Ba bài bình bài thơ Tống biệt hành của Thâm Tâm – Trần Đình Sử

Tống biệt hành của Thâm Tâm có một sức ám ảnh rất mạnh, ai đã đọc một lần chắc không bao giờ quên giọng thơ gân guốc, rắn rỏi của nó. Bài thơ có một phức cảm tâm lí đầy mâu thuẩn. Bên trong cái rắn rỏi ấy, bài thơ lại rất buồn, buồn mà không sụp xuống, cũng như dứt khoát, dửng dưng mà không vô tình. Bài thơ ngợi ca một người giã nhà ra đi theo chí lớn mà vẫn nặng lòng lưu luyến, bịn rịn với gia đình.

Bài thơ viết theo lời người đưa tiễn và từ quan sát, cảm nhận, suy nghĩ của người tiễn mà khắc họa nên hình tượng của người ra đi.

Bốn dòng đầu của bài thơ là cảm nhận xao xuyến, ngỡ ngàng của người đưa tiễn trong phút tiễn đưa :

Đưa người, ta không đưa qua sông

Sao có tiếng sóng ở trong lòng?

Bóng chiều không thắm, không vàng vọt

Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?

Hai câu hỏi dạng “Không… Sao có…” vừa có tác dụng phát hiện cái bất ngờ, vừa tô đậm tâm trạng và ấn tượng xảy ra trong cuộc tiễn đưa. Không phải cảm xúc dâng lên từ ngoại cảnh, bởi ngoại cảnh làm gì có sông, và đã làm gì có hoàng hôn? Cũng không phải tình cảm xót xa khi tiễn đưa người bạn đi xa thông thường, khi tiễn bạn người ta thường khuyên bạn, chúc bạn, thương bạn, nơi góc bể chân trời, tự cảm thấy mình lẻ loi, cô độc. Ở đây không có những tình cảm ấy, mà có những cảm xúc khác. “Tiếng sóng trong lòng” có thể là xao xuyến bồn chồn do một nguyên nhân nào đã biết trước, còn “đầy hoàng hôn trong mắt trong” thì không phải là ánh mắt của người trượng phu lên đường. Người trượng phu xưa giã nhà theo chí lớn thường có điệu bộ khảng khái, tóc dựng xiên mũ, bước đi không ngoái lại như Kinh Kha xưa bên bờ sông Dịch trong Sử ký, hay như chàng tuổi trẻ vốn dòng hào kiệt trong Chinh phụ ngâm khúc

Chính cái cảm xúc và phát hiện mới lạ ấy đã làm nảy ra ý thơ trong đoạn tiếp theo, như một lời giải thích :

Đưa người, ta chỉ đưa người ấy

Một giã gia đình, một dửng dưng…

Ly khách! Ly khách! Con đường nhỏ

Chí nhớn chưa về bàn tay không

Thì không bao giờ nói trở lại!

Ba năm, mẹ già cũng đừng mong.

Đoạn thơ như nói lên niềm thất vọng của người tiễn. Không, ta không tiễn con người mắt đầy hoàng hôn này, “… ta chỉ đưa người ấy“. Chữ người ấy như muốn phân biệt với người này. Người ấy phải là con người kiên quyết, dửng dưng, đi theo chí lớn, theo bóng người trượng phu xưa, dám dấn thân “con đường nhỏ” chí nhớn chưa thành thì không nói chuyện trở lại, ba năm mẹ già cũng đừng mong!

Ký ức người tiễn liền nhớ lại tiền sử của ánh mắt hoàng hôn :

Ta biết người buồn chiều hôm trước:

Bây giờ mùa hạ sen nở nốt,

Một chị, hai chị cũng như sen,

Khuyên nốt em trai dòng lệ sót(1).

Ta biết người buồn sáng hôm nay:

Giời chưa mùa thu, tươi lắm thay,

Em nhỏ ngây thơ, đôi mắt biếc,

Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay…

Đây là một cuộc tiễn đưa khác, đầy bịn rịn và nước mắt thương tiếc trong gia đình. Tiễn đưa đầy tinh thần níu lại. Hai chị như sen cuối mùa hạ, khóc nốt dòng lệ sót, khóc đến giọt nước mắt cuối cùng. Nhà thơ không nói “hai chị”, mà đếm “một chị, hai chị” như xét đến từng người. Em nhỏ ngây thơ đôi mắt biếc như chưa hiểu việc gì đang xảy ra. Và ai là kẻ “Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay…”, anh hay em? Người ra đi hay người ở lại?

Nhưng người ra đi đã dứt áo ra đi.

“Người đi ? Ừ nhỉ, người đi thực”. Câu hỏi nêu ra như một điều không chắc chắn. Nhưng sự thực thì đã ra đi. Câu “Người đi thực” như khẳng định một điều mà giây phút trước đó có thể chưa phải là sự thực. Người trượng phu trong người ra đi đã trỗi dậy với tư thế kiên quyết dứt tình như tráng sĩ xưa :

Mẹ thà coi như chiếc lá bay,

Chị thà coi như là hạt bụi,

Em thà coi như hơi rượu say.

Mỗi chữ “thà” coi như một nhát dao sắc, chặt đứt tình cảm để ra đi. Có người nghĩ rằng ý nghĩ người ra đi như vậy có vẻ tàn nhẫn quá, nên muốn hiểu cho “tình cảm hơn”, đã giải thích thành : “Xin mẹ hãy coi con như chiếc lá bay, xin chị coi em như hạt bụi, xin em coi anh như hơi rượu say”. Mới xem tưởng hiểu như vậy có vẻ “nhân ái” hơn, nhưng không đúng. Bởi lẽ, muốn hiểu thế thì lời đó phải là lời của người ra đi, nhưng trong văn cảnh lại là ý nghĩ của người tiễn, con người muốn nhìn thấy một trượng phu ! Hiểu như thế thì cần xem “em nhỏ ngây thơ” coi anh như “hơi rượu say” một cách ngang tàng thật là vô lý, vì em đã biết gì đâu “hơi rượu say” mà cầu xin ! Đây chỉ là ý nghĩ của người tiễn giải thích về tình cảm trượng phu đã trỗi dậy trong người ra đi.

Một cuộc tiễn đưa đầy kịch tính, kịch tính trong tình cảm, trong mâu thuẫn giằng xé giữa chí lớn, tình riêng. Một cuộc tiễn đưa hàm chứa một cuộc tiễn đưa, hay nói cách khác, hai cuộc tiễn đưa dồn nén, thử thách trong một cuộc tiễn đưa. Nhưng cuối cùng chí lớn đã thắng. Người trượng phu hôm nay, con người được thức tỉnh bởi lý tưởng nhân đạo, cá tính, không còn có thể ra đi thanh thản, nhẹ nhàng như ngày xưa nữa ! Ly khách đã ra đi trong tình cảm luyến tiếc sâu xa.

Nhà thơ sử dụng đầu đề Tống biệt hành rất cổ kính, có lẽ chỉ để nhấn mạnh cái giống và cái khác với người xưa. Đầu đề này có tác dụng đánh dấu xu hướng phong cách hóa cổ kính của bài thơ. Với đầu đề này, người tiễn tự xưng là “ta”, người đi được xưng là “ly khách”, những lời khảng khái cũng được nói lên một cách thích hợp. Hình như người ra đi muốn mượn cái khí thế, lời lẽ ngang tàng của trượng phu xưa để nâng đỡ chính mình. “Hành” vốn là một thể thơ thịnh hành vào thời Hán Ngụy, Lục Triều ở Trung Quốc, có đặc điểm là tự do, phóng khoáng, không gò bó, lời thơ gần với lời nói. Vận dụng thể “hành”, Thâm Tâm đã sử dụng nhiều câu hỏi, câu trùng điệp. Câu thơ bảy chữ, nhưng cấu tạo ngắt nhịp tự do. Cả bài đều dùng vần “bằng” có thanh không dấu, xen với ít vần “trắc”, gieo vào lòng người một ý vị bâng khuâng, xốn xang.

TỐNG BIỆT HÀNH

(THÂM TÂM)

I

Tống biệt hành của Thâm Tâm được tuyển vào sách giáo khoa Văn học 11, tập một. Tuy là bài thơ rất nổi tiếng nhưng cho đến nay vẫn chưa có cách lý giải hợp lý, thuyết phục cả về nội dung lẫn ngôn ngữ, cấu tứ của nó. Trong một tài liệu mới in gần đây, có ý kiến cho rằng “Ta có thể khẳng định : người ra đi ở đây chính là người chiến sĩ cách mạng, giã nhà lên đường đi chiến đấu (có thể là lên chiến khu, khi đó đã thành lập ở Việt Bắc và trở thành một nơi bí mật và thiêng liêng, hấp dẫn đối với mọi người thời ấy)”(1). Trong một sách bình thơ khác, cũng mới in chưa lâu, thì lại có ý kiến trái hẳn : “Chí nhớn mà đường nhỏ, cuộc đi chưa thấy có căn cứ gì cho nghiệp lớn ngoài sự hăng hái tinh thần… Ở lại thì bế tắc nhưng ra đi thì chưa thấy gì là tươi sáng, nó tự nhủ bằng cái vẻ bi hùng của Kinh Kha bên sông Dịch thì cũng chẳng lừa được chính mình. Mấy câu thơ kết, lòng người như sụp xuống, cả kẻ tiễn lẫn người đi, tuyệt vọng đến hư vô…”(2). Rõ ràng, người đi ở đây được hiểu thành một kẻ tầm thường, có nét gần như một vai phản diện ! Hai ý kiến này đều thiếu sức thuyết phục, nặng về suy diễn. Căn cứ vào cuộc đời và sáng tác thơ của Thâm Tâm, có thể đoán định người đi là người cách mạng, nhưng nhìn lại văn bản bài thơ thì đã có dấu hiệu gì để cho ta nhận chắc điều ấy ? Còn ý kiến thứ hai thì chẳng thấy có căn cứ gì để phán đoán rằng người ra đi tự lừa dối mình mà không lừa được, lại còn “lòng người như sụp xuống, cả kẻ tiễn lẫn người đi, tuyệt vọng đến hư vô…” nữa! Rất có thể nhà phê bình thuận theo thói quen phê bình thơ lãng mạn lâu nay, đã hiểu chệch ngôn ngữ nghệ thuật của bài thơ.

(1) Văn 11, Nguyễn Đình Chú (chủ biên), phần Văn học Việt Nam, sách giáo viên, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1991, tr.115.

(2) Vũ Quần Phương. Thơ với lời bình, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1990, tr.66-67.

Quả thật bài Tống biệt hành không dễ giảng. Từ ngữ trong câu dồn nén, có nhiều tỉnh lược, giữa các dòng thơ có nhiều khoảng trống, tạo thành một vẻ ám ảnh bí ẩn, không dễ gì thuyết minh cho thông. Chẳng hạn câu : “Đưa người, ta chỉ đưa người ấy, Một giã gia đình, một dửng dưng”, mới đọc qua, tưởng là một kẻ giã gia đình, một kẻ dửng dưng, nhưng không phải.  “Một” đây là khăng khăng, nhất quyết : nhất quyết bỏ nhà ra đi, nhất quyết không được xúc động. Lại như câu : “Chí nhớn chưa về bàn tay không, Thì không bao giờ nói trở lại!, Ba năm, mẹ già cũng đừng mong”, có nhiều chỗ tối nghĩa, phải thêm chữ vào mới hiểu được. Chẳng hạn, chí nhớn : chưa về (nếu) bàn tay không. Chưa thành công thì đừng nói chuyện trở lại. Nhưng vẫn khó hiểu : tại sao lại “Ba năm… cũng đừng mong”? Hay như câu “Khuyên nốt em trai dòng lệ sót” có thể gây cảm tưởng là đời chị nhục nhằn, khóc suốt tuổi trẻ, còn thừa chút lệ đem khóc em nốt. Có bản chép là “dòng lệ xót” thì nghĩa lại khác nữa. Đúng như Vũ Quần Phương nhận xét: chữ nghĩa, câu thơ như không dính nhau.

Đối với bài thơ như bài này, theo chúng tôi, trước hết nên tìm hiểu cấu tứ bài thơ để hiểu nó nguyên phiến, toàn vẹn. Còn câu chữ bài thơ, nói như Triệu Chấp Tín đời Thanh, chỉ là cái râu, cái vẩy của con rồng đang bay hiện ra ngoài đám mây mà thôi, không thể đầy đủ được. Bài thơ này là lời của người đưa tiễn nói về người ra đi, còn người ra đi từ đầu chí cuối dường như không phát biểu điều gì. Nhưng người tiễn rất hiểu người đi và chỉ nhờ sự bộc lộ cảm xúc của người tiễn mà hình ảnh của người đi hiện lên mạnh mẽ, cao cả, một con người quyết dứt bỏ tình riêng ra đi vì chí lớn. Như vậy, trong bài này trực tiếp chỉ xuất hiện cảm xúc, suy nghĩ của người tiễn. Tình cảm người đi hiện ra gián tiếp. Mặt khác, tình cảm hai người này có khác nhau : một người buồn bã, đau đớn, nhưng vẫn dứt áo ra đi, một người muốn tiễn đưa một chinh phu truyền thống, nhưng thực tế chỉ có con người thời đại. Vì vậy, mọi sự đồng nhất tình cảm của hai người làm một để bình luận đều thiếu cơ sở. Rất có thể đây chỉ là một cuộc tiễn đưa được tưởng tượng, cả người đi lẫn người đưa tiễn thực ra đều là do Thâm Tâm hư cấu trên cái nền tình cảm của nhà thơ. Song trong bài thơ đã dựng lên hai hình tượng với chức năng biểu hiện khác nhau, thì ta nên hiểu bài thơ theo cấu trúc biểu hiện của nó. Bài thơ là thơ trữ tình, nhưng trữ tình một cách đặc biệt : không phải bằng giãi bày gan ruột mình, mà bộc lộ cảm xúc qua việc khắc họa hình tượng con người. Nó chỉ là phương tiện để dựng lên hình ảnh người ra đi. Thiếu sự phân biệt chính – phụ, trực tiếp – gián tiếp, chủ – khách thì khó mà tránh được sự nhầm lẫn.

Bốn câu đầu cực tả nỗi lòng xao xuyến, ảm đạm bất ngờ của người đưa tiễn, không có sóng mà có sóng, trời đang chiều mà mắt đã nhuốm hoàng hôn. Đây đúng là một tình cảm mới, bất ngờ, chưa dự kiến trước đối với người tiễn. “Đưa người, ta chỉ đưa người ấy” : một chinh phu đúng với dáng điệu chinh phu : “Một giã gia đình, một dửng dưng… Ly khách! Ly khách! Con đường nhỏ, Chí nhớn chưa về bàn tay không, Thì không bao giờ nói trở lại!, Ba năm, mẹ già cũng đừng mong”. Các chữ “một”, “một” “không”, “đừng” cực tả tính dứt khoát, cắt đứt mọi tình cảm thông thường của con người. Đoạn thơ thiên nói về ý tưởng ban đầu của người tiễn về người ra đi hơn là miêu tả thực tế của người ra đi trong cuộc tiễn đưa này.

Phần còn lại của bài thơ là sự hồi tưởng của người đưa tiễn để hiểu sâu hơn về người ra đi :

Ta biết người buồn chiều hôm trước :

Bây giờ mùa hạ sen nở nốt,

Một chị, hai chị, cùng như sen,

Khuyên nốt em trai dòng lệ sót.

Mùa hạ là mùa của sen. Hai người chị đẹp như sen mùa hạ, khóc hết nước mắt mà không giữ được em ở nhà. Vậy là hiểu thêm ý chí sắt đá của người đi, tuy có buồn nhưng không lay chuyển :

Ta biết người buồn sáng hôm nay :

Giời chưa mùa thu, tươi lắm thay,

Em nhỏ ngây thơ, đôi mắt biếc,

Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay…

Trời đẹp, em thơ ngây, biết bao thương tiếc. Người ra đi không phải vì đói nghèo, vì bất hòa, mà  thuần túy chỉ vì chí lớn. Đó là con người nam nhi mà nhi nữ thường tình đã không còn sức trói buộc :

Người đi? Ừ nhỉ, người đi thực!

Mẹ thà coi như chiếc lá bay,

Chị thà coi như là hạt bụi,

Em thà coi như hơi rượu say!

Người tiễn đã hiểu đến tận cùng người đi. Anh đã ra đi như một đấng trượng phu : chí lớn coi nặng như núi Thái, mẹ già, chị gái, em thơ đều coi nhẹ như lông hồng. Không một dấu hiệu nào cho ta thấy “ở lại thì bế tắc, nhưng ra đi chưa thấy gì tươi sáng cả”. Đó chỉ là sự lặp lại lối suy diễn về văn thơ lãng mạn một thời mà thôi. Xin đừng tìm ở bài thơ này sự ngợi ca một lý tưởng cụ thể nào đó, bởi đó không nhất thiết là điều phải nói trong thơ. Cũng đừng tìm ở đây sự tố cáo hiện thực nào đó. Bài thơ chỉ qua cuộc tống biệt mà thể hiện một sự lựa chọn bi kịch của con người không muốn sống tầm thường, đuổi theo chí lớn. Nhưng người đi không hề là cái máy thô sơ, mà là một con người : anh buồn chiều hôm trước, lại buồn sáng hôm nay, tràn trề thương tiếc. Anh hầu như không hề dửng dưng! Anh ra đi như một sự hy sinh chính những người ruột thịt của mình. Mỗi chữ thà trong câu thơ : “Mẹ thà coi như”, “Chị thà coi như”, “Em thà coi như”, đều biểu thị một sự lựa chọn. Một sự lựa chọn không dễ chút nào. Chọn bề nào cũng không tránh khỏi mất mát đau đớn. Lời thơ phải có chút lên gân để vượt lên bản thân mình. Nhưng dù thế tình cảm thực của người ra đi vẫn được biểu hiện ra. Bài thơ vì vậy thấm đẫm tình người, không hề một chiều, giản đơn.

Hành là thể thơ thịnh hành ở Trung Quốc vào thời Hán Ngụy, Lục Triều, có cội nguồn từ trong Nhạc phủ. Đặc điểm của nó là tự do, phóng túng, lớn, nhỏ, dài, ngắn đều không cố định. Lời thơ thường là lời nói làm cho cái chí trong bài hiện ra lồ lộ. Tống biệt hành của Thâm Tâm vận dụng các đặc điểm đó. Câu thơ bảy chữ tự do, đầy câu hỏi, câu nói, nhiều trùng điệp, vần trắc, vần bằng xen nhau tạo thành giọng thơ rắn rỏi, gân guốc, ngang tàng, vừa cổ điển, vừa hiện đại.

