, Thâm Tâm và Nguyễn Bính.

“Gió lên về gác Sơn Nam/ Áo thơ gió thổi, đèn tàn gió lay/ Ý thơ lộng gió còn bay/ Ba ta, ba chiếc bóng gầy, đèn khuya/ Đêm dài tù túng đi về/ Ngọn đèn trang giấy cùng chia cái nghèo/ Dầu hao, bấc lụi, gió vèo/ Cháo rau ấm bụng thơ gieo ấm lòng/ Gác Sơn Nam, gác đèo bòng/ Có ba mái tóc bềnh bồng bên nhau/ Gió đời chưa nổi biển dâu/ Gió trời thổi mãi mái đầu nằm mơ”.

Bài “Gió gác Sơn Nam” của thi sĩ Trần Huyền Trân, in năm 1943, ngay dưới nhan đề tác phẩm có chua dòng chữ: “Kỷ niệm với Thâm Tâm và Nguyễn Bính”. Lẽ dĩ nhiên, dòng chữ này chính là yếu tố quan trọng nhất để ta có căn cứ mà cho rằng “ba chiếc bóng gầy”, “ba mái tóc bềnh bồng” trong bài thơ chẳng phải ai khác ngoài ba nhà thơ đã có tên trong “Thi nhân Việt Nam”: Trần Huyền Trân, Thâm Tâm và Nguyễn Bính.

Theo hồi ức của một vài thi sĩ tiền chiến, đây là ba người bạn rất thân, họ thường nhóm nhau ở vùng Cống Trắng, Khâm Thiên, hoặc sau ga Hà Nội hồi những năm 1940. Không những thế, bằng một mảng tác phẩm rất riêng của mình, họ còn tự tách biệt ra thành một phái trong Thơ Mới: phái “áo bào gốc liễu”.

Ba thi nhân “bất bình” của Thơ Mới -0
Từ trái qua: Nhà thơ Trần Huyền Trân, Nguyễn Bính, Thâm Tâm.

Cụm từ “áo bào gốc liễu”, ngay lập tức gợi cho người ta ấn tượng về hình ảnh một đấng trượng phu, một tráng sĩ, một anh hùng của thời chinh chiến nào đó đã lùi xa trong quá vãng. Hình ảnh kiêu hùng, và trong một số trường hợp, phảng phất nét kiêu bạc của một cá nhân xuất chúng vượt lên trên nhân quần, cô độc giữa những ngổn ngang của thời cuộc. Con người kiểu ấy xuất hiện khá đậm trong thơ của các thi nhân thuộc dòng thơ biên tái đời Đường, và phần nào đó, trong thơ Lý Bạch. Thơ Việt Nam thời trung đại có vẻ như cũng không nhiều lắm hình ảnh nhân vật loại này.

Thế mà lạ, trong Thơ Mới lãng mạn, khi đại đa số các nhà thơ cởi mở cõi lòng để đắm say với ái tình chàng chàng thiếp thiếp, để tận hưởng cảnh thiên nhiên đẹp và những giấc mơ viễn xứ, hoặc ít ra, để trốn vào làng quê Việt với dăm ba nét xưa cũ còn sót lại trong cuộc thay da đổi thịt lớn lao, thì con người “áo bào gốc liễu” lại xuất hiện, như một nghịch phách, qua thơ Nguyễn Bính – đặc biệt là qua thơ của Thâm Tâm, Trần Huyền Trân – và khiến người ta phải chú ý. Chú ý vì cái dư vị cổ kính mà các tác giả đó đã tạo được qua thể “ca”, “hành” mượn từ cổ thi. Chú ý vì giọng điệu ngang tàng và phẫn hận trong lời thơ, một giọng điệu quả thực không mấy phổ biến trong Thơ Mới.

Trước hết, hãy nói tới Nguyễn Bính, tác giả vốn được mặc định như là “thi sĩ chân quê”, như là người được sinh ra để cất lên những khúc hát thương cho làng quê Việt đang có nguy cơ bị xâm thực và biến mất trước ngọn triều thành thị hóa. Giọng thơ Nguyễn Bính là giọng thơ thương cảm, “mùi mẫn”, hợp với chủ nghĩa mủi lòng của đại đa số độc giả Việt Nam.

Thế nhưng, ở bài thơ có tên “Bài hành phương Nam”, viết năm 1943, Nguyễn Bính cho thấy một giọng thơ đã khác đi rất nhiều. “Ngày mai, có nghĩa gì đâu nhỉ?/ Cốt nhất vui cười trọn tối nay/ Rẫy ruồng châu ngọc thù son phấn/ Mắt đỏ lên rồi, cứ chết ngay!”. Đó là hình ảnh của một anh hùng giữa đám quần thoa, một anh hùng đang phóng túng hình hài trong cơn bế tắc tinh thần. Thậm chí có thể nói, đó là hình ảnh “lộn trái” của người anh hùng trong cổ thi: “Hỡi ơi, Nhiếp Chính mà băm mặt/ Giữa chợ ai người khóc nhận thây?/ Kinh Kha quán lạnh sầu nghiêng chén/ Ai kẻ dâng vàng, ai biếu tay?/ Mơ gì Ap Tiết thiêu văn tự/ Giày cỏ, gươm cùn, ta đi đây!”.