II

Tiếp nhận, thưởng thức tác phẩm văn học, dù phải dựa vào “tâm linh”, “trực cảm” như thế nào, rút cuộc vẫn phải có sự khái quát để nhận ra một cái gì. Nhưng ở đây với niềm cao hứng, người ta dễ nhận ra những điều không phù hợp với bản chất của hình tượng. Vì vậy phân tích văn, cần chú trọng về phương pháp.

Bài Người ra đi là ai ? của chúng tôi (xem báo Giáo dục và thời đại, 7-10-1991) chỉ nhằm giải quyết một vấn đề : xác định nội hàm ý nghĩa của hình tượng ly khách. Bởi vì trên vấn đề này đang tồn tại hai cách hiểu : một là, xem đó là hình tượng người chiến sĩ cách mạng ; hai là, xem đó là hình ảnh một người tuyệt vọng, hư vô đáng thương. Hai cách hiểu ngược nhau này, tuy không phải hoàn toàn thiếu căn cứ, nhưng nặng về căn cứ ngoài văn bản. Cách hiểu thứ nhất thể hiện một thói quen của phê bình văn học trước đây. Hễ tác giả là người chiến sĩ, thì hình tượng thơ họ thường được nâng lên hàng chiến sĩ. Cách hiểu thứ hai lại thể hiện một thói quen khác trong việc đánh giá thơ văn lãng mạn một thời. Hễ có chút phức tạp trong tình cảm là dễ bị quy cho tiểu tư sản, cô đơn, yếu đuối, hư vô, đáng thương ! Cả hai cách có chung một nguyên tắc đọc là quy chiếu (projection) – soi qua văn học để thấy một cái gì ngoài văn bản mà nhà phê bình quan tâm, do đó mà chưa đánh giá đúng mức cái nghĩa lý vốn có mà văn bản biểu đạt. Nghĩa lý ấy chính là , là cách liên hệ của ký hiệu – ở đây là văn bản hình tượng – với thông tin. Do vậy, nếu không hiểu nghĩa lý, thì dễ đi tìm thông tin vu vơ, suy diễn thiếu căn cứ xác đáng.

Trên cơ sở đó, chúng tôi đề xuất cách hiểu thứ ba (xem Văn nghệ, số 4, 1992).

Đáng tiếc là bài in trên báo Giáo dục và thời đại đã có chỗ in sai, làm ngược hẳn nguyên ý, gây khó hiểu cho bạn đọc. Cũng bài này, in trên tạp chí Văn hóa và đời sống (NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 11-1991) đã in đúng chỗ đó như sau : “Anh hầu như không thể dửng dưng, anh ra đi như một sự hy sinh những người ruột thịt, máu mủ của chính mình” (tr.27). Làm sao có thể hiểu là gia đình hy sinh người ra đi được ? Nhân đây xin được đính chính cùng bạn đọc.

Bài báo của Hoàng Ngọc Hiến (Văn nghệ, số 4, 1992) “Đầy hoàng hôn trong mắt ai ?” phần đầu, thiết nghĩ thực chất là sự diễn đạt khác đi, có chỗ tinh tế hơn, ý kiến cùng hướng với chúng tôi, theo phong cách của anh : từ việc xác định động cơ ra đi vì chí lớn, đến việc không nhất thiết phải tìm cho ra lý tưởng cụ thể của chí lớn (mà anh nói không nên khoanh lại ý nghĩa của bài thơ trong một nội dung xác định của chí lớn), từ việc ra đi là vì không muốn sống tầm thường (mà anh nói ở lại thì tù túng, quẩn quanh), cho đến tình người của bài thơ (mà anh nói chí lớn của ly khách, trong cảm xúc mới của nhà thơ, mang ý nghĩa nhân loại phổ biến), tính chất dửng dưng bề ngoài và thực chất không hề dửng dưng, v.v.

Nhưng Hoàng Ngọc Hiến đề xuất thêm vấn đề mới : “Người ra đi là ai?”. Một đấng trượng phu có hơi hướng lãng mạn hay một người lãng mạn có dáng dấp trượng phu? Chắc ai cũng dễ dàng suy nghĩ như vế thứ hai, bởi thời ấy thực tế làm gì còn đấng trượng phu có hơi hướng lãng mạn (ví dụ như kiểu Từ Hải)? Nhưng, phát huy ý kiến đó đối lập trong người ra đi một bên là “nhân vật lãng mạn”, và phần còn lại “là văn chương, là cách điệu, là trò diễn, là điệu bộ…” và nâng chi tiết “đầy hoàng hôn trong mắt trong” lên hàng “nét lãng mạn tuyệt vời ở nhân vật này”, thậm chí là nét tuyệt vời bậc nhất của thơ mới và Tự lực văn đoàn, thì Hoàng Ngọc Hiến đã hiểu chệch bản chất lãng mạn của nhân vật này. Bởi theo chúng tôi, nét lãng mạn tuyệt vời của nhân vật này trước hết là cái cao cả, cái tạo nên giọng thơ “rắn rỏi, gân guốc, không mềm mại, uyển chuyển như phần nhiều thơ bấy giờ” mà Hoài Thanh đã nhận định rất tinh tế ; là cái tư thế “dửng dưng”, “Mẹ thà coi như… Chị thà coi như… Em thà coi như…” nó làm cho ly khách thoát khỏi trường lực của tình cảm gia đình thường tình (mẹ già, chị đẹp, em đẹp, mùa đẹp, với tất cả sự bìu ríu) để đi theo tiếng gọi của cái cao cả. “Dửng dưng” đúng là điệu bộ, là nỗ lực tâm lý, nhưng đâu chỉ có thế, nó còn là lập trường chí lớn của ly khách nữa, một lập trường sắt đá, không thể lay chuyển. Nếu chỉ hiểu “dửng dưng” là “điệu bộ”, “trò diễn”, “nỗ lực tâm lý” mà không thấy là hình thức biểu hiện của “chí lớn”, thì tất cả sẽ hiểu người ra đi là lên gân, gượng gạo, giả tạo, và hoài nghi cả “chí lớn” của ly khách ; và thực chất, đó là cách hiểu của người đứng ngoài trường văn hoá của bài thơ.

“Đầy hoàng hôn trong mắt trong” là một nét đẹp chứ không phải nét cao cả. Tống biệt hành đã tạo nên sự đối thoại, đối lập nội tại giữa cái đẹp và cái cao cả trong bài thơ. Bạn đọc hãy lưu ý là trong bài này, mọi cảm nhận về vẻ đẹp, cái đẹp, đều thuộc về người tiễn : “Bây giờ mùa hạ sen nở nốt, Một chị, hai chị, cùng như sen…”, “Trời chưa mùa thu, tươi lắm thay, Em nhỏ ngây thơ, đôi mắt biếc…”, “Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong ?”… Còn người ra đi dường như chỉ có biểu hiện cao cả, một cái cao cả đã được khoa trương tới mức có vẻ như là nhẫn tâm : “Một giã gia đình, một dửng dưng”, “… không bao giờ nói trở lại”, “Ba năm, mẹ già cũng đừng mong”, “Mẹ thà coi như chiếc lá bay, Chị thà coi như là hạt bụi, Em thà coi như hơi rượu say”. Đây dĩ nhiên vẫn là lời người tiễn, nhưng là lời diễn đạt theo ý thức, ngữ điệu và từ ngữ của người đi (chứ chẳng phải của “điệu hành” nào cả). Cái hay của bài thơ là ở chỗ, cái cao cả không phủ nhận cái đẹp, không dè bỉu cái đẹp, và ngược lại, cái đẹp cũng không làm cho cái cao cả trở thành lố bịch. Và do vậy mà bài thơ thấm đẫm tình người. Chỉ thừa nhận cái đẹp, mà coi nhẹ cái cao cả, hay ngược lại chỉ đề cao cái cao cả mà xem nhẹ cái đẹp, đều không hiểu đúng bài thơ này.

Chính vì hiểu cấu trúc biểu hiện bài thơ và sự đối lập trên đây mà chúng tôi đề xuất việc phân biệt, đối lập người tiễn với người đi để phân tích. “Một người buồn bã, đau đớn nhưng vẫn dứt áo ra đi, một người muốn tiễn đưa một chinh phu truyền thống, nhưng thực tế chỉ có con người thời đại”. Trước đó người ta thiên về cách tìm hiểu gộp chung, thậm chí là đồng nhất hai hình tượng đó để lý giải. Chẳng hạn, Lê Bảo đã cho rằng : “Đây là một cuộc tự tiễn đưa mình”, “Ta ở đây đã là một sự phân thân… “Người” cũng có thể là “ta”, mà ta vốn dĩ đã là ta. Nói một cách nôm na, dễ hiểu : ta tiễn đưa ta trong một chiều buồn ly biệt. Và cũng chính sự phân thân này mà “Một giã gia đình, một dửng dưng”. Nếu không là người đưa tiễn thì không thể có “sóng trong lòng” và “hoàng hôn trong mắt trong” được”(1). Mã Giang Lân(2) và Vũ Quần Phương(3) cũng đều hiểu gần nhau, cho rằng “Tiếng sóng trong lòng, hoàng hôn trong mắt, thật ra đã thành biểu tượng của những nỗi lòng chia biệt, thảng thốt, xót xa”. Nguyễn Hoành Khung cũng viết : “Mắt đầy hoàng hôn, phải chăng là trong mắt có nỗi nhớ thương mênh mang, vời vợi, chất chứa nỗi sầu chia ly ?”(1). Như vậy hầu hết các tác giả đều không ai phân biệt tình cảm hai người, chỉ phân tích một tâm trạng chung của buổi chia ly. Điều này cũng có cơ sở nhất định. Nhưng thiết tưởng phải có đối lập mới phân tích vào chiều sâu, bởi người tiễn đang đóng vai “công cụ” khám phá người ra đi, ý thức về người ấy. Thiết nghĩ, chính nhờ có sự đối lập, tách bạch người tiễn với người đi mới làm bật ra được câu hỏi “Đầy hoàng hôn trong mắt ai” trước đó chưa được nêu ra.

Nhận xét của Hoàng Ngọc Hiến rất quý báu, nó giúp hiểu sâu thêm lôgíc biểu đạt của bài thơ. Tại sao người tiễn nói :

Đưa người, ta chỉ đưa người ấy…

Người ấy” là phân biệt với người nào ? Với sự nhạy cảm của nhà bình thơ, Vũ Quần Phương trăn trở với câu hỏi ấy. Cái sự tách bạch “ta chỉ đưa người ấy” không mang lượng thông tin nào, vì có ai trách ông có đưa thêm người nào khác đâu, nhưng câu thơ còn mang một lượng tâm hồn : người tiễn chỉ biết có người đi, họ là tất cả với nhau, xung quanh là vô nghĩa. “Người ấy” đối lập với “xung quanh”. Hoàng Ngọc Hiến hiểu câu ấy thể hiện lòng cảm phục, còn Lê Bảo thì hiểu là sự phân thân.

Thiết nghĩ, cả mấy cách hiểu ấy đều chưa hoàn toàn chính xác, chưa nói tới cái chính. Thực chất vấn đề là người tiễn bất ngờ nhận ra một con người khác, bên trong của ly khách. Ta tưởng chỉ đưa con người ấy, con người “Một giã gia đình, một dửng dưng…”, thế mà lại phát hiện thấy “đầy hoàng hôn trong mắt trong”! Chính ánh mắt đầy hoàng hôn kia đã làm anh ngạc nhiên tự hỏi (“Bóng chiều không thắm, không vàng vọt, Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?”). Phải chăng đó là  “con người ấy”? Đoạn thơ này là một đoạn thơ hai giọng :

Đưa người, ta chỉ đưa người ấy

Một giã gia đình, một dửng dưng…

– Ly khách! Ly khách! Con đường nhỏ

Chí nhớn chưa về bàn tay không

Thì không bao giờ nói trở lại!

Ba năm, mẹ già cũng đừng mong.

Lời thơ của người tiễn có khâm phục, có đau đớn, và có những câu lặp lại ngữ điệu và ý thức của người ra đi (“Một giã gia đình, một dửng dưng”, “không bao giờ nói trở lại”, “Ba năm, mẹ già cũng đừng mong…”) vừa khẳng định, vừa ngạc nhiên. Chính điều đó làm người tiễn nhớ lại chiều hôm trước, nhớ lại sáng hôm sau, và hiểu ra nỗi buồn đã có từ mấy cuộc chia tay trước. Tuy vậy, rốt cuộc người ra đi vẫn ra đi : “Người đi? Ừ nhỉ, người đi thực!…”. Bài thơ trước sau vẫn khẳng định con người mang chí lớn ra đi, nhưng đồng thời nó cũng khẳng định một con người thật. Người đi không chỉ có dáng dấp trượng phu “thoắt đã động lòng bốn phương” kiểu Từ Hải, mà còn có cái thật của tình cảm lúc chia biệt của người lính thú đời xưa. Hiển nhiên, đây không phải là cuộc ra đi đáng thương, đẫm nước mắt, mà là cuộc ra đi tự nguyện đầy lãng mạn. Giây phút “Tống biệt” có ý vị vĩnh biệt này là một dạng của “thời điểm khủng hoảng” của con người buộc người trong cuộc bộc lộ hết bản chất nhân tính chân thật của mình. Cho nên “đầy hoàng hôn trong mắt trong” không chỉ là dấu hiệu của nỗi buồn, mà ở đây nó còn là dấu hiệu của con người thật đang bị che giấu. Cái hay của bài thơ chính là sự miêu tả vẻ đẹp của con người cao cả trong toàn bộ sự biểu hiện chân thật của nhân tính, đầy tinh thần nhân đạo.

III

Có người cho rằng ý nghĩ ra đi như cách hiểu trên đây xem ra tàn nhẫn quá, muốn tìm một cách hiểu “nhân ái” hơn, đã đề nghị không nên bị “ám ảnh bởi mấy chữ thà”, và diễn ý các câu thơ trong khổ cuối là :

Người đi! Ừ nhỉ, người đi thực!

Xin mẹ hãy coi con như chiếc lá bay

Xin chị hãy coi em như hạt bụi

Xin em nhỏ coi anh như hơi rượu say.

Mới xem qua thì có vẻ hợp thời thượng, nhưng có lẽ không phù hợp với bài thơ. Nhà thơ sử dụng lối trùng điệp lặp lại chữ thà để gây ấn tượng thì bảo đừng nên “ám ảnh”. Vậy là nhà thơ non tay quá, dùng chữ để người ta hiểu sai ý ông, đòi hỏi phải giải thích lại! Nhà thơ lại còn rất kém cỏi về tâm lý nữa : em bé “ngây thơ đôi mắt biếc” làm gì đã biết uống rượu say, và nhất là chưa hiểu việc gì đang xảy ra, làm gì có được cử chỉ phớt đời để mà “coi anh như hơi rượu say”?! Nhà thơ lại cũng chưa biết viết thông được một khổ thơ. Dòng một đang là ý nghĩ của người tiễn, nhảy một cái, ba dòng tiếp là ý nghĩ và lời của người ra đi! Cả khổ thơ đều là lời của người tiễn đưa, chẳng có cơ sở nào để biến nó thành lời của người ra đi cả.

Thực ra, nhà thơ Thâm Tâm rất già dặn, chỉ có người đọc non nớt mà thôi.

Đọc thơ văn nên tôn trọng cái mạch lôgíc vốn có của văn bản. Tính đa nghĩa của văn bản cũng do cấu trúc khách quan của nó biểu hiện, chứ không phải do ý muốn của người đọc muốn gán vào thế nào cũng được.

Trần Đình Sử Nguồn: https://trandinhsu.wordpress.com/2021/06/12/ba-bai-binh-bai-tho-tong-biet-hanh-cua-tham-tam/

Tản văn: Chuyện hoa – Thâm Tâm

Hoa có rất nhiều loài, và nhiều thứ hương, sắc. Gặp ngày Tết hoa càng quý-giá hơn, bán được đắt lên gấp bội. Vì có những nhà quanh năm không chơi hoa, không biết đến hoa là gì, như một sa-mạc không biết đến bóng dừa, mà gặp dịp tết nhất, cũng chuốc mua được ít bông tươi-thắm để trang-hoàng trong phòng khách hoặc trên bàn thờ.

Cuộc đời không khô lạnh quá, một phần nhờ về mầu-sắc. Cho nên ở đâu có hoa và ánh-sáng, là có sự vui sống rồi-rào. Thơ Đường ca-tụng về hoa, có câu rằng: “Cứ vô-tình thế mà cảm nổi người, nếu lại biết nói thì có thể nghiêng được nước.” Vốn có bản-chất linh-diệu ấy, nên hoa thường được các thi-nhân bảo là có hồn. Và mỗi khi ta nhớ lại một câu thơ nào có nhắc đến hoa, là trong trí lại hiển-hiện ra một hình người đẹp, mà mầu hồng của má của môi, và của ngực đều làm bằng tất cả hoa!

Nên hoa lại ngon nữa! Cổ nhân thường nuốt từng nắm hoa mai, mà bảo: “để cho hàn-hương thấm rửa vào trong phế-phủ”. Và kể riêng một thứ cúc đã có công dụng trong việc ẩm-thực nhiều rồi. Song ở đây, là những giờ trà dư tửu hậu. Thở hơi ấm của tân-xuân, và hưởng cái nhàn-nhã của vài ngày Tết, người ta có thể tỉ-mỉ thăm ngắm đến từng cánh tinh-vi.

Hoa lan bao nhiêu thức, ai sành chơi lắm mới nhận hết được đủ các giống. Nào Trần-mộng hoa đỏ, Mặc-lan hoa đen, Động-lan hoa phớt tím, Hội-điểm hoa trắng có chấm hồng, Hạc-đính hoa như đầu hạc, còn thi Đại-kiều, Tiểu-kiều, Bạch-ngọc, Kiến-lan, Phong-lan, Hoàng-lan, vân vân… thứ giồng trong chậu, thứ để vào lẵng treo quanh giàn, mỗi hạng một vẻ và một mùi hương… Nhưng tựu trung, thường quý vì đắt tiền, và chỉ các cụ già hay chơi, một cớ là mất công lau vuốt rất tỉ-mỉ. Lan có giáng quý-phái và cổ-điển, như những người tóc bạc phong-lưu. Mùi hương thường kín đáo như một đời ẩn-dật.