Phá sản trong nỗ lực tìm kiếm sự đồng hội đồng thuyền từ những nhân vật anh hùng của nước Trung Hoa thuở trước, người “anh hùng” Việt Nam thời tư sản hóa rốt cuộc phải cay đắng đối mặt với tình thế của mình: “Ta đi nhưng biết về đâu chứ?/ Đã dấy phong yên khắp bốn trời/ Thà cứ ở đây ngồi giữa chợ/ Uống say mà gọi thế nhân ơi/ Thế nhân mắt trắng như ngân nhũ/ Ta với nhà ngươi cả tiếng cười/ Dằn chén hất cao đầu cỏ dại/ Hát rằng phương Nam ta với ngươi...”. Đáng tiếc, những bài như “Bài hành phương Nam” là cực hiếm trong toàn bộ thi nghiệp của Nguyễn Bính.

Với Trần Huyền Trân, có lẽ nên nói rằng đó là tác giả có cái bút danh “đượm mùi váy áo” nhưng lại sở hữu một giọng thơ khá rắn rỏi, gân guốc. Hoài Thanh, khi làm “Thi nhân Việt Nam” vào năm 1941, mới chỉ ghi nhận Trần Huyền Trân như là tác giả của “những vần thơ hiền lành và ít nói yêu đương”.

Thật lạ, chỉ cần đọc một bài như “Độc hành ca” (1940) là sẽ thấy Trần Huyền Trân không “hiền lành” chút nào: “Giao tình tợp chén chiêm bao/ Ngựa Hồ thôi gió bấc nào đạp chân/ Đây người áo đỏ tầm xuân/ Đấy đi tang trắng mấy lần trùng quan/ Không dưng rét cả dây đàn/ Này cung dâng áo ngự hàn là đây/ Nhớ xưa cùng dỗ bụi giầy/ Vỗ đùi ha hả thơ mày rượu tao/ Say đời nhắm lẫn chiêm bao/ Thơ ra miệng dại, rượu vào mắt điên”. Đây đích thị là khẩu khí của một hào khách ngang tàng, lấy giang hồ làm nhà, lấy bằng hữu làm vui, coi tiếng “khà” thích khẩu còn hơn cả trùng trùng danh lợi.

Nhưng, cũng rất dễ nhận thấy ở “Độc hành ca” cái cảm thức về sự bế tắc, tù túng, ngột ngạt, không lối thoát: “Nẻo về chật chội áo cơm/ Dặm đi động lại từng cơn lá rừng/ Lòng ta không sóng không dừng/ Thơ vang lại vướng mấy tầng cửa quan”. Bởi thế, rất logic, tác giả đã kết bài thơ của mình bằng những câu chất chứa đầy tâm trạng phẫn hận, những câu thơ như nhỏ máu: “Chiều nay nhấc chén lên môi/ Không dưng tưởng nhắp máu người tanh tanh/ Khóc nhau ném chén tan tành/ Nghe vang vỡ cái bất bình thành thơ/ Cố nhân, ới hỡi người xưa/ Dọn đi tâm sự, đây mưa về rừng”.

Tới năm 1943, trong bài “Say ca”, Trần Huyền Trân đã chuyển hóa sự phẫn hận ấy thành tiếng cười gằn, cay đắng, kiêu bạc: “Mắt trong ví chọc cho mù/ Thì đen bạc đấy cũng ừ vàng son/ Cười xòa giờ vẫy nước non/ Tay chừng cũng ngượng chẳng còn gió bay/ Này thôi đấy! Này thôi đây/ Này thôi kia nữa, hớp này thì thôi/ Men lên ví chuyển lại thời/ Lũ ta đội ướt đêm dài với nhau”. Nhưng trong tiếng cười cay đắng kiêu bạc ấy, hình như đã ẩn chứa một tâm thế sẵn sàng hành động (không nên quên rằng chính vào năm 1943, nhà thơ Trần Huyền Trân đã tham gia Việt Minh và Hội Văn hóa cứu quốc).

Thâm Tâm, nhân vật cuối cùng trong phái “áo bào gốc liễu”, là tác giả đã quá nổi tiếng với bài “Tống biệt hành”, nổi tiếng đến mức đôi khi làm người ta quên mất rằng ông còn là tác giả của những bài thơ rất đặc sắc khác, như “Tráng ca, “Vọng nhân hành”, “Can trường hành” (đều viết trong năm 1944).

Đọc thơ Thâm Tâm, ở những đoạn như “Phiếm du mấy chốc đời như mộng/ Ném chén cười cho đã mắt ta/ Thà với mãng phu ngoài bến nước/ Uống dăm chén rượu quăng tay thước/ Cái sống ngang tàng quen bốc men” hay: “Thi với người nằm say bóng liễu/ Thi với người chờ mong kẻ rượu/ Lòng thênh thênh nhẹ gió thu sơ/ Nghĩa khí ngàn năm gió chẳng mờ” (Can trường hành), ta không khỏi liên tưởng tới thi tiên Lý Bạch với những “Tương tiến tửu”, “Hiệp khách hành” lưu danh thiên cổ: cũng thái độ khinh thế ngạo vật ấy, cũng hào khí bừng bừng ấy, không khác.

Từ một phía khác, khác với Nguyễn Bính và Trần Huyền Trân, có thể thấy khá rõ ở thơ Thâm Tâm nổi lên chủ yếu không phải là sự cay đắng, phẫn chí, mà là một tinh thần sục sôi hành động, một cảm hứng xóa cũ tạo mới không gì ngăn được.

Bình bài “Tống biệt hành” (chắc chắn là được viết trước năm 1941), Hoài Thanh nói rằng nó “đượm chút bâng khuâng khó hiểu của thời đại”, nhưng ở các bài thơ sau này của Thâm Tâm thì chẳng có gì bâng khuâng khó hiểu cả.

Hãy đọc: “Nện cho vang tiếng chuông chiều/ Thù đem sức sớm đánh kêu trống đình/ Thở phù hơi rượu đua tranh/ Quăng tay chén khói tan thành trời mưa/ Dặm dài bến đón bờ đưa/ Thuyền ai buồm lái giúp vùa vào nhau/ Kìa kìa lũ trước dòng sau/ Trăm sông rồi cũng chung đầu đại dương” (Tráng ca); và đọc: “Sông Hồng chẳng phải xưa sông Dịch/ Ta ghét hoài câu nhất khứ hề/ Ngoài phố mưa bay xuân bốc rượu/ Tấc lòng mong mỏi cháy tê tê/ Ơi ơi bạn tác ngoài trôi giạt/ Chẳng đọc thơ ta tất cũng về” (Vọng nhân hành).

Những câu thơ ấy, ở bên trong cái vẻ ngoài mang dáng dấp cổ thi của nó, chính là những câu thơ cách mạng, theo nghĩa: thơ về và vì một sự thay đổi thật lớn lao. (Xin lưu ý đến thời điểm ra đời những bài thơ này của Thâm Tâm Nguyễn Tuấn Trình: năm 1944, đêm trước của Cách mạng Tháng Tám).

Trên phương diện văn học sử, thơ của phái “áo bào gốc liễu” có thể không phải bộ phận tác phẩm thực sự quan trọng của phong trào Thơ Mới. Thế nhưng, nó độc đáo, nó góp phần làm thành sự đa dạng cho diện mạo thơ Việt Nam trước năm 1945, và tất nhiên chúng ta sẽ không thể có nhận thức đầy đủ về một giai đoạn trong thơ hiện đại nếu gạt nó ra khỏi sự quan tâm. Công của phái thơ “áo bào gốc liễu”, có lẽ, là đã nâng cái bất bình lên thành thơ, mang đến cho cái bất bình một chiều kích mỹ học nào đó. Đúng như một câu của Trần Huyền Trân trong bài “Độc hành ca”: “Nghe vang vỡ cái bất bình thành thơ”.

Hoài Nam

https://vnca.cand.com.vn/Tu-lieu-van-hoa/ba-thi-nhan-bat-binh-cua-tho-moi-i662811/

 

Thâm Tâm tự tống biệt mình, Vũ Bình Lục

Thâm Tâm (1917-1950) nhà thơ chiến sĩ để lại cho đời không nhiều lắm những sáng tác văn chương. Tuy nhiên, chỉ với “Chiều mưa đường số 5” và “Tống biệt hành”, tên tuổi ông cũng đã đủ khắc sâu vào lịch sử văn chương nước nhà, như một nhà thơ nổi tiếng. Và có giọng điệu riêng, đầy ấn tượng!

Bài thơ “Tống biệt hành”, thực ra cũng chỉ mới được tôn vinh trở lại từ khi có tư tưởng đổi mới. Hơn thế, nó còn được đưa vào sách giáo khoa, được nghiên cứu, bình giải, như một bài thơ đặc sắc của thơ ca tiếng Việt thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Đó cũng là một sự công bằng lịch sử!