Những cánh hải-đường đỏ thắm, nụ chum-chúm từng núm ngon lành, và hoa trổ lả-lơi. Hãy nhẹ bàn tay, đừng dập-vùi thái quá, đừng gió mưa thái quá! Đây là một người gái đẹp không tiếc gì ta, đây là những giọt máu hồng; đêm tàn, rụng theo vài cánh máu. Bước chân xéo qua, quên đi…

Hoa cúc mang nhiều tên như lan: Bạch-hạc, Kim-bàn, Đại-đóa, Bạch-my đỏ có, tím có; thứ thì cánh bằng như xén, ấy là Cam-cúc; thứ thì nhỏ li-ti, ấy là Kim-cúc; và thứ cánh xoăn lại, thứ cánh thẳng đều, dầy hoặc thưa… Hương thơm hắc, nhưng ý-nhị và kín đáo, như những thiếu-phụ khéo tề-gia nội-trợ, trang-điểm sơ-sài, mà rất giữ bền tình yêu như hoa rất lâu tàn-tạ.

Phù-dung chỉ có hai loại: một là Bát-diện, nhiều cánh và tươi mầu; một nữa là Tam-sắc, vì hoa nở ra thoạt sáng sắc trắng, càng về trưa càng hồng gắt, và đến chiều nhạt dần đi mà rụng. Vì hoa sống có một ngày, như kiếp phù-du, làm cho người ta nghĩ đến những sự chóng-vánh, những sự kết-liễu một đời non yểu! Cánh hoa yếu-ớt, mong-manh như tàn-lực mấp-máy trên đôi môi còn nồng hơi sữa một đứa trẻ ấu-thơ…

Những bông cẩm-chướng, cánh như cắt bằng gấm, lụa, hoặc trắng như băng sương, vàng như nắng thu, hay là hồng của buổi lê minh, và ngà-ngà của một thứ mây giáng… Người ta bảo đấy là một bầy gái nhỏ khoe áo trước gió xuân!

Hoa dạ-hợp thì chờ đến nửa đêm, kêu tách ra một tiếng, rồi bùng nở trong chớp mắt. Nở xong, rất chóng rụng. Đừng bảo loài ấy tượng-trưng cho những cuộc xum vầy. Đấy là đời những chiếc pháo nổ lên mà tan xác! Đấy là đời anh-hùng mà yểu mệnh!

Hồng thì đại-khái có hồng bạch, hồng đơn, hồng quế, hồng nhung, vân vân… vừa trang-trọng, vừa kiều-diễm như một nàng hoa-hậu kiêu-sa. Song cũng không giấu nổi cái buồn của bóng chiều.

Rồi đến thủy-tiên, cốt trắng như băng thanh ngọc khiết, lá xanh là những giải áo, và nhụy là những chiếc khăn vàng. Cái huyền-ảo của toàn-thể trước khói-hương, nhắc lại sự tích nàng Lý-phi-tiên bị dân làng mê-tín đem dâng cho Hà-Bá dưới sông Dương-tử; sau Phi-tiên chết, hóa thành những củ nở hoa, người ta gọi là Thủy-tiên. Cũng còn một tích khác nữa: có một nhà chia gia-tài, con lớn tranh hết phần em. Con út tủi thân ra ngồi khóc ở bờ sông. Bỗng có ông lão tóc bạc hỏi duyên-cớ rồi cho một thứ củ trắng bảo đem về trồng mà sinh-nhai, lại xưng tên là Thủy-tiên. Sau củ đó nở hoa, lấy tên ông lão đặt cho. Nhằm dịp tết, thiên-hạ thấy hoa đẹp, đua nhau mua bầy chơi. Rồi sau thành lệ.

Ngày tết, thịnh-hành nhất, còn hoa mai và hoa đào, bán từng cành. Hoa mai đạm-bạc như một kẻ thanh-bần, song cao-khiết, những nhánh khẳng-khiu nhắc đến những thân-hình gầy yếu vì phong sương. Hoa đào cũng những cánh nhỏ như mai, song sắc đỏ thắm, và cũng có một sự tích:

Tại thôn Nhuệ-cái thuộc địa phận Hàng-châu, có gã Vương-sinh lấy vợ họ Đào rất đẹp. Vương yêu hoa thường cùng vợ vào rừng núi tìm những hương-sắc kỳ lạ. Một lần, gặp tết Nguyên-đán, hai người du xuân rồi nghỉ bước trên bờ suối, Vương chỉ cho vợ ngắm bóng nàng soi xuống dưới nước, và chàng ước có một thứ hoa đẹp như nàng, mầu hồng tươi như mầu áo đang mặc của nàng. Đào-thị mỉm cười, hứa đến lúc chết, thế nào cũng hóa ra loài hoa đó, để làm đẹp lòng chồng.

Không ngờ lời hứa nhằm giờ linh, nên ít lâu, Đào-thị mắc bệnh từ trần. Vương đem táng ở bờ suối. Về sau, suốt bờ suối mọc đầy một thứ cây, vào khoảng tháng chạp thì nở hoa, quả-nhiên mầu hồng như sắc áo cũ của Đào-thị. Vương nhớ lời vợ, ngắt mấy cành về cắm lên bàn thờ và gọi tên là hoa đào. Mọi người trong thôn thấy hay cũng bắt chước. Sau vì thôn đó sản ra giống hoa ấy, mới nhân thế mà đổi thành là Đào-hoa-thôn.

Câu chuyện hoa xuân tới đây là hết. Những bó hoa sau mấy ngày tết, từ trên bình rơi xuống đống rác… Không ai như các nhà thi-sĩ đọc trên cánh hoa những hình-ảnh xa vời, hay bóp nát ra vì một hờn giận đâu đâu! Không, hoa chỉ đến cho người ta ngắm những mầu tươi, rồi hoa lại đi… Hoa đi như một nàng ca-kỹ hát xong ở một đám tiệc vui, rượu đã cạn hồ, tiếng cười đã hết…

THÂM TÂM

BÙI ĐẸP sưu tầm

Một tờ tuần báo, mấy nhóm thơ văn (xung quanh tuần báo Bắc Hà những năm 1936 – 38) – Lại Nguyên Ân

1/ Nói về các nhóm phái văn học ở Việt Nam thời kỳ trước 1945, các nhà nghiên cứu (và các nhà báo thích lặp lại họ) thường chỉ nêu tên mấy nhóm dễ thấy, chẳng hạn nhóm Đông Dương tạp chí, nhóm Nam phong, nhóm Phong hoá-Ngày nay (hay là Tự Lực văn đoàn), nhóm Tân dân, nhóm Tri tân, nhóm Thanh nghị, nhóm Hàn Thuyên… Song hầu như chưa ai thử tiếp cận theo một lối khác, nghiêm chỉnh hơn, ví dụ hãy bắt đầu bằng việc thống kê xem, chẳng hạn, chỉ trên đất Hà Nội thôi, suốt thời gian ấy (1900-1945) có bao nhiêu nhóm văn học, là những nhóm nào, gồm những tên tuổi nào, biến động của từng nhóm ấy ra sao, v.v… Như thường thấy, những ai muốn biết tường tận bao giờ cũng cảm thấy được chỉ dẫn rất ít! Vì sao ư? Chính là vì họ vấp phải − trong hầu khắp các công trình văn học sử đã có − lối khái quát không cần thống kê, chỉ dựa vào suy đoán ước chừng, và tuy là ước chừng nhưng đã trở thành mẫu mực trong “tư duy nghiên cứu” của nhiều lớp học giả đàn anh.

Tôi biết có không ít nhà nghiên cứu lớp trước muốn dừng lại thật lâu ở sự tranh cãi suông về chuyện “thế nào là nhóm phái”, trước khi cho phép từng nhà nghiên cứu vẽ bức tranh thực có về các nhóm phái. Nếu phải chọn, tôi không chọn lối làm ấy; tôi sẽ nương theo những loại sự kiện một số nhà văn nhất định nhóm lại với nhau, dù nhất thời hay lâu dài, quanh một công việc gì đó, thường thường là một tờ báo hay tạp chí, để hình dung diện mạo của cái gọi là nhóm phái trong đời sống văn nghệ. Còn các việc tiếp theo, như xét xem các hoạt động của cái tạm gọi là nhóm phái ấy có ý nghĩa ra sao, có ảnh hưởng ra sao, có đáng để gọi là nhóm phái hay không, v.v. − ấy là điều sẽ phải làm về sau, sau khi đã có khá nhiều dữ kiện về những gì có thể và nên được gọi là nhóm phái.

Chẳng hạn, vài chục năm trước đây, nhân lướt qua đôi bài hồi ức về Nguyễn Bính (1916-1965), tôi thấy một vài tác giả đã nhắc sơ sơ đến một nhóm nhà văn hồi những năm 1940 thường nhóm nhau ở vùng Cống Trắng-Khâm Thiên hay là sau ga, “Sau-ánh-sáng”, hay Thanh Giám gì đó, một nhóm mà Nguyễn Bính có giao du thậm chí có thể coi như đã tham gia trong một quãng thời gian… Người ta gợi ý những tên tuổi chính của nhóm ấy là Trần Huyền Trân, Thâm Tâm…[1] Nhưng hầu như không có tài liệu gì rõ rệt.

Vừa rồi, trong khi tìm tòi để làm rõ thêm cho một tài liệu đã có, tôi tình cờ được thấy một vài dấu tích về hoạt động của một vài tên tuổi thuộc nhóm nhà văn ấy, và tất nhiên còn thấy dấu tích về hoạt động của nhiều tên tuổi quen hoặc lạ khác nữa. Chứng tích ấy gắn với tuần báo Bắc Hà ở Hà Nội những năm 1936-1938.

Trước tiên hãy nói vài nét chung về tờ tuần báo Bắc Hà.

Trong chuyện “nói vài nét chung”, cũng cần sòng phẳng rằng: ở đây không tìm được thông tin tuyệt đối; chỉ tìm được những tin mà giá trị thông báo là hữu hạn.

Soạn giả Nguyễn Thành trong Từ điển thư tịch báo chí Việt Nam (Hà Nội, 2001: Nxb. VHTT, tr.49) ghi nhận báo này có từ 10/8/1936 đến tháng 3/1938.

Còn tại thư viện quốc gia ở Hà Nội, có thể đọc được ở thông tin khái quát và thông tin “thực địa”, tức là ở bộ sưu tập báo này hiện còn lưu trữ tại đây.

Theo nội dung chỉ dẫn trong ô phích tra cứu (fiches de bibliothèques) thì báo này có từ tháng 3/1935 đến 26/3/1938. Cụ thể, 1935: tháng 3-8 (các số từ 1 đến 20); 1936: tháng 1-12 (các số từ 1 đến 17); 1937: các số từ 18 đến 19, và các số (đánh số lại) từ 1 đến 10; 1938: các số từ 1 đến 12.

Trên “thực địa” tức là bộ sưu tập báo này hiện lưu lại tại thư viện quốc gia Hà Nội (ký hiệu J 237) thì, ở dạng vi phim (microfilm) ta có thể được biết là có hầu như tất cả các phần thuộc sưu tập báo này, kể cả phần báo trong năm 1935; nhưng ở dạng bộ sưu tập báo gốc (báo giấy), hiện không còn các số ra trong năm 1935 và đầu năm 1936; phần còn lại và đọc được chỉ là từ số 1 ra ngày 10/8/1936, thuộc về “Bắc Hà, năm thứ hai”, cho đến số cuối cùng còn lưu lại là số 12 ra ngày 26/3/1938, thuộc “Bắc Hà năm thứ tư”.

(Về các phần chưa biết rõ của sưu tập Bắc Hà, xin mở ngoặc nói thêm 2 chi tiết:

Một là, về Bắc Hà trong năm 1935: trong số khá nhiều trang photocopy báo chí tiếng Việt trước 1945 mà hai bạn Nguyệt Cầm và Peter Zinoman chuyển cho tôi − không rõ chụp được từ nguồn của thư viện quốc gia Hà Nội hay từ nguồn nào khác, − có 3 trang của Bắc Hà ra trong năm 1935, cho thấy nó là báo thời sự văn hoá xã hội, khổ trung bình (30×40 cm); trang nhất số 6 ra ngày 1er Mai 1935 ghi rõ “năm thứ nhất” và trụ sở toà báo: 14 rue Takou [= Hàng Cót] Hà Nội, Directeur propriétaire [chủ nhiệm]: Bùi Đình Tiến; trang nhất số 7 ra ngày 10 Mai 1935 cũng ghi như trên; trang nhất số 20 ra ngày thứ sáu 13/9/1935 ghi thêm chức danh Rédacteur en chef [chủ bút]: Ngô Văn Triện.

Hai là, về Bắc Hà đầu năm 1936: trong sưu tập hiện còn, có nửa trang bìa còn lại của Bắc Hà năm thứ hai, số ra ngày Samedi 1er Janvier 1936 [= thứ bảy 1/1/1936], cho thấy rõ nó là tuần báo kỹ nghệ và thương mại).

Như vậy, về báo Bắc Hà, hiện có sai lẫn cả ở thông tin vắn tắt về báo này trong Từ điển thư tịch báo chí Việt Nam dẫn trên (chỉ nói đến báo này ở phần còn sưu tập báo giấy, tức là chỉ biết báo này ở năm thứ nhì; không thông tin gì về báo này khi mới xuất bản năm thứ nhất), cả ở thông tin về sưu tập báo này trong ô phích tra cứu của thư viện quốc gia (nói năm 1935 từ tháng 3 đến tháng 8 có 20 số, song số 20 ta biết lại ra ngày 13/5, vậy là thiếu thông tin về báo này từ tháng 5 đến tháng 8; về năm 1936 thiếu hẳn thông tin về các số ra từ 1/1/1936 như ta thấy trên tờ bìa rách hiện còn trong sưu tập).

Dẫu sao cũng thử tạm phác ra một hình dung “liền mạch” như sau.

Tuần báo Bắc Hà vốn là tờ báo thời sự xã hội văn hoá do ông Bùi Đình Tiến sáng lập và làm chủ nhiệm, có lúc đã mời (hoặc thuê) Trúc Khê Ngô Văn Triện làm chủ bút; có thể là sau 20 số đầu, báo đã ngừng lại và chuyển đổi thể tài, trở thành tờ báo về kỹ nghệ và thương mại (từ 1/1/1936); nhưng một thời gian sau, do gặp khó khăn gì đấy, báo được chuyển cho một nhóm khác.

Cụ thể là, từ 10/8/1936 đến 7/1/1937, “Bắc Hà tập mới” đánh số lại từ 1 và trở thành tuần báo văn chương, ra được 19 số, người quản lý tờ báo là Trần Đình Kim; toà soạn ở 17 Cao Đắc Minh (Hậu Giám).

Từ 11/3/1937, Bắc Hà lại xuất hiện như một “tập mới” khác: báo quán chuyển tới 57 phố Huế, toà soạn và trị sự do Nguyễn Cao Nhạc quản lý, vẫn là tuần báo văn chương, ra được 10 số.

Đến 13/9/1937 báo này trở về tay hai ông họ Bùi (chủ nhiệm Bùi Đình Tiến, chủ bút Bùi Đức Dậu), với một bộ biên tập mới, lại tự trình bày như một “tập mới” khác, và trở về dạng tuần báo kỹ nghệ và thương mại như đầu năm 1936, tất nhiên vẫn có phần, − thậm chí phần này nhiều trang hơn, − cho bài vở văn chương; 3 số cuối cùng còn lại trong bộ sưu tập vẫn là dạng tuần báo nhưng từ khổ nhỏ (20×30 cm) đổi sang khổ vừa (30×40 cm), đều ra trong tháng 3/1938.

Như vậy, trong sưu tập còn lại (từ 10/8/1936 đến 26/3/1938, ta thấy tờ tuần báo kỹ nghệ và thương mại này đã có tới 2 lần được chuyển cho chủ khác và lâm thời trở thành tuần báo văn chương; ngay khi trở lại là tuần báo kỹ nghệ và thương mại, báo này vẫn dành phần lớn diện tích đăng tải cho văn chương. Đó là điều kiện tốt để một số nhà văn nhất định đưa đăng tác phẩm của mình và dùng tờ báo này làm cơ sở cho việc tham dự sinh hoạt văn học chung đương thời.

2/ Với người quản lý là Trần Đình Kim, trụ sở toà soạn ở 17 Cao Đắc Minh (Hậu Giám), từ 10/8/1936 (tập mới số 1) đến 11/3/1937 (tập mới số 19), báo này trở thành cơ sở của nhóm Trần Huyền Trân, Thâm Tâm… mà tôi nhắc tới ở trên.

Quả vậy. Người quản lý mang họ tên Trần Đình Kim đó chính là Trần Huyền Trân. Qua hộp thư toà soạn trả lời cộng tác viên, ta có thể đoán hai người thường trực ở toà soạn là Trần Đình Kim và Vũ Trọng Can.

Với 20 trang khổ nhỏ (20×30 cm), mỗi số Bắc Hà chỉ dành 1-2 trang cho văn chính luận, khoảng 1 trang cho tin tức, 1-2 trang quảng cáo; còn lại đều dành đăng thơ văn. Ngoài một số mục châm biếm, cười cợt (chẳng hạn các bài thi “tin vịt”, thơ nhại của Mụ Gầy, của Đồ Phồn, “từ bắc vào nam” của Tam Hoàng và “một trang khó chịu” của Ngũ Đế, “bên tai trước mắt” của Thường Dân…), số trang chiếm nhiều nhất vẫn là để đăng truyện ngắn, truyện dài và thơ.