Tuy nhiên, “Tống biệt hành” của Thâm Tâm, quả là một bài thơ có nội hàm phong phú. Đã từng xảy ra rất nhiều tranh biện sôi nổi từ nhiều năm qua về bài thơ này, cả về giá trị nội dung và nghệ thuật. Nhìn chung, cũng chưa hẳn mọi vấn đề đã được giải quyết một cách “xuôi chèo mát mái”, chưa hẳn người đọc người nghe đã đi tới một cách hiểu tương đối nhất quán, hoàn toàn tâm phục khẩu phục! Điều ấy cho hay, “Tống biệt hành” là một bài thơ chứa nhiều uẩn súc trong các hình ảnh, hình tượng thơ, trong cấu trúc thẩm mỹ, trong bối cảnh sáng tác…

Ngay như cái tên của bài thơ, toàn là từ Hán Việt. Có người hiểu “Hành” ở đây là một thể thơ (Thể Hành). Nhưng nếu ghép đầy đủ cả ba từ Hán Việt này thành một cụm từ, thì đơn giản chỉ là “Tiễn biệt người ra đi”…Thế thôi!

Thâm Tâm tự tống biệt mình -0
Nhà thơ Thâm Tâm.

Vậy thì ai tiễn ai? Căn cứ vào bề mặt câu chữ  “Đưa người ta không đưa qua sông”… thì có vẻ như tác giả bài thơ (Ta), cùng với gia đình (mẹ, một chị, hai chị và em gái) tiễn một người nào đó ra đi, ví như một người bạn trai nào đó thân thiết của tác giả chẳng hạn.

Hình dung như là “ta” tiễn biệt một tráng sĩ đi làm một công việc đặc biệt gì đó, vì nghĩa lớn, cao cả. Lại có hơi hướng sử thi như cái việc tiễn chàng hiệp sĩ Kinh Kha đi hành thích bạo chúa Tần Thuỷ Hoàng, đã diễn ra ở bên Tàu cách đây mấy nghìn năm…

Tôi ngờ rằng, nhân vật trữ tình “Ta” với “Người” ở đây có lẽ chỉ là một. Nghĩa là TA cùng với gia đình tiễn biệt chính TA, chứ chẳng phải là tiễn đưa một ai khác!

Hãy đọc lại đoạn thơ mở đầu thử xem:

Đưa người ta không đưa qua sông
sao có tiếng sóng ở trong lòng?
Nắng chiều không thắm không vàng vọt
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?”…

Hãy khoan nói về nghệ thuật sử dụng các vần “bằng”, “trắc”, về nhịp thơ… để tạo dựng âm thanh, tiết tấu, gợi mở tâm trạng, gợi mở không gian bi tráng của đoạn thơ mở đầu, chỉ nói về bối cảnh tiễn đưa. Rằng “Ta” tiễn một người ra đi, chẳng qua sông sâu biển rộng gì sất, mà nghe rõ như có tiếng sóng đang vỗ ào ạt trong lòng. Đấy là hỏi chính mình, đồng thời khẳng định đó chính là cảm xúc của chính mình, cảm xúc của một cuộc ra đi, linh cảm hình như là rất khó, hoặc như chẳng có ngày trở lại. Thế nên, đó là một cảm xúc buồn, mơ hồ buồn. “Nắng chiều không thắm không vàng vọt/ sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?”. Nỗi buồn đã nhuốm vào cả thiên nhiên, đến như ráng chiều cũng nhợt nhạt đi, dài dại đi, “không thắm không vàng vọt”, ấy thế mà người ra đi cũng nhuốm đầy hoàng hôn trong đôi mắt trong veo, ráo hoảnh của mình.

Đoạn thơ mở đầu đã thấy dự báo một cuộc chia ly vĩnh viễn, như một định mệnh đã được sắp đặt sẵn cả rồi. Xốn xang buồn, bi tráng, nhưng vẫn làm chủ được mình, bởi đã trải qua bao vật vã nghĩ suy, rồi mới đi đến một quyết định dứt khoát. Người đọc thấy nể trọng một nhân cách lớn, không dối mình, không dối người, không lãng mạn viển vông, cũng không lên gân to tát. Bởi đó chính là tiếng nói của trái tim, nhân bản!

Hãy nghe người thơ chiến sĩ tâm sự:

Đưa người, ta chỉ đưa người ấy
Một giã gia đình, một dửng dưng”

Thế là “Ta” tiễn biệt chính “Ta”, “ta chỉ đưa người ấy”, cho nên mới có tâm trạng  “một giã gia đình, một dửng dưng”. Một khi mục tiêu đã xác định, chí đã quyết, thì “chí lớn chưa về bàn tay không/ thì không bao giờ nói trở lại”, thì “ba năm mẹ già cũng đừng mong”!