Trong số các tác giả có tác phẩm đăng ở đây, Trần Đình Kim có lẽ là tác giả đăng nhiều nhất, dưới rất nhiều bút danh mà ta đã biết hoặc đôi khi đoán ra được (qua đôi lầm lẫn bộc lộ ngay trên báo, hoặc qua một vài tư liệu sau này). Đó là các bài thơ ký bút danh Trần Kim (truyện thơ Giải oan, các bài thơ Bình minh, Gió lạnh, Lạnh lòng thơ, Bóng đẹp chiều thu, Tơ lòng đã dứt), là các truyện dài: Nắng chiều (ký bút danh Bình Minh, đăng liền từ số 1 đến số 14), Vô duyên (ký Bình Minh và Lê Dân, đăng các số liền từ 6 đến 10), Nhọc nhằn(truyện dài xã hội, kỳ đầu ký Trần Bình Minh, kỳ 2 ký Trần Kim, đăng các số 18 và 19, bỏ dở); truyện vừa Về rừng (ký bút danh Trần Thế, đăng liền các số từ 1 đến 4); khá nhiều truyện ngắn: Yêu (ký bút danh Bình Minh, đăng số 1), Đói (ký bút danh Lê Dân, đăng số 2), Trong im lặng (ký bút danh Lê Dân, đăng số 4), Lòng con (ký bút danh Bình Minh, đăng số 4), Trong bóng mát (ký bút danh Lê Dân, đăng số 5), Nín đi em (ký bút danh Bình Minh, đăng số 5), Lá rụng (ký bút danh Bình Minh, đăng số 6), Người về (ký bút danh Lê Dân, đăng số 6), Tiếng cười (ký bút danh Lê Dân, đăng số 8), Tiếng vỗ tay (ký bút danh Lê Dân, đăng số 10), Con mắt của vương phi (ký bút danh Lê Dân, đăng số 11), Tung hoa (ký bút danh Lê Dân, đăng số 12), Người thợ nhà in (ký bút danh Lê Dân, đăng số 13), Nín tiếng thở dài (ký bút danh Vũ Lê Dân, đăng số 14), Khóc (nhật ký một nhà văn, ký bút danh Vũ Lê Dân, đăng số 15), Giòng thác cuốn (ký bút danh Bình Minh, đăng số 16), Cười (ký bút danh Lê Dân, đăng số 16), Viết báo (ký bút danh Lê Dân, đăng số 17), Nước ao tù (ký bút danh Bình Minh, đăng số 17)… Lại cũng nên ngờ là có thể có sự can dự của tác giả này tới một số văn phẩm khác, ký Cô Huyền Trân (các bài văn ngắn trong mục “Những bông hoa đầu mùa”: Quay tơ, đăng số 9, Bó hoa nhài đăng số 10…).[2]

Một tác giả khác, cũng đứng trong toà soạn và có khá nhiều văn phẩm đăng ở đây, là Vũ Trọng Can. Đó là khá nhiều kịch vui ngắn: Hiểu nhầm (đăng số 2), Rứa thì nhằm (đăng số 4), Khó nghĩ (đăng số 5), Việc làng (đăng số 6), Trình cẩm (đăng số 7), Tao lại đi Tây (đăng số 8), các bài văn vui, chuyện vui: Một nhà học giả (bỡn Lê Văn Trương, đăng số 3), Nghề! (trong mục “Chuyện nhặt”, đăng số 3), Vịt…vịt…vịt…(đăng số 5), Oan, oan, oan (đăng số 10), Cần…lạc bộ (đăng số 11), Trả lời ông Nguyễn Tường Tam (đăng số 12), Dại như vích (đăng các số từ 12 đến số 17, trong đó có kỳ dành để bỡn cợt 11 điều tâm niệm của Hoàng Đạo ở Tự Lực văn đoàn).

Liên quan đến tác giả Vũ Trọng Can này có lẽ nên lưu ý các sáng tác đăng ở đây dưới bút danh Võ Tử (hoặc Vũ Anh, Anh Vũ): các truyện ngắn Về làng (số 2), Ghen (số 3), Chống cự (số 5), Thu sang (số 6), Lòng từ thiện (số 7), kịch Ái ân (số 4), các tiểu phẩm vui: Đồng tiền và ngọn bút (ký Anh Vũ, đăng số 4), Địa vị (ký Vũ Anh, đăng số 5), Dân nguyện (ký Vũ Anh, đăng số 6), Uỷ ban lâm thời (ký Vũ Anh, đăng số 9), v.v…

Trong số các tác giả hẳn chỉ là cộng tác viên có tác phẩm đăng Bắc Hà thời kỳ này, ta lưu ý đến mấy trường hợp như Nguyễn Văn Kiện, Tuấn Trình, Nguyễn Quang Mai, Lan Viên, và nhất là cây bút ký là Văn Việt Tử…

Nguyễn Văn Kiện chừng như có lúc ở Hà Nội có lúc ở Thái Bình, góp mặt với văn giới Hà thành khá đều đặn. Tác giả này từng có không ít sáng tác đăng Hà Nội báo từ đầu năm 1936; ông cũng là dịch giả văn phẩm của Victor Hugo Trước giờ lên máy chém, nhà in Lê Cường in và phát hành cùng dịp với bản dịch vở Giết mẹ, kịch của Victor Hugo do Vũ Trọng Phụng chuyển ngữ.

Tác giả Nguyễn Văn Kiện đăng Bắc Hà cả thơ lẫn văn. Đó là các bài thơ Ám ảnh (đăng số 2), Tiếng hát; Ru con (số 3), Một vì sao (số 4), Giờ chơi (ca kịch ngắn, số 5); Thêm một tuổi (số 19); truyện ngắn: Tươi như máu (số 9, số 10), truyện dài: Hai thứ tóc (các số từ 12 đến 18, bỏ dở), phê bình: Kịch “Bóng mây chiều” của Hàn Thế Du (số 10).

Tuấn Trình vốn là hoạ sĩ trình bày tuần báo Bắc Hà từ đầu. Dần dà ông không chỉ có các minh hoạ, vẽ bìa, mà còn có tranh biếm hoạ. Rồi chính ở thời kỳ Trần Đình Kim điều hành toà soạn, ông bước vào trang văn chương của Bắc Hà với một số bài thơ và bài văn ngắn. Đó là các bài thơ Cố lãng quên đi (đăng số 11), Nhơ bẩn (số 16), Phấn bướm (số 17), là các đoạn văn ngắn Đừng đan áo nữa (số 13, lưu ý: nhân vật nữ xưng tôi trong truyện là Khánh), Những ánh mắt, Nắng chiều (số 15), Trời ơi, sông chảy; Mãi mãi đợi nàng (số 16). [3]

Lan Viên xuất hiện trên Bắc Hà từ số 9 (3/10/1936) với 2 bài thơ Trưa hè ở Quy Nhơn và Rùng rợn. Bài thứ hai trong số hai bài kể trên rõ ràng thuộc chủ đề của tập Điêu tàn (1938) tuy ta sẽ không thấy bài này trong tập thơ ấy:
Trong tháp sầu, gạch rơi:
Giật mình trong bóng tối,
Khách lặng nhìn, tự hỏi:
Tay ai động tháp Hời?
Bởi vậy có thể tin chắc Lan Viên xuất hiện ở Bắc Hà đây chính là người về sau sẽ thêm họ Chế vào bút danh này của mình. Lan Viên lúc này cũng đưa tới tuần báo những bài văn ngắn: Hồn thu (số 11), Ngày sau (số 15), Nhuận bút (truyện vui, số 19). Ta sẽ còn có dịp thấy Lan Viên xuất hiện trở lại trên tuần báo Bắc Hà vào năm sau, ngay sau khi tập Điêu tàn ra đời.

Quang Mai hoặc Nguyễn Quang Mai xuất hiện trên Bắc Hàtừ số 7 (21/9/2007) với truyện dài xã hội nhan đề Mất giạy (đăng liên tục, dừng lại và bỏ dở ở số 18, ra ngày 7/1/1937), và bút ký Một đêm sung sướng (có ghi chú là được viết trong sà lim đêm 30 năm Bính Tý). Ông này cũng viết nối để kết thúc truyện kiếm hiệp Tam động kiếm tiên khi tác giả Văn Việt Tử thôi cộng tác với Bắc Hà.

Tác giả lấy bút danh Văn Việt Tử (chưa rõ là nhà văn nào, có thể người này còn có một bút danh khác là Việt Thi) có vị trí khá đặc biệt đối với tuần báo Bắc Hàthời kỳ Trần Đình Kim quản lý toà soạn. Đó là vì hầu như suốt thời gian này báo liên tục đăng Tam động kiếm tiên của tác giả này, từ số 1 (10/8/1936) đến số 17 (3/12/1936), chỉ ngừng lại cách 2 số trước khi toà soạn này chấm dứt công việc. Tam động kiếm tiên được gọi với một phụ đề là “chuyện kiếm tiên không tiền khoáng hậu”. Chữ “kiếm tiên” hầu như lộ ngay ngụ ý “kiếm tiền”! Giới viết văn làm báo được trình bày như những hiệp khách “kiếm tiên”. Toàn bộ thiên kiếm hiệp này là một liên hoàn đùa cợt cuộc tranh đua giữa 3 nhóm văn chương báo chí có thanh thế ở Hà thành đương thời: nhóm Hà Nội báo, nhóm Tự Lực, nhóm Tân Dân. Tác giả đem võ thuật hoá và tiểu thuyết hoá các cuộc giao tranh trong giới này, mô tả cuộc đụng độ giữa các tay “kiếm tiên” của “động Hồng Kê” với “động Phong Hoả”, và về sau, giữa “động Phong Hoả” với “động Tản Dân”. Động Hồng Kê (ý nói phe Hà Nội báo của ông chủ hiệu Hồng Khê) với Lề Cang chân nhân, Đoản Kiều nguyên suý, tướng tiên phong là giang hồ hảo hớn Võ Trúng Phong, rồi quân sư Lưu Trọng Lừa, cùng các tướng Tái Can tiên, Vi Lang tiên, Bất Thông tiên …(ý ám chỉ ông Lê Cường, chủ hiệu thuốc Hồng Khê và nhà in Lê Cường; chủ bút Lê Tràng Kiều, các nhà văn Vũ Trọng Phụng, Lưu Trọng Lư, Thái Can, Huy Thông). Động Phong Hoả (ý nói phe Tự Lực văn đoàn với tuần báo Phong hoá) với chủ tướng Nguyễn Tề Tam, quân sư Tứ Tử Ly, và các tướng như Khái Huyết tiên, Lê La tiên, Thạch Lâm tiên, Tù Mờ tiên (ý nói Nhất Linh tức Nguyễn Tường Tam, các nhà văn Tử Ly tức Hoàng Đạo, Lê Ta tức Thế Lữ, Khái Hưng, Thạch Lam, Tú Mỡ). Động Tản Dân (ý nói nhà sách Tân Dân) với động chủ Võ Đình Luông, các tướng Nghiêm Hà Lạm quỷ tiên, Nguyễn Đổ Nát quái hiệp (ý nói chủ nhân Vũ Đình Long, nhà văn Nguyễn Đỗ Mục, chủ nhà in Nghiêm Hàm…). Vào truyện, phái Hồng Kê khởi đánh động Phong Hoả, nhưng rồi cục diện thay đổi, phe Hồng Kê bị thua to, tướng Võ Trúng Phong phải đến nương nhờ động Tản Dân. Câu chuyện tiếp diễn với những tình tiết thêu dệt lý thú, ví dụ cuộc tuyển chọn nhân tài của động Phong Hoả với sự xuất hiện và trổ tài của những kiếm tiên như Nguyên Vý Y,”người ở động Khâm Thiên, trước có 12 chân sau bị Khái Huyết tiên cưa mất 10 còn 2”, hoặc Hoảng Huỳ tiên, nguyên “bán thịt chó chết ở xứ Đông Pháp”, rồi Trương Tỷu tiên, “cháu 70 đời Trương Phi, anh em kết nghĩa của Nguyên Vý Y”, v.v… Một hệ nhân vật nữa, được thêu dệt từ thế giới nhân vật của các nhà văn, chẳng hạn Thị Mịch tiên cô, vợ giang hồ hảo hớn Võ Trúng Phong, có bảo bối là chiếc xiêm “đã luyện hàng trăm lần với các tiên ông”, trở thành vũ khí đáng sợ, có thể chụp lên đầu để khuất phục đối thủ; khi Võ Trúng Phong đưa bảo bối ấy ra, Thạch Lâm tiên co cẳng chạy biến, mặc dù trước đó Thạch Lâm tiên từng có lần ném hòn đá xanh trúng mặt Võ Trúng Phong khiến tay hảo hớn này ngã ngất (chi tiết này phải chăng ghi việc bài “Dâm hay không dâm” công kích Vũ Trọng Phụng đăng báo Ngày nayký Nhất Chi Mai là do Thạch Lam viết?). Bên động Phong Hoả có Ba Vành nương nương, con gái Lý Toét lão tổ, sắc đẹp làm mê hồn động chủ Nguyễn Tề Tam; Lê La tiên có lần ngắm trộm Ba Vành nương nương, bị Tù Mờ tiên bắt gặp, Lê La tiên bèn đưa kẹo tạc đạn ra hối lộ, Tù Mờ tiên vội nhai liền bị kẹo đạn nổ gãy răng!

Ngoài việc gián tiếp xác nhận sự đụng chạm cả về văn chương lẫn kinh tế giữa mấy trung tâm văn chương báo chí ở Hà Nội đương thời, người ta thấy khá nhiều tình tiết tập trung vào tác phẩm Giông tố của Vũ Trọng Phụng, lúc ấy đang được đăng tải lần đầu trên Hà Nội báo. Những chuyện mà thiên kiếm hiệp này thể hiện, ví dụ biến từ “nghị Hách” thành động từ (để một người nam có thể doạ một người nữ: ông lại “nghị Hách” cho bây giờ), hoặc chiếc xiêm bảo bối của nữ hiệp Thị Mịch, và nhiều tình tiết khác nữa, chứng tỏ ngay lúc ấy Giông tố đã có tiếng vang rất lớn trong dư luận công chúng và trong giới nhà văn.

Thiên kiếm hiệp Tam động kiếm tiên dừng lại vì Văn Việt Tử ngừng cộng tác với Bắc Hà, tác giả Quang Mai viết nốt kỳ chót cho truyện này, và sau đó Bắc Hàcủa ê-kíp Trần Đình Kim chỉ ra thêm được 1 số nữa rồi ngừng hẳn; tờ Bắc Hà lại được chuyển cho một nhóm khác.

Trên Bắc Hà thời kỳ mới (số 1 ra ngày 1/4/1937) một thông báo ký tên Trần Kim, Thường Dân, Nguyễn Quang Mai, Nguyễn Văn Kiện, Bình Minh, Công Dân (trong những tên tuổi kể trong danh mục này hẳn cũng có vài ba cái tên hư cấu!) cho biết: Vì một lẽ bó buộc, nhóm này không còn chủ trương tờ tuần báo này nữa, và trụ sở cũ của toà soạn này (19 Cao Đắc Minh, Hà Nội) sẽ là địa chỉ mới của Nhà xuất bản Bình Dân do ông Trần Đình Kim làm giám đốc, hàng tháng sẽ xuất bản loại sách bình dân, mở đầu là cuốn truyện dài Mất giạy của Nguyễn Quang Mai.

3/ Với người quản lý là Nguyễn Cao Nhạc, toà soạn và trị sự đặt ở 57 Route de Hue (Phố Huế) Hà Nội, Bắc Hà trình diện một “tập mới” khác, đánh số lại từ số 1 (1/4/1937), vẫn là tuần báo, lúc đầu ra ngày thứ năm, sau 3 số, đến số 4 (24/4/1937) đổi sang ngày thứ bảy, và “tập mới” này chấm dứt ở số 10 (12/6/1937), tức là chỉ sau hơn 2 tháng tồn tại.

Căn cứ vào bộ sưu tập hiện còn, có thể thấy 10 số Bắc Hà lần này vẫn là tuần báo văn chương, mỗi số 20 trang khổ nhỏ (20×30 cm). Tác giả nổi bật ở tuần báo Bắc Hàthời gian này là Lê Thanh (1913-1944) [4] : ông xuất hiện ở đây vừa như tác gia tiểu thuyết đăng đều kỳ, vừa như nhà phê bình, thậm chí đảm nhận vai trò phóng viên chính của tờ báo. Tiểu thuyết Hai cái chết của ông đăng ở hầu hết các số, trừ số 8, tuy rằng khi toà soạn này kết thúc thì mới chỉ hết 8 chương đầu. Ông cũng có tác phẩm viết chung, ví dụ truyện ngắn Thổn thức (viết chung với Văn Nguyệt, đăng số 3), và chừng như ông còn cho đăng truyện ngắn dưới bút danh Thiết Phủ (Cô Xinh đi đưa đám, đăng số 2, Cha hay thù, số 3, Rô ta này, số 4; − đây là tính theo giả định Thiết Phủ là bút danh của ông, vì sau này trên Tri tân, Lê Thanh có dùng một bút danh có âm gần giống là Khiết Phủ). Lê Thanh thực hiện một loạt phỏng vấn: Phỏng vấn Vũ Trọng Phụng về các tiểu thuyết Giông tố, Làm đĩ (đăng số 1), nói chuyện với nhà tiểu thuyết Khái Hưng (đăng số 4), nói chuyện với nhà tiểu thuyết Lưu Trọng Lư (đăng số 5). Lê Thanh đảm nhận mục “Câu chuyện văn chương” với các đề tài: Ta có nên kết án tiểu thuyết “Lạnh lùng” (đăng số 2 và số 3), Chúng ta còn thiếu những vở kịch có giá trị (số 6), Chúng tôi không ngờ, viết vở kịch “Ghen”, ông Đoàn Phú Tứ đã phỏng theo vở “Jalousie” của Sacha Guitry (số 7). Lê Thanh cũng là người điểm sách duy nhất của Bắc Hà những ngày này: đọc tập thơ Tần Ngọc của Huy Thông (số 1), đọc Cô Tư Thung của Lê Văn Trương (số 4). Có thể, chính do trọng lượng bài vở trên Bắc Hà thời gian này hầu như dồn vào ngòi bút Lê Thanh, cho nên khi ông này đau ốm (tin tác giả này ốm mệt được thông báo ở số 8) thì nội dung bài vở cũng bị thay đổi đáng kể.

Nguyễn Lương Bích, người mà sau này sẽ hiện diện như nhà sử học, góp cho Bắc Hà thời kỳ này đôi bài nghị luận: Cần phải duy nhất những danh từ lịch sử và địa dư trong quốc văn (số 1), Những văn bằng cao cấp về quốc văn (số 2).

Bùi Huy Phồn (1911-1990) đã từng đăng nhiều thơ trào phúng ở Bắc Hà thời kỳ Trần Kim chủ trì toà soạn; đến thời gian này, ông vẫn đưa đăng ở đây thơ trào phúng ký bút danh Đồ Phồn (hát nói Cái đêm hôm ấy, tặng những ông 2 vợ, đăng số 1, truyện thơ vui 12 hồi Tôi cưới vợ , đăng liền từ số 2 đến số 6, Vì sao tôi phải làm đồ, số 9, Tết mùng năm, số 10). Thêm nữa, với bút danh Tiếu Ông Bùi Huy Phồn, ông cho đăng tác phẩm văn xuôi dài lấy tên thể loại là “Chuyện tôi” : Khối tình câm hay thủ đoạn báo thù ghê gớm của một thiếu phụ (số 1, 2), Cô ngẫm (số 6), Quả tang (số 7, 8, 9), Giết sâu bọ (số 10).