Có cảm giác như người ra đi đang bừng bừng nghĩa khí, bất giác thốt lên những lời ca tráng sĩ, như cố xua đi, gạt phăng đi những cảm xúc có phần yếu đuối đang len lỏi trong tâm hồn tuổi trẻ yêu đời. Đó cũng là một cảm xúc chân thành, không phải chỉ Thâm Tâm mới có.

Tuy nhiên, để có một quyết tâm cao độ, dứt khoát như vậy, thật không đơn giản chút nào. Hãy nghe tác giả trình bày:

Ta biết người buồn chiều hôm trước,
Ta biết người buồn sáng hôm nay.

Thế nghĩa là buồn bã cũng đã mấy ngày rồi, trăn trở vân vi cũng đã mấy ngày rồi, chứ đâu phải đi vào chỗ hiểm nguy, vào chỗ có thể hy sinh mà bảo là tươi vui ngay cho được? Có lẽ người ra đi suy nghĩ lung lắm. Phần thì thương mẹ già, em nhỏ, các chị gái chưa chồng, chiến tranh loạn lạc thế này, trai tráng ra đi hết cả. Mà “bây giờ mùa hạ sen nở nốt”, biết đâu rồi “một chị hai chị cũng như sen”, nở rồi, thì rồi cũng sẽ tàn phai thôi? Có thể các chị đã “khuyên nốt em trai” bằng những dòng lệ xót xa thương cảm, còn sót lại, sau khi đã chảy nhiều lắm rồi. Còn cô em gái bé bỏng ngây thơ, dẫu là thương anh lắm lắm, nhưng nó cũng chỉ biết “gói tròn thương tiếc”, gói lại những giọt nước mắt xót thương anh trong chính chiếc khăn tay mỏng manh bé nhỏ của mình…

Cuối cùng, những buồn thương, những xót xa trong buổi tiễn đưa người ra đi rồi cũng tạm lắng dịu. Tác giả dường như vừa chợt tỉnh cơn mơ: “Người đi? Ừ nhỉ người đi thực”! Thế là đi thật rồi, chia ly thật rồi! Bao vật vã giằng xé, lại dồn nén, rồi bật ra những lời tâm sự chí tình. “Ly khách” dường như đang nói lời tâm huyết với mẹ, với chị và với em, xem như lời dặn dò sâu nặng nghĩa tình. Với mẹ, thì xin mẹ hãy coi con như một chiếc lá, một chiếc lá xanh, một “chiếc lá bay”…Với chị, xin hãy cứ coi thằng em trai này như một hạt bụi trên đời, thân cát bụi lại trở về cát bụi, thế thôi. Còn với đứa em bé nhỏ “mắt ngây thơ”, tình cảm anh em chúng mình, hãy xem đó chỉ là một thoáng tươi đẹp trong đời, “như hơi rượu say”, rồi thời gian sẽ dần nguôi quên…

“Tống biệt hành” của Thâm Tâm, như tôi thiển nghĩ, chỉ là một bài thơ được thể hiện như một kiểu tự tình, tự đối diện với chính mình, tự phân thân như một thủ pháp nghệ thuật cần thiết. Các hình ảnh, hình tượng thơ và cấu trúc hình thức, phải chăng, chỉ là cách biểu hiện độc đáo của tâm trạng, trong một bối cảnh đặc biệt nào đó của nhân vật trữ tình?

Có thể là chính tác giả, cùng với những xúc cảm chân thành, khi quyết định bước chân vào trường tranh đấu đầy hiểm nguy, linh cảm sẽ có thể hy sinh. Một phần, cũng có thể tác giả trình bày như một ký thác tâm tư tình cảm của những người lính “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” một thời máu lửa chưa xa chẳng hạn…

Cũng chẳng nên rạch ròi quá làm gì, bởi thơ là nghệ thuật tuyệt diệu của trí tưởng tượng, phập phồng thực ảo, huyền bí sâu xa. Người đọc cảm nhận ở “Tống biệt hành” của Thâm Tâm một tấm chân tình, một nỗi niềm trung thực, sáng trong, nhuốm màu bi tráng của một thời khốc liệt và oanh liệt của dân tộc đã qua.

Thâm Tâm (Liệt sĩ Nguyễn Tuấn Trình), chàng trai Xứ Đông tràn đầy nhiệt huyết đã ngã xuống khi tuổi đời đang sung sức. Vậy nên, “Tống biệt hành” có thể xem là một bài thơ dự báo định mệnh. Đó là một bài thơ rất lạ, đến nay vẫn còn rất lạ, khiến người đời sau phải rơi nước mắt, phải nghĩ ngợi mãi chưa thôi!…

Tống biệt hành

Đưa người ta không đưa qua sông
Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
Nắng chiều không thắm không vàng vọt
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?

Đưa người, ta chỉ đưa người ấy
Một giã gia đình, một dửng dưng…
– Ly khách! Ly khách! Con đường nhỏ
Chí nhớn chưa về bàn tay không
Thì không bao giờ nói trở lại!
Ba năm mẹ già cũng đừng mong

Ta biết người buồn chiều hôm trước
Bây giờ mùa hạ sen nở nốt
Một chị, hai chị cũng như sen
Khuyên nốt em trai dòng lệ sót

Ta biết người buồn sáng hôm nay
Trời chưa mùa thu tươi lắm thay
Em nhỏ ngây thơ đôi mắt biếc
Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay…

Người đi? Ừ nhỉ người đi thực
Mẹ thà coi như chiếc lá bay
Chị thà coi như là hạt bụi
Em thà coi như hơi rượu say…

 Thâm Tâm

Vũ Bình Lục

https://vnca.cand.com.vn/Tu-lieu-van-hoa/tham-tam-tu-tong-biet-minh-i665968/

Kỷ niệm của tôi với các văn nghệ sĩ, bạn bè của cha tôi

    Ngày bé gia đình tôi ở chân đèo Khế, Đại Từ, Thái Nguyên. Thỉnh thoảng có bác Nguyễn Công Hoan, bác Nguyên Hồng tới thăm ông bà tôi. Bác Nguyên Hồng lần nào qua nhà cũng bế tôi, có lần hỏi tôi có thuộc bài không, có biết làm thơ không. Tôi trả lời bác: “Cháu học thuộc lòng bài học rất nhanh và nhớ lâu, nhưng không biết làm thơ ạ”. Bác bảo: “Sau này lớn lên cháu sẽ làm được thơ và cố học tập làm văn, cháu sẽ viết được văn đấy”. Lời khuyên của bác đã giúp tôi học văn thật tốt. Khi học lớp 10, tôi đã được giải nhì văn Thanh phố Hà Nội, nhưng không thi học sinh giỏi văn miền Bắc, vì được chọn vào đội tuyển thi toán. Lên nhận giải cao nhất cuộc thi Toán toàn miền Bắc năm 1963-64, tôi nhớ bác Nguyên Hồng và tiếc vì đã không thi văn, giá mà nghe lời bác theo văn chương, có thể cuộc đời tôi đã rẽ sang hướng khác. Kỷ niệm về bác in đậm trong tôi, một người bác hiền hậu, vời bộ quần áo nâu giản dị.

Ngày chiến thắng Điện Biên năm 1954, có một đoàn tù binh về qua đường đèo Khê, tới nghi chân ở xóm tôi. Mấy người tù binh Pháp và một chú bộ đội vào quán nước nhà tôi. Chú là một người lính biết tiếng Pháp dẫn giải tù binh. Khi nói chuyện với ông bà và mẹ tôi, biết gia đình tôi là người Hà Nội, đều nói chuyện trực tiếp với tù binh bằng tiếng Pháp, chú bảo: Cháu cũng là học sinh Hà Nôi, đi bộ đội từ ngày kháng chiến toàn quốc, công tác tại Tổng cục Chính trị. Khi biết mẹ tôi là vợ Thâm Tâm, thật bất ngờ, chú rút từ trong ví ra một tấm ảnh nhỏ, ảnh cha tôi. Gia đình tôi không có một tấm ảnh nào của cha tôi. Mẹ tôi mừng quá, liền hỏi xin chú. Chú bảo mẹ tôi: “Em chỉ có tấm ảnh này để nhớ anh. Thôi thì em biếu chị vậy”. Mẹ tôi nghẹn ngào cảm ơn chú, rồi hứa sẽ trả lại ảnh cho chú, nếu còn được gặp lại. Chú bảo: “Thôi chị ạ. Anh Thâm Tâm cùng đơn vị với em, nay gặp chị, em xin trả lại anh cho chị. Hình ảnh anh em sẽ giữ mãi trong lòng”. Khi chia tay, chú cũng bế tôi và cho tôi một cuốn sổ tay mới tinh, bìa ni lông màu tím. Ở trang đầu chú ghi: “Tặng cháu Khoa. Biển học không bờ, Siêng năng là bến. Chú Ngọc”.
Mẹ tôi biết trạm dừng cuối cùng của tù binh ở dưới Thái Nguyên. Ngay hôm sau, mẹ tôi vội đi xe hàng về nhà bác tôi ở Hà Nội lúc đó chưa giải phóng, chụp lại bức ảnh.và in ra mấy bản. Bà đã kịp về tìm chú Ngọc ở Trại tù binh Thái Nguyên để trả chú bức ảnh gốc. Bản sao bức ảnh giờ đây là bức chân dung Thâm Tâm trên bàn thờ nhà tôi. Bẩy chục năm qua, mấy lần dọn nhà, chiến tranh, cuốn sổ không còn nữa, cũng chẳng thể biết chú Ngọc đã đi đâu về đâu. Chỉ còn lại “biển học không bờ…” cho tôi siêng năng phấn đấu để thành người “tới bến” với tấm ảnh cha tôi và tình người đồng đội tên Ngọc.