Vũ Trọng Can góp với Bắc Hà thời kỳ này truyện dài Máu tráng sĩ (số 8, 9, 10), đem một truyện của Pháp viết lại theo lối truyện Tàu.

Nguyễn Vỹ (1910-1971) góp mặt với Bắc Hàthời kỳ này ngay từ đầu truyện dài xã hội Gió sương (đăng hết trong cả 10 kỳ), và truyện ngắn Trớ trêu (số 5).

Thiều Quang góp với Bắc Hà thời kỳ này một truyện vừa Bọt rượu hơi người (số 1, 2).

Trên Bắc Hà thời kỳ này thấy một số tên tuổi mới, ví dụ về văn xuôi và kịch là những Thanh Toàn, Nguyệt Thanh, Nguyễn Xuân Huy, Tùng Sơn, Nguyễn Duy Như, Đào Du, Văn Hương, Nguyễn Văn Kỷ, Thuý Hải,… về thơ là những tác giả Cao Tư, Gió Nguồn, Tích Lang, Việt Thi, v.v…

Trong các tên tuổi từng xuất hiện trên Bắc Hà thời kỳ trước, đến lúc này Tuấn Trình có đăng các đoạn văn ngắn và nhất là truyện ngắn Hương áng tóc nàng (số 8); Lan Viên lúc này đã thêm họ Chế vào bút danh để trở thành Chế Lan Viên với bài thơ Nắng mai (Bắc Hà số 9, ngày 5/6/1937), về sau sẽ có trong tập Điêu tàn, cũng in ở Hà Nội ngay trong năm 1937.

Bắc Hà thời kỳ này giảm hẳn loại bài vở châm chọc cười cợt, tuy đôi khi vẫn còn; ngoài thơ trào phúng của Đồ Phồn đã kể trên, cần kể đến mục “Nói to nghĩ thầm” do Cô Lương hoặc Lý Đương thực hiện, chẳng hạn, Lý Đương (số 4) nhận xét mục “Sổ đoạn trường” của báo Tinh Hoa do Thiện Ác viết (bút danh này là của Đoàn Phú Tứ), thường theo thói khen ai thì khen hết lời, chê ai cũng chê hết lời, tả Vũ Đình Liên trong văn phái mình yêu thì khen cái trán, mà tả Lê Tràng Kiều ở văn phái mình ghét thì cũng chê cái trán, thật là “Yêu ai xé lĩnh may quần; ghét ai kể nợ kể nần nhau ra”!

Về tài liệu lịch sử thì ở Bắc Hà dịp này phải đặc biệt nhắc tới bài tường thuật (đăng số 5 và 6) Hội nghị báo giới Bắc Kỳ ngày 24/5/1937 họp ở trụ sở CSA đường Charles Coulier, với gần 200 nhà báo tham dự, trong đó có Nguyễn Văn Chất, Đinh Khắc Giao, Trần Huy Liệu, Võ Nguyên Giáp, Phan Tử Nghĩa, A. Clémenti, Nguyễn Đức Kính, Đoàn Phú Tứ, Vũ Đình Chí, Trương Tửu, Nguyễn Trọng Trạc, Học Phi, Trần Kim, Hải Triều, v.v…, bàn tới những yêu cầu cụ thể về tự do ngôn luận cần đề xuất lên chính quyền thực dân ở Bắc Kỳ (trên cơ sở chủ trương của bộ trưởng Moutet trong chính phủ mặt trận bình dân ở Pháp).

4/ Từ giữa tháng 9/1937, tuần báo Bắc Hà trở lại dạng ban đầu là tuần báo kỹ nghệ và thương mại, trên manchette báo ghi rõ người sáng lập kiêm chủ nhiệm báo là Bùi Đình Tiến, quản lý kiêm chủ bút là Bùi Đức Dậu, báo quán chuyển về số 4 Rue de Maréchal Pétain, Hà Nội. Toà soạn mới trở về tay các chủ cũ, tuyên bố phụng sự tôn chỉ chấn hưng nền kỹ nghệ và thương mại Việt Nam. Mỗi số dành phần đầu, khoảng 8 trang, cho đề tài kỹ nghệ và thương mại, còn lại 12 trang là dành cho các chuyên mục phụ nữ, văn thơ, vui cười… Trong thời gian còn lại của năm 1937, báo đánh số lại từ đầu, ra được 15 kỳ (1 đến 15); sang năm 1938 tức là bước vào năm thứ tư, báo đánh lại từ số 1, ra tiếp được 12 số, kỳ cuối cùng ra ngày 26/3/1938.

Các trang về kỹ nghệ và thương mại cho thấy một nỗ lực đáng kể của chủ nhân Bắc Hà, tuy nội dung đăng tải thường khá đơn điệu, nghèo nàn. Mỗi số có một bài “bách nghệ ca” do Tiếu Ông hoặc Cô Kim Chi hoặc Oong-nom soạn (nói về các nghề như thợ giầy, thợ may, thợ khăn, thợ làm nón, thợ mộc, thợ kim hoàn, thợ cạo, thợ nề, thợ thêu…). Mục “Kinh tế học thực hành” được Lê Vũ Thái trình bày như những bài giảng. Ph. Khang thuật các tấm gương doanh nhân ngoài nước như vua dầu hoả Rockefeller, vua sắt Carnegie, vua súng Albert Krupp, đại thương gia Harrison…, tên tuổi doanh gia người Việt Bạch Thái Bưởi được nhắc đến trong khá nhiều kỳ báo, xưa hơn nưã là ba ông vua kim hoàn nước Nam là Trần Hoà, Trần Điện, Trần Điền…; các chuyện về “phép doanh nghiệp”, “phép làm giàu” cũng được đề cập bằng các bài mục ngắn. Song, tất cả vẫn quá mỏng quá nghèo. Tờ báo vẫn quá nhẹ ở “phần kỹ nghệ và thương mại”, vẫn buộc phải gây chú ý bằng “phần tiểu thuyết”.

“Phần tiểu thuyết” tức là phần dành cho văn chương nói chung, thời gian này trên Bắc Hà hơi ít những tên tuổi có tiếng. Có lẽ chỉ thấy một số người như: Bùi Huy Phồn góp mặt bằng thơ và văn trào phúng dưới bút danh Tiếu Ông (các bài “bách nghệ ca” kể trên, thơ diễu nhà sư Vì sao mà trọc, số 1/37; kịch vui Thi sĩ với Hằng Nga; các “truyện bùi ngùi” Mở cửa đổ thùng, đăng số 5/37, Phản đảng, đăng liền 4 số 7-10/37…); Văn Thu, tác giả từng có mặt với một số phóng sự về đình đám thôn quê trên Hà Nội báo năm 1936, đã xuất hiện ở đây với thiên “ẩn tình trinh thám tiểu thuyết” mang tên Hà Nội−Sài Gòn đăng đều kỳ trên tất cả các số thời gian này (tính ra khoảng 27 kỳ); Vũ Trọng Can cũng trở lại đưa đăng báo này một số tác phẩm như Người con trai (truyện ngắn, đăng số 2/37), Phòng triển lãm (truyện vui, số 3/37), Chính phủ mẹ đĩ (hài kịch, các số 3, 4, 5/37), Việc nghĩa (văn châm biếm, số 4/37).

Trang thơ lúc này hầu như gồm những tác giả thi thoảng ghé qua làng thơ: Việt Trung Tử (Đêm thu nhớ bạn, số 1/37, Cùng đức táo quân, số 2/37), Đào Du (Biệt ly, số 1/37), Anh Lương (Cô gái dệt vải với tình yêu, số 2/37), Thanh Giám (Tiếng xưa, số 1/37; Hái lộc, số 5/38), Marie Kim Doanh (Ngây thơ, số 2/37), Lê Văn Khôi (Chén quên; Chuông chiều, số 3/37), Nguyễn Xuân Kỳ (Chơi non; Mũi kim, số 6/37), Nhược Thuỷ (Tình câm, số 8/37), Hồng Anh (có ghi thêm “Sông Thương”, hẳn là tên văn đoàn, với 2 bài Giải khăn sô; Xa xăm, số 8/37), Bùi Hoài Việt (Ngày mai, số 10/37; Lá rụng bên sông, số 13/37; Tiếng hát bên sông, số 1/38;Mối tình đầu tiên, số 3/38; Vì sao cô buồn, Con tàu quay lái, số 4/38), Quang Giao (Lãng quên, số 10, Trong đêm tối, số 11/37), Bạch Hạc (Yêu đương, số 13/37), Ph. Liameur (Chiều thu, số 14/37), Cô Mai Thơ (thuộc văn đoàn Sông Thương, các bài:Tôi đã…, số 11/37; Tố Hương, truyện ngắn bằng thơ, số 13/37; Vần thơ hay hay, số 14/37), Minh Quang (Thất vọng, số 2/38), Quang Mai (Xuân, số 5/38)…

Các tác giả góp truyện ngắn, vừa hoặc dài, đăng Bắc Hà thời gian này có thể kể: Thanh Giám (lại một bút danh nữa của Trần Đình Kim chăng? − Sự thực, số 1/37; Trong im lặng, số 8/38); V.T.T.K. (Thằng trộm gà, số 2/37); Lệ Thu (Đồi thông còn đó người về nơi nao, số 3/37, Tiếng chuông trong rừng cấm, các số 6-7-8/37; Con én đưa thoi, các số 5-6/38; Tâm sự cô xuân nữ, số 7/38); Ngọc Hoàn (Hoa đèn, số 4/37); Văn Dzục (Tan tành, số 4/37); Đào Tấn (Tự sử, số 5/37); Đào Du (Tiếng khóc, số 6/37; Thật phúc đức quá, số 1/38; Sa ngã, số 5-6/38); L.T.K. ( Lê Tràng Kiều chăng? − Âm thầm, các số 9-10-11/37), Quang Giao (Anh hàng lạc rang, số 11/37; Vận túng cơn đen, số 12/37; Những ngày buồn tẻ, số 14/37; Lòng người cha, số 2/38; Trước giờ chết, số 3/38; Tiếng cười trên vũng máu, các số 5 đến 9/38); Bạch Hạc (Hối hận, số 13/37); Tường Châu (Thu tàn, số 14/37); Thanh Mai (Hai chị em, số 1/38; Thuyền không bến vắng, số 2/38); Thuý Anh (Chim hoạ mi, số 3/38); Cô Ngọc Quỳnh (Sống trong cõi chết, các số 3 đến 9/38, bỏ dở); Quang Mai (Một cảnh giao thừa, số 5/38); T.T. Nguyễn Thanh Giám (Người chết đường, số 4/38)…

Các tác giả viết kịch có tác phẩm đăng Bắc Hà thời gian này khá ít: ngoài Tiếu Ông (Bùi Huy Phồn) và Vũ Trọng Can đã kể trên, còn có: Hoàng Thu An (kịch vui Đối thủ, các từ số 7/37 đến 3/38), Lê Hoàng Bút (kịch trinh thám Hồng thập tự, các số 4 đến 9/38), Nguyễn Hữu Độ (Chém chích cược, số 5/38).

Một số phóng sự đăng Bắc Hà thời gian này là: Làng báo lầm than của Đào Du (các số 2 đến 8/37); Ma của Việt Hồng & Lệ Thu (có kỳ đăng ký là Lệ Chi hoặc Mộng Thu) (các số 10 đến 14/37; 1 đến 4/38).

Sang năm 1838, trong khuôn khổ “phần tiểu thuyết” của Bắc Hà, người ta thấy sự trở lại của một số nhân sự cũ, từng tham gia tờ này thời Trần Đình Kim điều khiển toà soạn; đó là những cây bút như Quang Mai, Việt Thi, Võ Tử… Một việc nữa là rất có thể do chất lượng tầm tầm của “phần tiểu thuyết” trên báo thời gian này đã dẫn tới sự thay đổi toà soạn.

Đầu số 9 (5/3/1938) toà soạn có thông báo Bắc Hà sẽ thay đổi từ số 10 mà nét chung là: “Báo Bắc Hàtừ số 10 sẽ là công cuộc hợp tác của nhiều nhà văn với chúng tôi”, và sẽ đổi khổ to gấp đôi (từ khổ 20×30 cm sang khổ 30×40 cm). Một bộ biên tập mới được công bố gồm: Về phần thương mại và kỹ nghệ: Bùi Đức Dậu, Lê Vũ Thái (tôt nghiệp Cao đẳng Thương mại Đông Pháp), Đoàn Cơ (tôt nghiệp Đại học Thương mại Paris). Về phần trào phúng và hài hước: Thường Dân, Việt Thường, Đồ Phồn, Võ Tử, Đào Du. Về phần thơ văn và tiểu thuyết: Các ông Trường Xuân, Hữu Nam, Tường Châu, Lê Bảo, Mai Lâm, Hà Lương trong Cấp Tiến văn đoàn. Các cô Huyền Trân, Yến Lan, các ông Chế Lan Viên, Thanh Tịnh, Xuân Khai, Tịnh Nhơn, Huy Vân trong Thái Dương văn đoàn. Bà Hạnh Liên, các cô Lệ Thuỷ, Nàng Lan, các ông Thái A, Trần Hoàn, Lê Tư Lành, Thanh Giám, Việt Thi, Quang Mai. Về phần tranh vẽ: hai họa sĩ Tuấn Trình và T.N.

Như ta thấy, trong danh sách bộ biên tập này có không ít bút danh, kể cả bút danh “ảo”, ví dụ các cô Huyền Trân, Yến Lan sau này sẽ rõ chính là các ông Trần Kim, Xuân Khai. Nhưng điều đáng kể hơn là một số văn đoàn, đồng thời với những cây bút độc lập, đã cùng tham gia tờ báo. Ta biết trong đời sống văn nghệ trước 1945 có khá nhiều nhóm văn chương nghệ thuật không có báo chí (như nhóm Sông Thương, nhóm Thái Dương, nhóm Cấp Tiến mà ta biết tên trong sự liên quan với tờ Bắc Hà ta đang nói tới) bên cạnh các nhóm có thậm chí vài tờ báo và nhà xuất bản (như nhóm Tự Lực đương thời có các tờ Phong hoá, Ngày nay, và nhà xuất bản Đời nay).

Riêng về nhóm Thái Dương mà một số hồi ức và một số tài liệu nghiên cứu lẻ tẻ xuất hiện từ những năm 1990 đến gần đây (ví dụ nhân nói về Hàn Mặc Tử, Bích Khê, Yến Lan, v.v..) thường khẳng định đó là nhóm thơ văn ở Bình Định, Quy Nhơn; thì, với tư liệu này trên tờ Bắc Hà ở Hà Nội, ta lại có thể nhận định Thái Dương như một nhóm tuy gồm nhiều nhân sự gắn bó với vùng Nam Trung Bộ nhưng lại bộc lộ sự hoạt động của mình chính ở thành phố Hà Nội, và trong thành phần của nhóm cũng có những người như (Trần) Huyền Trân ở Hà Nội, Thanh Tịnh ở Huế.

Điều này không có gì lạ, bởi không ít nhà nghiên cứu đã nhận thấy các đô thị lớn và lâu đời trên thế giới thường là “căn cứ địa” của những hoạt động văn hoá có gốc tích rất xa về địa lý, chẳng hạn học giả Nga D. Likhachev (1906-1999) từng nhận xét rằng thành phố Petersburg nước Nga của ông là nơi hoạt động của rất nhiều nhóm văn nghệ sĩ và nhà hoạt động văn hoá các nơi khác nhau từ vùng Trung Á xa xôi, là nơi bảo lưu nhiều di vật văn hoá cổ thuộc những địa chỉ rất xa cách thành phố này về địa lý.

Trở lại tờ tuần báo Bắc Hà vừa đổi mới hồi tháng 3/1938, báo chỉ ra thêm được 3 kỳ nữa, rồi không rõ bị đóng cửa hay tự đình bản. Ở tờ Bắc Hà đổi khổ này, phần thương mại và kỹ nghệ bị thu hẹp lại hơn nữa, trong khi phần trào phúng hài hước xuất hiện khá dày dặn với rất nhiều mục. Mục “Lôi cổ ra” mở cho ký giả Thường Dân nói suồng sã về những việc như ăn cắp văn, hoặc phê nhà phê bình Trương Tửu, trách nhà văn Lê Văn Trương (số 10/38), chuyện bầu cử nghị viện, cười cợt cuộc cạnh tranh giữa báo Ích hữu và báo Ngày nay, phê cách Thế Lữ bắt bẻ Nguyễn Đình Thư (số 11/38), diễu bài xã thuyết của bà chủ báo Phụ nữ, bình về lối chào bình dân (số 12/38). Mục “Những tội nhân của thời đại” do B.H.P., Võ Tử, Công Dân viết, châm biếm những cách làm tiền tệ hại, hoặc những hành vi xấu của một “quan nghè”. Mục “Tụi hề không khéo múa” do Trúc Lâm từ Sài Gòn viết. Mục “Mấy vần đâm hông” do Đồ Phồn viết. Mục “Nhốt vịt…Thả vịt” do Trạng Vịt viết. Văn Việt Tử có mục “Trong dự tưởng, phỏng vấn các nhà buôn báo bán văn”, đã thử phỏng… bà Dzị Thảo chủ báo Phụ nữ (số 10/38), ông Khái Hưng chủ báo Ngày nay (số 11/38), ông Vũ Đình Long chủ nhà sách Tân Dân (số 12/38), tất cả đều là những tiểu phẩm châm biếm. Văn Việt Tử cũng trở lại loại kiếm hiệp viết về các nhà văn với Ngũ ba hoa hiệp khách, có phụ đề “chuyện võ hiệp để diễu”, tiếp tục cái mạch của Tam động kiếm tiên bỏ dở hồi tháng 12/1936 cũng trên tờ Bắc Hà này, diễu sự cạnh tranh trong giới làm văn làm báo đất Bắc đương thời, bắt đầu từ chuyện chủ động Tản Dân Võ Đình Luông và chàng em vợ là kiếm tiên Lê Văn Phì, chủ trì động “Vô ích hữu” tập hợp các kiếm khách, kết liên với kiếm tiên Trương Tuý Tỷu, một nhà phê bình! (lúc này Vũ Đình Long là chủ nhà xuất bản Tân Dân, Lê Văn Trương là chủ nhiệm tuần báo Ích hữu, Trương Tửu thường xuyên viết các bài phê bình văn học đăng ở đó). Thiên võ hiệp này tất nhiên cũng chỉ ra mắt được ba kỳ rồi chấm dứt hẳn như số phận của chính tờ tuần báo Bắc Hà này.

Về các sáng tác thơ văn đăng trong 3 số cuối cùng của tờ Bắc Hà, có thể kể: Việt Thi với kịch Không nhà (số 10/38), thơ Điểm trang (số 11/38), Mme Hạnh Liên với thơ Gió reo (số 10/38), Lê Tư Lành với thơ Đêm đông (số 11/38), Quang Mai với phóng sự Lỗ thủng trên áo gấm trần: Hà Nội (số 10 đến 12/38),Trần Hoàn với truyện Lập lắc đâu? (số 11/38), phóng sự Đói (số 11 và 12/38); Đào Du với phóng sự Chung quanh khay đèn (số 10 đến 12/38), Tuấn Trình với kịch ngắn Mùi hương tịch mịch (số 12/38).

Nhưng nét nổi bật hơn cả trong mảng thơ văn ở 3 số này là sự trình diện của nhóm Thái Dương và Trường Thơ Loạn. Tên ký dưới tác phẩm của các tác giả Xuân Khai, Huy Vân, Huyền Trân, Chế Lan Viên đều kèm theo tên “Thái Dương” (văn đoàn). Xuân Khai có các truyện ngắn Gốc khế bên đường (số 10/38), Nó học chữ nho (số 12/38), phóng sự vui Để râu (số 11/38), thơ Túi vàng (số 12/38, ghi rõ trích trong Giếng loạn); dưới bút danh Cô Yến Lan có kịch ngắn Giải phóng một linh hồn (số 11/38) và bài thơ Chiều (số 12/38). Huy Vân có thơ Trong tiếng xuân (số 10/38). Huyền Trân có thơ Nguồn sống (số 10/38). Chế Lan Viên có thơ Ngoài hồn (số 10/38), Xuân về trong sọ(số 12/38), hai bài cùng đề tài với các bài trong tập Điêu tàn nhưng nằm ngoài tập thơ, khi đó đã ra mắt và bắt đầu có tiếng vang trong dư luận.

Ở cả ba số từ 10 đến 12 Bắc Hà đều có khung quảng cáo cho tập thơ Điêu tàn, dạng đầy đủ hơn cả ở số 12 (26/3/1938) như sau:

“Một linh hồn lạ nhất trong các nhà thơ xưa nay:
CHẾ LAN VIÊN trong Thái Dương
ĐIÊU TÀN, thơ Chàm − thơ Ma

Một tập thơ đã sửng sốt, rung động lòng người, đã xao xuyến trong làng thơ hiện đại, đã được khen ngợi bởi:

ĐÔNG CHI (báo Mai), HÀN MẶC TỬ (Tràng an), KHÁI HƯNG (Ngày nay),

THANH ĐỊCH (Tràng an), TRỌNG MINH (Tân tiến), LÊ THANH (Phụ nữ), TRƯƠNG TỬU (Ích hữu), PHẠM VĂN KÝ (Gazette de Hue).

Đọc Quan Niệm về thơ của Trường Thơ Loạn ở tựa Điêu tàn”

Hơn thế, ở số 12 Bắc Hà còn mở mục “Chiến địa” để đăng bài của Chế Lan Viên (Trường Thơ Loạn) nhan đề Ông Trương Tửu cãi lại ông Trương Tửu.

Theo nội dung bài này, có thể biết được rằng từ khi tập Điêu tàn của Chế Lan Viên ra mắt (in tại Hà Nội và phát hành cuối 1937 đầu 1938), chỉ riêng nhà phê bình Trương Tửu đã có hai bài đăng báo, một bài nhan đề Quan niệm về thơ Chế Lan Viên, bài khác nhan đề Thi sĩ của Điêu tàn(chưa rõ cả hai bài ấy đăng ở đâu, hẳn một trong hai bài đăng ở báo Ích hữu, bài còn lại có thể đăng trên tờ Phụ nữ có toà soạn ở số 7 phố Hội Vũ, Hà Nội − báo này ra từ 16/2/1938, số cuối cùng ra vào tháng 4/1939, do bà Nguyễn Thị Thảo là chủ nhiệm; nhà phê bình Lê Thanh, nhà thơ Nguyễn Vỹ từng làm trong bộ biên tập báo này, Nguyễn Vỹ viết bài thơ Gửi Trương Tửu có câu “Còn tôi bưng thúng theo đàn bà/ ra chợ bán văn, ngày tháng qua” chính là trong lúc đang làm ở báo này; có thể Nguyễn Vỹ đã đem bài của bạn mình đăng tại đây). Hai bài báo này của Trương Tửu hiện nay chưa tìm lại được. Theo Chế Lan Viên thì ý kiến của Trương Tửu về tập Điêu tàn đã được Hàn Mặc Tử “giả lời một cách đau đớn”, dưới đầu đề Ông Trương Tửu cãi lại ông Trương Tửu, (không rõ bài của Hàn Mặc Tử đăng báo nào?) chính là cái đầu đề mà Chế Lan Viên mượn dùng lại ở bài này, nhằm vạch ra sự mâu thuẫn của nhà phê bình: một mặt khen thơ trong tập Điêu tàn, mặt khác, lại công kích việc tác giả lý thuyết hoá cái điên cái mê của mình trong bài tựa Điêu tàn, bài tựa mà Trường Thơ Loạn (có lẽ chỉ gồm 3 tác gia Hàn Mặc Tử, Bích Khê, Chế Lan Viên) xem là tuyên ngôn thơ của mình.

Nói riêng ở khía cạnh tìm tòi tư liệu văn học sử, bài báo này của Chế Lan Viên khiến người nghiên cứu phải lưu ý tới việc tìm tòi hơn nữa để hình dung toàn cảnh những thảo luận và tranh cãi xung quanh tập thơ Điêu tàn ngay sau khi nó được in xong và phát hành tại Hà Nội, cuối 1937 đầu 1938.

Nhưng ta hãy trở lại với tuần báo Bắc Hà. Chính với việc được dùng làm diễn đàn cho nhóm văn nghệ sĩ Thái Dương và Trường Thơ Loạn, tuần báo này đã chấm dứt hoạt động của mình. Dù buộc phải tắt tiếng vì lẽ gì, việc tuần báo này, vào những số chót, đã can dự những sự kiện văn chương đáng kể như Trường Thơ Loạn và tập Điêu tàn, cũng có thể coi như là đã cất được “tiếng hát Thiên nga” trước khi tắt giọng vậy.

Trở lại câu chuyện tìm hiểu khía cạnh nhóm phái văn chương trong đời sống văn học trước 1945, những điều tìm được từ sưu tập tuần báo Bắc Hà hẳn là chưa thể cho thấy gì rõ rệt về điều ta tưởng về một nhóm nhà văn với trung tâm là Trần Huyền Trân (Trần Kim) và Thâm Tâm. Song qua đây ta lại thấy sự trình diện của những kiểu nhóm khá lỏng lẻo, chủ yếu là tụ lại do cùng đăng tác phẩm tại cùng một cơ quan báo ở cùng một thời gian nhất định. Với nhóm được gọi là Thái Dương, sự xuất hiện của các thành viên của họ trên tờ Bắc Hà, dù trong thời gian quá ngắn ngủi, vẫn tự chứng tỏ là một nhóm có những thành viên tài năng mạnh mẽ, để lại dấu ấn đậm trong văn học sử.

Hànội, 19/11/2007

Chú thích

[1] Ở đây chủ yếu muốn nói tới cuốn sách: Thâm Tâm và T.T.KH. (Tủ sách “Thế giới văn học”) /Hoài Việt sưu tầm, biên soạn/ Hà Nội-Tp HCM., 1991: Nxb. Hội Nhà Văn, 160 tr. 13×19 cm.

[2] Về tác giả Trần Huyền Trân (1913-1989), tại Thư viện Quốc gia ở Hà Nội có thể tìm thấy tên một số ấn phẩm dưới dạng sách in của tác giả này: 1/ Công chúa Lào, kiếm hiệp diễm tình/ Trần Kim/ Hà Nội, 1935: Tân Việt văn đoàn, 128 tr.; 2/ Sau ánh sáng , tiểu thuyết/ Trần Huyền Trân/ Hà Nội: 1940: Librairie Centrale, 119 tr.; 3/ Người ngàn thu cũ, tiểu thuyết / Trần Huyền Trân/ Hà Nội, 1942: Phổ thông bán nguyệt san, 132 tr.; 4/ Quan Âm Thị Kính, chèo cổ /Trần Huyền Trân sưu tầm, cải biên/ Hà Nội, 1957: Nxb. Phổ thông. 79 tr.; 5/ Trương Viên, chèo cổ/ Trần Huyền Trân cải biên/ Hà Nội, 1957: Nxb Phổ thông, 74 tr.; 6/Tích cổ viết lại / Lộng Chương, Hàn Thế Du, Trần Huyền Trân/ Hà Nội, 1982: Nxb. Văn hoá, 243 tr.; 7/ Đời kỹ nữ, tiểu thuyết /Trần Huyền Trân/ Hà Nội, 1990: Nxb. Hà Nội, 222tr. [tái bản]; 8/Lẽ sống, tập truyện ngắn, /Trần Huyền Trân/ Tp. HCM, 1996: Nxb. Văn nghệ, 150 tr. [tái bản]; 9/ Rau tần, thơ /Trần Huyền Trân/ Hà Nội,1986: Nxb Văn học, 48 tr. Trong mục từ “Trần Huyền Trân” (Từ điển văn học, bộ mới, Tp.HCM: Nxb Thế giới, 2004, tr. 1786-87) do Nguyễn Hoành Khung soạn, có nêu thêm tên một số tác phẩm khác nữa của tác gia này.

[3] Về tác giả Thâm Tâm (1917-1950), hiện mới chỉ có một vài cuốn sưu tập tác phẩm: Thơ Thâm Tâm / Mã Giang Lân sưu tầm/ Hà Nội, 1988: Nxb. Văn học ; Truyện ngắn Thâm Tâm / Văn Giá, Nguyễn Thanh Hương sưu tầm/, Hà Nội, 2000: Nxb VHTT, 303 tr.); và cuốn tư liệu Thâm Tâm và T.T.Kh. (Hoài Việt sưu tầm, Hà Nội, 1991: Nxb Hội Nhà Văn, 160 tr.); mục từ “Thâm Tâm” trong Từ điển văn học , bộ mới (sđd.) còn khá sơ sài. Tại Thư viện quốc gia ở Hà Nội hiện có thể tra cứu được khá nhiều tên tác phẩm đã in trong sinh thời của tác giả này: Nỗi ân hận dài , tiểu thuyết /Nguyễn Tuấn Trình/ Hà Nội, 1942: Á châu, 175 tr., và một loạt sách khác, đều ký Thâm Tâm, trong đó khá nhiều cuốn là sách viết cho thiếu nhi, do nhà in Tân Dân ở Hà Nội ấn hành: trong năm 1942: Người giao chỉ, 30 tr., Tiên trong giếng thần, 30 tr., Cái quạt mo, 30 tr., Đười ươi giữ ống, 30 tr., trong năm 1943: Bố, Cái, 30 tr., Chim làm tổ, 34 tr., Rồng, 34 tr., [ba cuốn này thuộc một bộ sách cho trẻ em có tên “Giòng máu sông Hồng”], Cái quạt mo, 30 tr., Thuốc mê, tiểu thuyết, 120 tr., trong năm 1944: Gánh hát sử Nam, 58 tr., Hai cây hoa nhài, 34 tr., Người giữ ngựa, 67 tr., Đời con kiến, 34 tr., Bọ trẻ tàn tật, 62 tr., Cóc và ếch tranh hùng, 34 tr., Ông hoàng răn, 34 tr., Ăn quả nhớ kẻ trồng cây, 34 tr., Bước gian nan của con nắc nẻ, 34 tr., Thuồng luồng ở nước, 54 tr., trong năm 1945: Tiếng mùa xuân, 64 tr., Thỏ, chuột và khỉ, 33 tr., Hươu, Rím, Khách, 31 tr., Linh hồn đá, 31 tr. Ngoài ra còn có cuốn Đại đội Kim Sơn trên chiến trường Tây Bắc, loại sách chiến đấu, Nxb Vệ quốc quân, 1949, 16 tr.

[4] Về tác giả Lê Thanh (1913-1944), xin xem sưu tập: Lê Thanh, Nghiên cứu và phê bình văn học (Lại Nguyên Ân sưu tầm và biên soạn), Hà Nội 2002: Nxb. Hội Nhà Văn & TT VH&NN Đông Tây, 484 tr. 14,5×20,5 cm. Sưu tập này chưa ghi nhận và thông tin về những tác phẩm và hoạt động của Lê Thanh trên tờ Bắc Hà đang nói tới ở bài này.

Nguồn: http://vienvanhoc.org.vn/print/tulieuvanhoc/401/mot-to-tuan-bao-may-nhom-tho-van-xung-quanh-tuan-bao-bac-ha-nhung-nam-1936–38.aspx

Tô Hoài viết về Trần Huyền Trân

Có lần, trên hồ Tây, Nguyễn Huy Tưởng đã hỏi Trần Huyền Trân:

– Tại sao cậu lại dùng cái bút danh khăn yếm như thế, dẫu cho đó là tên một tuyệt tác giai nhân?
Câu hỏi cũng là một nhận xét. Nhà tiểu thuyết lịch sử ấy đã thấy gợn gợn khi xem ra cái tên kiều diễm không hợp chút nào với dáng dấp con người nhà thơ
Trần Huyền Trân, nước da bánh mật, ánh mắt thăm thẳm và cặp này xếch, từ thuở nào tới giờ vẫn dường như khắc khổ, nhưng lại trang nhã và phảng phất vẻ gì giăng gió.

***
Trần Huyền Trân chỉ lặng lẽ mỉm cười.

– Ồ, cái nàng công chúa Huyền Trân nhất thực đa tình nọ nào có bận đất đến nhà thơ của chúng ta.

Người con gái tài sắc phải bán mình sang Chiêm để cho vua cha được người la dâng đất châu Ô, châu Ri. “Nước non ngàn dặm ra đi… Mượn màu son phấn, đến nợ Ô Ly… Thế rồi cái anh chàng tướng trẻ tài hoa Trần Khắc Chung kia phụng mệnh sang Chiêm cứu nàng khỏi bị nạn thiêu sống bởi phải chịu tang chồng, đã dùng mưu đưa được người đẹp từ giàn lửa ra bờ bể làm lễ chiêu hồn ở ven trời”. Rồi lại cướp được Huyền Trân thoát xuống thuyền. Con thuyền trở về lênh đênh mãi ngoài khơi qua những cửa Thần Phù, Tuần Vương bao nhiêu tháng, bao nhiêu lần mà cố tình vẫn chưa nhìn ra đường nước vào bến. Đôi trai gái đã để lại thế gian một trang tình sử cực não nùng.
Ai đếm được, làm sao kể xiết biết bao nông nồi đẹp và buồn trong đời tình của mỗi tuổi trẻ. Thuở ấy có người mê thơ Trần Huyền Trân, nhiều năm ròng, bàn tay yêu kiều ở một thị trấn trung du ủ bóng đồi cọ đã thêu những bài thơ Trần Huyền Trân trên lụa, chữ lụa. Năm tháng qua đi, “Mặt nhau chưa từng biết. Tiếng nhau chưa từng nghe” (Trần Huyền Trân) chẳng khi nào ai biết ai. Nhưng biết rằng thế là đã gặp những chiêm bao không gì sánh nổi, không bao giờ có được.

Ai còn nhớ những câu thơ “trở lại vườn Thanh có một mình” quãng 1937 ở cái khi mà những người yêu của chúng tôi chắc chắn các cô còn vắt vẻo tóc bỏ đuôi gà và chưa biết tỉa lông mày.

Người ấy thường hay vuốt tóc tôi

Thở dài những lúc thấy tôi vui

Bảo rằng hoa giống như tim vỡ

Anh sợ tình ta cũng thế thôi!

Có lần tôi gặng hỏi Thâm Tâm, nhưng con người bé nhỏ âm thầm mà gai gạnh ấy chỉ nói:

“Vườn Thanh là Thanh Giám, chứ không phải xứ Thanh đâu. Lại càng khó hiểu hơn.
Trên gác báo Bút Hà, – Trần Huyền Trân thuê lại báo của ông Bùi Đức Dậu, làm được mấy số – phố Cao Đắc Minh trông sang Thanh Giám Văn Miếu. Bãi cỏ bậc thềm bậc đá, tường gạch vỡ, mái ngói rêu phong, những gốc đề, gốc muỗm cổ thụ và sự vắng lặng. Câu chuyện tình u ẩn mà nhiều báo nhiều thời bàn tán nào Hai sắc hoa ti-gôn, nào T.T.Kh, nào Thâm Tâm và Khánh, là hai người ấy hay là ai. Những éo le mơ hồ, các anh Thanh Châu, Thâm Tâm, Trần Huyền Trân, Nguyễn Bính – những đồng tác giả câu chuyện tình huyền thoại ấy hôm nay cũng còn có bạn có thể kể lại rành rõ được (hay là người ta cứ muốn để mờ ảo mãi như thế), tôi không quan tâm, mà chỉ muốn mách các bạn: không phải chỉ Nguyễn Bính làm thơ về T.T.Kh, mà riêng nhà thơ Trần Huyền Trân có đến bốn bài thơ viết ở “vườn Thanh”. Những bài Thưa bà – 1938 (Gửi một bà yêu thơ), Tiếng đàn đôi ta – 1938, Có những mùa đông – 1939 và Trưa ấy qua rồi – 1939, đều viết ở Thanh Giám.

Và bài thơ sau cùng Trưa ấy qua rồi miêu tả tâm sự “trở lại vườn Thanh” của Trần Huyền Trân có những câu:

Bây giờ năm tháng vô duyên quá

Em đã theo những bên cát xa

Đò đã sang sông, chèo lái mới

Sao còn khua bóng mãi thơ ta

Ai vẽ giùm tôi một buổi trưa

Bối, trời mây gió đến đem cho

Một hy vọng lao từ đâu lại

Giấu o trong lòng mấy tiếng thơ

Thanh Giám 1939

Bạn yêu thơ chắc, còn nhớ những “sang sông, sang ngang”, “bốn trời”, và “bến cát xa” không phải của riêng Trần Huyền Trân. Hình ảnh những chữ mênh mang man mác ấy cũng thường thấy ở thời kỳ ấy trong thơ và tên bài thơ, tên truyện ngắn của Thâm Tâm, của Nguyễn Bính.