Ngày về Hà Nội, mẹ đưa tôi đến thăm bác Trần Độ, hai bác Lê Liêm, Lê Thu Trà và nhiều các bác tôi không biết tên. Ngày tết, bác Lê Thu Trà thường đến nhà tôi cho quà. Ngày tôi cưới vợ, bác còn mừng cho tôi cả tấm vải may bộ comple. Mãi tới đầu những năm 90, trong một dịp Họp mặt cựu hoc sinh trường Bười ở cơ quan tôi, ông viện trưởng giới thiệu tôi là người giúp đỡ tổ chức buổi họp mặt, là con Thâm Tâm, tôi mới được gặp các bác Bùi Hạnh Cẩn, Văn Cao, Đặng Vũ Hiệp… Các bác hỏi thăm mẹ tôi, kể nhiều chuyện cũ về cha tôi và từ đấy, tôi nhiều lần được trò chuyện cùng các bác. Bác Đặng Vũ Hiệp lại bảo tôi đến nhà chú Lê Hai để xin mấy tấm ảnh cha tôi và đồng đội Cục Tuyên huấn và báo Vệ quốc quân.

Tôi thuộc lòng bài thơ Núi đôi từ ngày học phổ thông. Ngày Báo Quân đội Nhân dân kỷ niệm 40 năm thành lập, mẹ con tôi được mời đến dự, và tôi đã gặp chú Vũ Cao. Về sau, lần nào gặp chú, tôi cũng thấy chú nhìn tôi chăm chú, có lần còn được chú gọi đến nhà chơi, gặp cả chú Vũ Tú Nam. Câu chuyên thì dài, nhưng có một lần chú nhìn tôi mãi rồi bảo: “Chú gặp cháu mà cứ có cảm giác được thấy lại bố cháu”. Ngày làm phim Nhớ Thâm Tâm, chú ngồi bên bếp lửa nhà sàn, kể về kỷ niệm thời làm báo Vệ quốc quân, chú cũng nhìn rất lâu vào ngọn lửa, như muốn tìm lại những cảm xúc của một thời “Anh đi bộ đội sao trên mũ, Mãi mãi là sao sáng dẫn đường. Em sẽ là hoa trên đỉnh núi, Bốn mùa thơm mãi cánh hoa thơm”.

Năm 1990, ông Hoài Việt tới nhà gặp mẹ con tôi để tìm tư liệu viết về Thâm Tâm, Nguyễn Bính, Trần Huyền Trân và TTKH. Ông đã dẫn tôi tới thăm bác Thanh Châu, bác Trúc Đường, giới thiệu tôi với chị Nguyễn Bính Hồng Cầu (con Nhà thơ Nguyễn Bính). Tôi đã có ý định tổ chức buổi gặp gỡ của các con Nhóm Áo bào gốc liễu (Tam Anh), rồi công việc bận rộn cuốn đi, ý định không thành. Năm 1999, các anh ở Hội Văn học Nghệ thuật Cao Bằng cất công tìm mộ cha tôi. Tôi nhận được thư của anh Y Phương bảo tôi gửi cho anh 6 tấm ảnh buổi mai táng của Thâm Tâm mà gia đình còn giữ được, rồi gửi qua nhà bác Thanh Châu. Tôi đi chụp lại và mang đến nhà bác vào đúng mùa giàn Ti gôn nhà bác đang nở rộ. Ngồi nói chuyện tìm mộ Thâm Tâm mãi không thành, bác bảo tôi có thể có manh mối từ những bức ảnh này đấy. Tôi thấy bác buồn, liền chuyển câu chuyện về giàn hoa Ti gôn và truyện ngắn Hoa Ti gôn của bác, khởi nguồn của bài thơ Hai sắc hoa Ti gôn “huyền thoại”. Bác thay đổi nét mặt đầy tức giận, nói rất to: “Bác sẽ kiện! Mấy người viết chuyện bà Vân Chung là TTKH đã hỏi bác. Bác bảo họ rằng bà Vân Chung và bác ngày xưa phải lòng nhau, rồi do thời cuộc mà không đến với nhau, chia tay mà vẫn quý trọng nhau. Bà ấy lấy chồng đàng hoàng, làm gì có hoàn cảnh như TTKH. Ngày giải phóng miền Nam, bác còn vào Sài Gòn thăm bà ấy như những người bạn thân thiết. Bác chỉ có niềm vui là đã được người đọc thích chuyện Hoa Ty gôn thôi”. Tôi hỏi bác: “Thế TTKH là ai bác có biết không ạ, sao bảo bà ấy tên là Khánh, người yêu ngày xưa của bố cháu?” Bác đang cáu, liền gắt lên: “Mặc kệ người ta cháu ạ. Làm gì có cô Khánh nào? Bố anh và các ông bạn giỏi bịa lắm!” Tôi ra về mà cũng chẳng hiểu ra làm sao cả.