Đó là những câu chuyện thơ mộng có và không có của một thời, của một lứa tuổi, một lớp người.

Cái bút danh Trần Huyền Trân cũng thế, đấy là sự tích một thiên trong những pho tình sử não lòng người thơ. Huyền Trân không bận, không dính dáng chút nào đến cô công chúa nhà Trần dan díu với Trần Khắc Chung mà Nguyễn Huy Tưởng đã hỏi. Huyền Trân này là cái tên của những ngày khốc liệt, oan nghiệt.

Ơi hỡi! Đứa con không có tên

Nằm trong xác bụng mẹ vô duyên

Con lên mẩm sống trong lòng chết…

(Cái thai hoang, 1942)

Ngày trước, Trần Huyền Trân có viết một tiểu thuyết tên là Sau ánh sáng. Những cảnh và người quanh phố Khâm Thiên trong tiểu thuyết được miêu tả như một tự truyện, những lều cá, những bè rau muống trên các ao chuôm, cống rãnh khúc khuỷu cạnh ngõ Sơn Nam, ngõ Liên Hoa qua Cống Trắng, sau ánh sáng của nơi ăn chơi nghiêng trời.
Thời ấy, những người cơ cực các nơi lên thành phố kiếm cái sống đều tìm chỗ trú ngụ ở vùng bãi sông Hồng và bám vào các rìa phố phường như thế. Sau lưng, phố Khâm Thiên đủ loại trác táng và bài bạc, những lầu xanh chỗ chơi của người phong lưu, nhà thổ đèn đỏ cho người kiết xác, các tiệm nhảy Pa-gốt, Ta-na-ka, thời Pháp – Nhật. Nhưng ngay ở nơi mà hai chữ Khâm Thiên dễ làm cho người ta ngày nay tưởng ở đấy chỉ rặt những cảnh đêm ngày ném tiền qua cửa sổ, không phải, còn vô số những con người lênh đênh giạt đến các nhà hát làm đào rượu, một loại gái điếm chuyên đứng quạt, hầu rượu, ăn ghẹ rồi mắc màn ngủ vòi tiền khách làng chơi, những gái nhảy bị đổ bệnh tim la, mọi số phận cùng đường.

Cô Hiền, cô Trần Nguyệt Hiền không phải gái giang hồ nhưng cũng ở trong cảnh lẽ mọn tương tự đám người có những cái tên hoa lá cành được khách làng chơi đặt cho, nào Mộng Điệp, Mộng Hồ, nào Tuyết Hấp, Tuyết Lành, Nguyệt Lìm, đại khái vậy.
Trần Huyền Trân gặp Hiền ở một nhà hát. Cũng không phải gốc gác “rằng xưa vốn là người Kẻ Chợ” mà Hiền đã trôi từ đồng quê ra, có lẽ đã có lần đứng ở phố Mới buôn người đợi kẻ có tiền đến giắt đi làm con sen, con nụ cho những nhà giàu bạc ác. Rồi người ta thản nhiên tống khứ con ở ra khỏi cửa, Hiền ra khỏi kiếp tôi đòi ở một nhà quyền quý kia với cái thai trong bụng. Xót sa, những con người lận đận, cơ nhỡ gặp nhau. Hiền trở dạ. Chỉ có anh chứng kiến, một mình anh lo cho Hiền được mẹ tròn con vuông với đủ mọi việc: niêu nước mắm chưng, tiền đút nhà thương làm phúc, cái áo cũ xé làm tã và làm tờ khai sinh cho cháu bé. Chút thương đau chết đuối trong cảnh ngộ ấy của hai con người họ Trần giữa trầm luân đời người, đã khiến cho họ nghĩ ra cái dấu nối đẫm nước mắt. Trần nối với Trân bằng dấu huyền ở giữa là Trần Huyền Trân – cô bé con thiên hạ được khai sinh là con anh và tên là Trần Huyền Trân, đấy là đứa trẻ tội nghiệp và là bút danh, tên thơ yêu dấu của anh.

Tên đứa trẻ và tên thơ tuyệt nhiên không ngẫu nhiên. Tính nhân đạo cao đẹp, Trần Huyền Trân tiếp thu được do anh đã giác ngộ cách mạng. Cuộc đời luân lạc và ý chí, lý tưởng trong thời kỳ đất nước trải qua những hoàn cảnh hết sức lớn lao, mỗi người đứng trước cái sống cái chết trong giai đoạn khẩn trương cả nước, nhà thơ bất giác tự nhận ra mình và dặn đứa con không bao giờ gặp lại.

Rồi lớn lên con mở mắt nhìn

Khóc cùng bách tính sống như đêm

Nhưng không! Đừng khóc! Thán gân cốt

Ta bậc thang đời, con giẫm lên

(Cái thai hoang)

Tên thơ, ba chữ Trần Huyền Trân ra đời xiết bao tình nghĩa như thế.
Bây giờ cô bé Trần Huyền Trân năm xưa ở đâu nếu trời còn để cho chứng sống đến hôm nay, chắc đã nên bà.

Sau ánh sángBóng người trên gác kinh là tên những tiểu thuyết của Trần Huyền Trân. Những “sau” những “bóng”, những chau mày hồi hộp và tiếng thở dài não ruột, những ảo tưởng, ước muốn.

Bạn tôi được sinh ra giữa thành phố, thật giữa kinh thành – hai chữ “kinh thành” du dương một cách vu vơ của mấy người cầm bút đói khát và lãng mạn, bởi nếu tôi có kể lể một chút về cuộc đời của bạn tôi giữa Hà Nội thì người đọc cũng chỉ thấy như câu chuyện ngổn ngang vướng vất heo hút đồng sâu nào chứ chẳng hề liên quan tới bóng dáng những kinh thành hoa lệ tưởng tượng kia.

Mẹ ở cữ anh ở khu nhà thương thí trong bệnh viện Phủ Doãn. Kể ra, cái năm 1913 ấy, người khốn khó mà được đến đẻ ở cái nhà thương làm phúc, không phải nằm ở trong xó buồng có bà già hàng xóm sang cầm chiếc que nứa soi đèn lên cắt rốn cho đứa trẻ, kể cả như tôi, thì cũng là may. Được may, cũng bởi mẹ anh làm “cu ly san” nhà thương Phủ Doãn. Trần Huyền Trân được mười tuổi thì bố chết, mẹ anh một nách nhếch nhách bốn con mọn, trai có gái có, nhưng tất cả các em đã chết dần chết mòn hết. Làm thế nào lần hồi qua bước cơ hàn, người đàn bà “cu ly san” ngày ngày đi làm, tối tối đội cái thúng đi rao bán bánh khoai lang rán, mà khách ít tiền ăn quà gọi sang trọng là bánh dừa rán. Tiếng ời ời vào các ngõ phố quanh co đêm đông giá buốt sang đêm hè, quanh năm thế.
Nửa đêm kia, bà bị cảm giữa đường, tình cờ, một người đi làm khuya về nhìn thấy, vực bà lên, giúp tỉnh lại. Rồi bà lấy người đàn ông đã cứu bà. Nhưng oái oăm, cuộc đời vẫn chỉ như bước từ ngoài sân vào cái nhà dột, ông ấy vốn là cu ly khuân vác trên ga Hàng Cỏ, đã có vợ con. Cảnh đò nát đụng nhau, làm không đủ ăn, lại eo sèo vợ lẽ con thêm, ông ấy đến dựng lều kéo vó kiếm thêm con tép com tôm ở Cống Trắng sau lưng Khâm Thiên. Bà ở lều thả bè muống quanh cọc kiếm ăn bòn mót những chợ Hôm, chợ Đuổi, đầu ô, anh sống lay lắt trên mặt nước với mẹ, cái lều kéo vó trong đầm nước cạnh Cống Trắng đối với Trần Huyền Trân chẳng phải chỉ là kỷ niệm buồn tủi một thời thơ dại, mà túp lều còn thực sự là nơi đi về sinh sống hẳn hoi cả về sau này, khi anh đã biết đi kiếm ăn, đã làm thơ.

Đi đâu thì đi, rồi lại chui lủi rúc ráy về đấy. Cái lều kéo vó, hình ảnh hiện thực cuộc sống rách nát đã vào Trần Huyền Trân suốt cả đời thơ.

Mưa bay trắng lá rau tần

Thuyền ai bốc khói xa dần bến mưa

(Thu 1939)

Bạn bè đến với Trần Huyền Trân cũng tụ hội lênh đênh mặt nước, trong cái lều trước mặt có bốn chiếc gọng vó chỏng lên trời. Mỗi lúc đi về lều bám ngón chân vào vấu cọc tre, khoả chân rửa rồi chui vào cái sàn nữa, những ngày gió bấc gió nồm chúng tôi nghe óc ách nước khua bốn phía phên liếp.

Mưa lũ ao bèo mưa trắng đêm

Cây bờ ngơ ngác nước đang lên

Lều tôi kiến đã rời lên mái

Bà lão chài lo chửa có thuyền

Vó nghèo được nước đã lê thê

Đàn cá giang hồ nhảy nhót đi

Cả cụm bèo xanh nằm cạn mãi

Cũng như cất cánh gọi không về

Tôi ở lều gianh Cống Trắng này

Trạnh lòng cá nhẩy với chim bay

Đêm sầu kẽo kẹt ngư bà thức

Dăng phải hồn tôi một lưới đầy

(Một đêm Lều vó, 1940)

Gió ngớt khua lau dưói gậm cầu

Người về gió lạnh bước thôi mau

Ngõ hoang đã nở dăm màu bướm

Đây lúc đôi mùa tiễn đưa nhau

Ấy lúc hồn hoa trở gót về

Thả đàn chim mộng xuống thâm khuê

Tôi nghe xa lắm làn mây trắng

Rời bóng kinh thành lững thững đi

(Đôi Mùa, 1940)

Hồi sau, anh thuê được một gác xép ở ngõ cạnh đấy, cùng một lối trổ xuống bến. Các bạn gọi một cách khoa trương là gác Sơn Nam, không phải Sơn Nam hoài cổ, mà các nhà trong ngõ cho thuê là của ông chủ Bạch Sơn Nam, nhiều truyện ngắn và thơ được đề một cách hoa mỹ “Viết ở gác Sơn Nam”, “ở đầm Liên Hoa” cũng chỉ là ở đấy. Những cái tên đẹp đẽ chỉ là chiêm bao gửi mộng vậy, lẫn lộn, thực và mộng, cuộc sông gay gắt và hoạt động đổi đời, đương đến với một lớp người.

Trong những năm Hà Nội dũng cảm và quyết liệt sửa soạn Tổng khởi nghĩa, chính ở cái gác “Giường ken chiếu nối xoay ngang dọc. Xương gối vào xương chẳng đủ nằm” (Trần Huyền Trân, 1940) có những chuyến liên lạc của đoàn thể Việt Minh, mối giao thông đã đến gửi cán bộ trú tạm ở đấy. Ở mái lều vó ngoài hồ, Trần Huyền trân đã gài báo và tài liệu bí mật mới nhận đợi chuyển đi. Đã có những lần anh Bé (một bí danh của Lê Quang Đạo, bí thư ban cán sự Đảng ở Hà Nội những năm ấy) đến với Trần Huyền Trân ở lều, ở gác Nam Sơn những ngày thành phố đen tối quằn quại.

Thơ Trần Huyền Trân càng về sau càng gồ ghề sắc thái thời thế.

Thuở ấy ra quân lớp lớp dài

Mẹ già phẩy áo hẹn tương lai

Lòng con nắng giục mầm hoa lửa

Gió bốn phương lùa lộng chí trai.

(Lòng chiến sĩ, 1939).

Trông lên đèn cũng nở hoa,

Tưởng đâu trong ruột bấc già đượm hương.

Đèn soi giấy mực yêu thương,

Đón sang trang mới mở đường xuân đi

(Đêm trừ tịch, 1943)

Máu bốc lên! Hỡi anh em!

Chân trời đã rạng một nền tự do.

(Những người chưa chết, 1944)

Hiện tượng đó không phải bất chợt, mà đấy là tâm hồn, sức sống và hành động đã quyện làm một trong thơ Trần Huyền Trân, ở các bài trên báo chí công khai và báo chí bí mật. Trong giai đoạn Tổng bộ Việt Minh kêu gọi toàn dân “đánh Pháp, đuổi Nhật tiến tới Tổng khởi nghĩa”, Trần Huyền Trân đã sáng tác nhiều thơ và ca dao ký bút danh Đỗ Quyên, hoặc không ký tên. Như Phong và Nguyễn Huy Tưởng đến liên lạc lấy các bài ca dao của Trần Huyền Trân đem in trên các báo Cờ Giải phóng của Đảng Cộng sản Đông Dương và báo Cứu Quốc của Mặt trận Việt Minh, phát hành bí mật.
Một vẻ nhọc nhằn vất vả mãnh liệt từ đất đấy lên, nhưng lúc nào cũng vẫn như dang dở.

Ở con người cũng như trong sáng tạo. Đấy là cảm tưởng mỗi lần tôi nghĩ về bạn, không phải chỉ bây giờ, mà từ những ngày tôi thường lui tới với anh và Thâm Tâm ở ngõ Sơn Nam.

Cuộc đời điêu đứng từ trong trứng của con người lăn lóc “từ buổi chân làm ngựa” (Trần Huyền Trân) để kiếm miếng sống, từ nghề gõ đầu trẻ tư gia và các trường tư còm cõi quanh quẩn Khâm Thiên, Ô Chợ Dừa, rồi làm ét thợ chiếu bóng vác cái phim Người kẻ cắp thành Bát-đa đi hầu khắp các tỉnh, tới Sài Gòn, sang Phnom Pênh. Thay đổi công ăn việc làm trên bước đường luân lạc chẳng qua chỉ xoay xoả đến thế, mà cũng không đủ miếng cơm manh áo. Những gian truân ấy càng đưa anh đến với những khao khát đổi đời. Trong đời văn của một người có nghị lực tự học, Trần Huyền Trân đã trải đủ bước và bước lên từ những chập chững. Lúc đầu, anh viết loại truyện kiếm hiệp “tiểu thuyết ba xu”, viết lời ca cho “bài hát ta theo điệu Tây” ký Trần Kim thì cũng vẫn chẳng khác anh dạy trẻ học, làm thợ nguội, làm ét chiếu phim. Rồi dần dà anh viết truyện ngắn, tiểu thuyết, làm báo, làm thơ, hoạt động báo chí trên nhiều mặt.

Từ sau cách mạng cho tới nay, Trần Huyền Trân say mê sân khấu, viết vở và đạo diễn. sau cùng chuyên về nghệ thuật chèo mà tôi đã có duyên với anh trong vở chèo Giáng Kiều, Tô Hoài viết, Trần Huyền Trân chuyển thể.

Trong văn học, không thiếu những người có khả năng, đà thả sức vào hầu hết các lĩnh vực sáng tác. Khi đương xuân, phơi phới đi trong những thành quả, những nghênh đón, đôi khi chỉ một loạt vỗ tay cũng khiến được ta ngây ngất. Thế rồi, một lúc nào đấy nhìn lại mới chợt nhận ra dẫu cho đâu cũng có mặt, nhưng không ở đâu đọng lại được thành tựu thực sự. Mà sức lực đầu óc với tinh hoa sáng tạo thì không phải lúc nào cũng như nhau và thì giờ lúc xế bóng cũng chẳng còn bao năm.

Ở Trần Huyền Trân không có những biểu hiện đến đỗi giật mình, như Cao Bá Quát xưa thở dài “một đời đã phụ cả năm xe sách”. Trong thơ và sân khấu, Trần Huyền Trân có đường nét sắc thái riêng biệt và hấp dẫn.

Nhưng mà làm sao tôi vẫn thấy ở Trần Huyền Trân chỗ nào cũng tưởng như đương còn dở dang, chưa hẳn đã tỏ rõ đầy đủ khí thế lẫm liệt có thật của anh, nhất ở trong thơ. Nếu ai đã đọc thơ Trần Huyền Trân dễ thấy có lẽ những bước nhảy vọt trên đường phát triển mà anh chưa sửa soạn, chưa có khai phá mới, luôn luôn mới mà lại tưởng chừng như bị đứt quãng, trong khi thật sự tiềm lực sáng tạo của anh hơn thế nhiều.
Đường thơ Trần Huyền Trân, nhật ký thơ Trần Huyền Trân có thể gọi như thế, với một phong cách tung hoành của người thơ cùng với quá trình phát triển và hình thành bước đường tư tưởng Trần Huyền Trân.

Từ mọi tâm tư giằng xé giữa đời vươn lên thái độ và trách nhiệm của con người trước vận nước Rồi trải hai cuộc kháng chiến. Rồi sự nghiệp xây dựng đất nước. Rồi tình cám với con người và đất nước bạn bè không biên giới, ở Mát-xcơva, ở Xi-bê-ri, ở Beclin, từ những bài thơ đầu tiên 1938 đến bài mới viết năm 1980 ở Nam Đồng, vẫn một thái độ, một tấm lòng.

Đọc lại bản thảo thơ Trần Huyền Trân cảm thấy thật lạ lùng khi nhẩm lại tưởng như mắt trông rõ được thơ anh quấn quít với đời, từ đầu thế kỷ tới hôm nay.

Hầu hết cả đời anh đã đi về sinh sống ở một góc thành phố, từ khi lặn lội ao chuôm sau lưng Khâm Thiên sang Ô Chợ Dừa. Bao nhiêu năm rồi, bây giờ anh lại về ở Nam Đồng cũng trong vùng ấy. Ngoài song cửa hôm nay lưa thưa bóng trúc và xa kia nhấp nhô ánh nước ngát mùi hoa sen. Cụ bà sinh ra anh, “bà lão chài” xưa, tuổi ngót một trăm còn mạnh khoẻ, cụ ngồi chiếc ghế đẩu ngoài hiên nhà.