Nói tới hoa Ti gôn, tôi lại nhớ ngày tới thăm bác Ngọc Giao. Hồi ấy tôi và GS Đinh Đức Tiến có tham gia dịch và biên tập tuyển thơ của nhà thơ Mỹ nổi tiếng Longfellow. Tâp thơ in xong, GS Tiến rủ tôi đến thăm bác Ngọc Giao đang ở khu Trung Tự và tặng sách. Biết tôi là con Thâm Tâm, bác Ngọc Giao mới kể mấy chuyện cũ về cha tôi. Bác bảo Thâm Tâm ngày xưa viết nhiều lắm, nhưng chủ yếu là để kiếm tiền nhuận bút. Có lần Thâm Tâm hỏi ông chủ NXB Tân Dân xin ứng trước một ít nhuận bút vì nhà có việc. Ông Vũ Đình Long mới bảo: “Anh đừng xin ứng trước thì hơn!” Thế là Thâm Tâm quay ra, lẩm bẩm: “Không cho thì bảo không được, việc gì phải nói thế!”.Rồi móc túi còn hơn đồng bạc rủ mấy ông bạn đi uống rượu cho hả cơn tức. Thâm Tâm hiền nhưng mà cục, đã có lần cãi nhau gì với Nguyễn Bính to con. Thâm Tâm bé nhỏ mà giận quá tát Nguyễn Bính chảy cả máu mồm. Mọi người can mãi mới thôi. Tôi bảo có đọc được chuyện bài thơ “Hai sắc hoa Ti gôn’ được bác nhặt lại từ sọt rác. Bác bảo đúng đấy, vì hôm trước có hai người phụ nữ mang đến tòa soạn rồi về luôn. Chẳng ai để ý nên hôm sau có người tưởng giấy loại bỏ vào sọt rác. Khi bài thơ được đăng, tòa soạn có đăng tin nhắn tới TTKH để liên hệ trả nhuận bút, chẳng ai đến nhận cả. Và bác cười.
Chuyện các bác kể về Hai sắc hoa Ti gôn chỉ có thế, vẫn mãi là nghi án văn chương mờ ảo, hình ảnh người con gái nhặt cánh hoa rơi mãi vẫn đẹp trong lòng người đọc, thế thôi.

Tôi được gặp bác Phạm Duy lần đầu ở Nhà hát lớn, trong buổi biểu diễn của Mỹ Linh cùng danh ca Tuấn Ngọc. Bác bảo tôi: Tiếc là bố anh mất sớm quá. Năm 2011, tôi tới dự buổi ra mắt sách “Dĩ vãng phía trước” của anh Ngô Thảo, được anh trao cho gia đình tập di bút của Thâm Tâm mà báo QĐND và Văn nghệ Quân đội còn giữ được. Buổi ấy bác Pham Duy ngồi xe lăn. Tôi tới quỳ bên xe bác chào hỏi. Tôi kể rằng ngay từ thuở bé, ở trên Việt Bắc, tôi đã được nghe một bài hát của bác. Ấy là lần chú ruột tôi, nhà văn Hoài Niệm, Bắc Thôn, tác giả “Hai làng Tà Pình và Động Hía”, đưa mấy cô chú văn công về thăm ông bà tôi, đàn hát cả buổi tối. Có một chú hát bài “Bà mẹ Gio Linh” và tôi rất sợ câu hát ám ảnh tôi “Nghẹn ngào không nói một câu, Mang khăn gói đi lấy đầu. Đường về thôn xóm buồn teo, Xa xa tiếng chuông chùa reo…” Bác bảo chuyện thật đấy cháu ạ. Rồi bác hỏi tôi thích bài nào của bác không. Tôi bảo cháu thích nhất bài “Tiếng nước tôi (Tình ca)” và bài Tây Tiến. Bác cười: Con ông Thâm Tâm mà lại!

    Mùa thu, hoa Ti gôn vẫn nở, Núi Đôi mãi còn đấy, mà người xưa xa vắng hết rồi. Còn lại trong tôi là hình bóng các chú các bác từ những ngày đã xa lắm với niềm thương nhớ. Và tôi thầm cảm ơn cuộc đời đã cho tôi được gặp những người đồng đội, những người bạn của cha tôi. Tôi đang thấy cha tôi và các bác vẫn đang ngồi bên nhau cạnh bếp lửa nhà sàn với những chén rượu nồng ở đâu đó cõi xa, và ngâm câu “Ngoài phố mưa bay xuân bốc rượu, Tấc lòng mong mỏi cháy tê tê…”
Ngày giáp Tết Quý Mùi