Sự kiên nhẫn và thời gian không bao giờ phai mờ có thể là hình ảnh ví được với mạch thơ, hơi thơ Trần Huyền Trân gồ ghề, uy nghiêm. Như lời tựa thơ Trần Huyền Trân của Thâm Tâm:

Hôm nay

Thơ lên đường

Hồn chàng ra thiên hạ

Ta vừa nghe lã chã dòng sưong

Ngâm thôi

Quăng bút cười ha hả

Đây một loài hoa khác hải đường.

Những câu thơ Thâm Tâm viết 1942 đề đầu tập thơ Trần Huyền Trân chép tay, tới nay vẫn là bản thảo chép tay đã bốn mươi tư năm, lạ thay. Nhưng nghe sảng khoái đến tận bây giờ…

Đây một loài hoa khác hải đường.

Tô Hoài

“Những gương mặt – Chân dung văn học”

Một số tác phẩm thơ của Trần Huyền Trân

mưa bay trắng lá rau tần
thuyền ai bốc khói xa dần bến mưa…
có người về khép song thưa
để rêu ngõ trúc tương tư lá vàng.

Nhà thơ Trần Huyền Trân

Độc hành ca

1.
Ớ kìa thiên hạ đang say
Ớ nghìn tay nắm nghìn tay đang cười
Nhớ nhau nhạt thếch rượu đời
Tay vo chỏm tóc ta ngồi ta ca
Tình tang lỗi nhịp mình ta
Thương về đầu bạc xót ra má hồng
Tình tang ai vợ không chồng
Võng đưa ai mẹ bế bồng không con
Nằm đây thép rỉ son mòn
Cái đi mất mát cái còn lần khan
Cúi đầu bóng rét vương chân
Ngẩng lên đã đụng giời xuân trên cành
Không vui rau cỏ không đành
Mà cười nghe chửa ngọt lành trái mơ
Đã toan ném bút vùi thơ
Thõng buồng tay áo sợ dơ dáng đời
Trót thừa, ừ ngược ừ xuôi
Chút thân tâm sự ra người hát ngao
Giao tình tợp chén chiêm bao
Ngựa Hồ thôi gió bấc nào đạp xuân
Đây người áo đỏ tầm xuân
Đấy đi tang trắng mấy lần trùng quan
Không dưng rét cả dây đàn
Này cung dâng áo ngự hàn là đây!
2.
Đêm nay cũng đổ bụi giày
Miệng cười ha hả thơ mày rượu tao
Say đời nhắm lẫn chen bao
Thơ ra miệng dại, sầu vào mắt điên
Đầu bừng khí núi đang lên
Sá gì bóng tối đắp trên thân còm
Gặp thời xô xát nước non
Ta trôi ngươi chảy lòng còn ngó theo
Đưa nhau qua bữa cơm nghèo
Đứa sầu gào rượu đứa nheo mắt cười
Vung tay như vạch ngang trời
Bảo rằng đâu nữa cái thời ngất ngư
Chén mồi dù hắt ưu tư
Sao cho ráo được gió mưa lội lầm
Cõi ngoài trăm họ muôn dân
Sống trong rau cỏ vẫn thầm khóc than
Sao ta lì mãi ruột gan
Đời ai mắt sáng hơn vàng mà mong
Chẳng nghe đỏ khé sông Hồng
Sóng ngàn xưa vẫn đọng lòng ngàn sau
Chẳng nhìn bóng đá thâu thâu
Non Lam như kẻ gục đầu còn thương
Chẳng hoài thóc giống vất vương
Giếng khô lấp sạch cây vườn rụi hoa
Trách nào trái rụng hương sa
Cốt muôn trẻ đắp muôn già càng cao
Mồ hôi làm suối chiêm bao
Nguồn sinh vô lượng đổ vào vô biên
Lũ mình rắp hận thành điên
Cái câm thưở ấy cười lên thưở này
3.
Thế rồi thí bỏ rủi may
Đứa giam cõi bụi đứa đày rừng sâu
Vai cày chẳng kẻo làm trâu
Giong xe chẳng kẻo tóc râu làm bờm
Nẻo về chật chội áo cơm
Dặm đi lại động từng cơn lá rừng
Lòng ta không sóng không dừng
Thơ vang lại vướng mấy từng cửa quan
Ngẩng thì núi quấn mây tang
Kìa Đông lửa cháy kìa Nam khói mù
Tóc xanh như cỏ trên mồ
Đời hoang chôn cả xuân thu một thời
Nghêu ngao cho sập bóng ngày
Khề khà cho ráo hận đầy từng hơi
Chiều nay nhấc chén lên môi
Không dưng tưởng nhắp máu người tanh tanh
Khóc nhau ném chén tan tành
Nghe vang vỡ cái bất bình thành thơ.

Hết cố nhân

Lên thang nghe gió nhủ mưa thầm
Gác trọ không đèn hết cố nhân!

Ta trở về đây không gối chăn
Một mình ly rượu… rét căm căm
Không là lính thú sầu biên ải
Cũng thấy lòng chia dưới cát lầm!

Nhớ lại mùa mưa những thuở nào
Rượu rồi nâng cổ áo lên cao
Dăm ba mồi thuốc đi chung bóng
Lòng chép cho lòng bao chiêm bao!

Gối mãi đêm dài lên bút giấy
Dong đèn cho cạn giọt trầm tư
Đời như quán vắng khi tàn khách
Đâu những cồn mây rối tóc bù.

Nào biết mộng người đi những đâu
Chả buồn qua lại cánh song nhau!
Một hai ba bốn ngày nay nữa
Cây cỏ lòng hoang đến bạc đầu

Tro bụi giờ trơ lại chiếu hồng
Nhà như cổ mộ mặc thây lòng
Gia đình đắp đổi tình thiên hạ
Cho hết không còn nước mắt trong!

Lên thang nghe gió nhủ mưa thầm
Gác trọ không đèn, hết cố nhân!
Nhấc chén nghĩ khinh người Chiến Quốc
Phù hoa thường đổi mất tri âm!

Nguồn: Cùng một lứa bên trời lận đận – Tuyển thơ nhiều tác giả, NXB Thanh Niên, 2009.

Khóc Tản Đà

Đêm kia sao rụng trên trời,
Cõi trần lạnh lẽo mất người bạn thơ.
Nước non này mảnh dư đồ,
Mà hồn non nước bây giờ tìm đâu.
Lấy gì trời đổi cho nhau,
Người sương gió nhuộm mái đầu bấy nay?

***

Bao lâu tỉnh tỉnh say say,
Say say tỉnh tỉnh lần này mà thôi!
Chiều nay tám chín phương trời,
Muôn ngàn người có một người đi qua.
Dở dang này những ngày xưa:
“Người non nước hẹn thế cờ nước non.
Khối tình lớn, khối tình con,
Khối tình bóp bẹp vo tròn lại nguyên.”
Lòng thơ lấy rượu làm duyên,
Hồn thơ xuôi ngược con thuyền “An Nam”.
Não nùng chớp bể mưa ngàn,
Thuyền nan hờn sóng thuyền nan trở về.
Mai mai, mốt mốt, kia kia,
Cảnh rầu rỉ cảnh lòng tê tái lòng!
Hôm nao vút cánh chim hồng,
Mình không thẹn bóng, bóng không thẹn mình.
Giờ sao thui thủi gia đình,
Rượu cay càng gởi bất bình càng cay.
Mịt mù Nam, Bắc, Đông, Tây,
Đã đầy mộng lớn, đã đầy mộng con!
Còn gì là tấm lòng son!
Thân tàn một kiếp, chí tròn bốn phương.
Rồi… gió sương trả gió sương,
Nét thơ xoá sổ “đoạn trường” ra đi!
Nguồn: Việt Nam thi nhân hiện đại, Nguyễn Tấn Long và Nguyễn Hữu Trọng, Xuân Thu tái bản, 2000

Bút tích của Trần Huyền Trân, ngày ở Cống Trắng, Khâm Thiên cùng Thâm Tâm, Nguyễn Bính

Khúc hát tương tư

Em ơi! Đã có đêm nào
Bóng con chim mộng bay vào màn em
Mỏ hiền thỏ thẻ ưa duyên:
Sao hoa dạ hợp từng đêm ngậm sầu?
Phải đây mùa nhớ thương nhau
Chim ngoài ngọn gió, hoa đầu cành mưa,
Biết yêu thì khổ có thừa
Hình dung cho lắm, tương tư lại nhiều!
Xa em, gió ít, lạnh nhiều
Lửa khuya tàn chậm, mưa chiều đổ nhanh.
Bóng đơn đi giữa kinh thành
Nhìn duyên thiên hạ, nghe tình người ta.
Đêm dài, chợt cánh thiên nga
Vo chăn mấy bận vẫn là chiêm bao!

Nguồn: Tuyển tập thơ “Tình bạn tình yêu” xuất bản năm 1987

Lưu biệt

Thôi thế anh về yên xóm cỏ
xứ nghèo đã cỗi gốc yêu thương
nhớ nhau vẩy bút làm mưa gió
cho đống xương đời được nở hương

thôi thế anh về yên xóm cỏ
ngoài kia thiên hạ bụi đang lên
xá gì khi thép còn hơi lửa
còn cần nước mắt để tôi thêm

thôi thế anh về yên xóm cỏ
có buồn khêu lại ngọn tàn đăng
chứ tôi bệnh trẻ không than thở
với chiếc đầu lâu chẳng nói năng

thôi thế anh về – tôi đi đây
cây nào có gió không thèm lay
chim nào có cánh không thèm bay
lòng nào có máu không thèm say

tôi đi thực đấy! dù gian khổ
đời có như người lính bị thương
một tối rùng mình lau máu ró
cũng không khép mắt đóng sa trường

tôi đi đã biết lúc quay về
bóng dáng tôi xưa sẽ nặng nề
bên mẹ già tôi lau mắt lệ
thương tôi vạt áo đụp còn che

thôi đợi mùa nao trái chín lành
tóc này về rúc với râu anh
bấy giờ hắt toẹt ba chung rượu
cười để tâm tình thuở tóc xanh

Nguồn: http://www.oldcottage.net…thicatinhhoa/luubiet.html

Mưa đêm lều vó

Mưa lũ ao bèo mưa trắng đêm
Cây bờ ngơ ngác nước đang lên
Lều tôi kiến đã rời lên mái
Bà lão chài lo chửa có thuyền

Vó nghèo được nước đã lê thê
Đàn cá giang hồ nhảy nhót đi
Cả cụm bèo xanh nằm cạn mãi
Cũng như cất cánh gọi không về

Tôi ở lều gianh Cống Trắng này
Chạnh lòng cá nhẩy với chim bay
Đêm sầu kẽo kẹt ngư bà thức
Giăng phải hồn tôi một lưới đầy

(Khâm Thiên, 1938)

Tương tư

phải đây mùa nhớ thương nhau
chim ngoài ngọn gió hoa đầu cành mưa
biết yêu thì khổ có thừa
hình dung một thoáng tương tư chín chiều
xa nhau gió ít lạnh nhiều
lửa khuya tàn chậm mưa chiều đổ nhanh
bóng đơn đi giữa kinh thành
nhìn duyên thiên hạ nghe tình người ta
đêm về hương ngát bên hoa
tỉnh ra thì lại vẫn là chiêm bao

Độc hành ca

Ớ kìa! Thiên hạ đang say
Ớ nghìn tay nắm nghìn tay đang cười…
Nhớ ngươi, nhạt thếch rượu đời
Tay vo chỏm tóc, ta ngồi ta ca.

Tình tang lỗi nhịp mình ta
Thương về đầu bạc, xót ra má hồng
Đèn chong, ai vợ không chồng
Võng đưa ai mẹ bế bồng không con
Nằm đây thép rỉ son mòn
Cái đi mất mát, cái còn lần khân
Cúi đầu bóng rét vương chân
Ngẩng lên đã đụng trời xuân trên cành
Không vui sâu cỏ không đành
Mà cười nghe chửa ngọt lành trái mơ
Đã toan ném bút, vùi thơ
Thõng không tay áo sợ dơ dáng đời
Trót thừa ừ ngược ừ xuôi
Chút thân tâm sự ra người hát ngao
Giao tình tợp chén chiêm bao
Ngựa Hồ thôi gió bấc nào đạp chân
Đây người áo đỏ tầm xuân
Đấy đi tang trắng mấy lần trùng quan

Không dưng rét cả dây đàn
Này cung dâng áo ngự hàn là đây

Đêm nay cùng đổ bụi giầy
Miệng cười ha hả, thơ mày rượu tao
Say đời nhắm lẫn chiêm bao
Thơ ra miệng dại, sầu vào mắt điên
Đầu bồng khí núi đang lên
Sá gì bóng tối đắp trên thân còm
Gặp thời xô xát nước non
Ta trôi, ngươi chảy, lòng còn ngó theo
Đưa nhau qua bữa cơm nghèo
Đứa sầu gào rượu, đứa nheo mắt cười
Vung tay như vạch ngang trời
Bảo rằng đâu nữa cái thời ngất ngư
Chén mồi dù hắt ưu tư
Sao cho ráo được gió mưa lội lần
cõi ngoài trăm họ muôn dân
Sống trong rau cỏ vẫn thầm khóc than
Sao ta lì mãi mật gan
Đời ai mắt sáng hơn vàng mà mong
Chẳng nghe đỏ khé sông Hồng
Sóng ngàn xưa vẫn động lòng ngàn sau
Chẳng nhìn bóng đá thâu thâu
Non Lam như kẻ gục đầu còn thương
Chẳng hoài thóc giống vất vương
Giếng khô lấp mạch, cây vườn rụi hoa
Trách nào trái rụng hương sa
Cốt muôn trẻ đắp muôn già càng cao
Mồ hôi làm suối chiêm bao
Nguồn sinh vô lượng đổ vào vô biên

Lũ mình rấp hận thành điên
Cái câm thuở ấy cười lên thuở này

Thế rồi thí bỏ rủi may
Đứa giam cõi bụi, đứa đày rừng sâu
Vai cày chẳng kẻo làm trâu
Giong xe chẳng kẻo tóc râu làm bờm
Nẻo về chật chội áo cơm
Dặm di lại động từng cơn lá rừng
Lòng ta không sóng không đừng
Thơ vang lại vướng mấy tầng cửa quan
Ngẩng thì núi quấn mây tang
Kìa đông lửa cháy, kìa nam khói mù
Tóc xanh như cỏ trên mồ
Đời hoang chôn cả xuân thu một thời
Nghêu ngao cho sập bóng ngày
Khề khà cho ráo hận đầy từng hơi
Chiều nay nhắc chén lên môi
Không dưng tưởng nhấp máu người tanh tanh
Khóc nhau, ném chén tan tành
Nghe vang vỡ cái bất bình thành thơ…

Khâm Thiên, 1940

Sầu chung

(tặng Quách Thị Hồ)

Tự cổ sầu chung kiếp xướng ca
Mênh mang trời đất vẫn không nhà
Người ơi! Mưa đấy hay xênh phách
Tay yếu gieo lòng xuống chiếu hoa

Đời bảo nơi đây cõi mộng hờ
Lòng ai sa mạc chả mong mưa
Canh tàn rũ áo còn lau mắt
Bụi đã vương đầy nghĩa tóc tơ

Thôi khóc chi ai sống đọa đầy
Tỳ bà tâm sự rót nhau say
Thơ tôi gửi tặng người ngâm nhé
Cho vút giọng sầu tan bóng mây.

1942

Trần Huyền Trân, Thâm Tâm, Nguyễn Bính – Vương Trí Nhàn

Tuy đã từng viết nhiều về những cảnh sống cùng cực về các tầng lớp dân nghèo Hà Nội, một Hà Nội lầm than đau khổ, nhưng nhiều nhà văn trước cách mạng thật ra chúng chưa đến nỗi nào lắm. Họ thường là dân làm báo hoặc dạy tiểu học, sống không sung túc, thì cũng tạm đủ ăn. Đôi khi họ phải cúi xuống, mới thông cảm được với các tầng lớp mà xã hội lúc đó gọi là hạ lưu. Thậm chí có trường hợp như người ta đồn đại về Tam Lang: để viết Tôi kéo xe đâu nhà báo này đã phải làm giả phu xe, cũng đi thuê xe để hành nghề, từ bỏ những món thỏ nấu với rượu vang quen thuộc để ăn những bữa cơm hẩm chan xáo lòng bò như mọi phu xe, khiến cho nhà phê bình Vũ Ngọc Phan, phải nghi ngờ “Người ta bảo cái đầu đề Tôi kéo xe là sai, vì cái thân thể tác giả mà nhiều người đã biết, tác giả không thể nào cầm hai càng xe được”.
Nhưng ngay trong lòng Hà Nội, thường cũng có một lớp người viết sống rất nghèo khó, như dân thất nghiệp, họ lam lũ làm văn làm báo như người khác cày thuê cuốc mướn. Báo của họ bán không chạy, sách in ra không gây được tiếng vang gì lớn. Nhưng họ vẫn gắn bó với nghề, với Hà Nội, và vừa sống vừa viết một cách thanh thản.
Lớp nhà văn vô sản này đại khái như Trần Huyền Trân, Nguyễn Bính, Thâm Tâm, Nam Cao, Tô Hoài.
Trong một bài phát biểu, nhân dịp 40 năm Đề cương văn hoá, nhà thơ Trần Huyền Trân kể:
– Ngày ấy tôi thường đi dạy tư và làm báo, viết truyện để sống, để có tiền đỡ thêm cho mẹ tôi nuôi các em tôi còn nhỏ vì cha tôi đã mất từ hồi tôi chín tuổi.
Vì quá chật chội trong túp lều vó dựng trên một ao bèo đầy nước cống mà người ta gọi là đầm Liên Hoa cạnh làng Văn Chương ở phía sau miệng Cống Trắng giữa dãy phố Khâm Thiên, túp lều mà ông dượng – người chồng sau của mẹ tôi – dựng lên để ngày đêm kéo vó kiếm ăn, tôi với Thâm Tâm bèn thuê một căn gác nhỏ trong ngõ Sơn Nam cạnh đầm để ở. Sau này có thêm Nguyễn Bính ghé tạm cùng nương náu với chúng tôi trong thiếu thốn lần hồi.
Như vậy, đây đúng là một người gốc gác Hà Nội, và làm thơ, viết văn để diễn tả cái vang động của Hà Nội trong lòng mình, bắt rễ vào Hà Nội, điều đó ở ông đã trở thành thân phận, thành kỷ niệm riêng.

Bóng đơn đi giữa kinh thành
Nhìn duyên thiên hạ nghe tình người ta.

Trần Huyền Trân là người của thân phận bọt bèo, là người sống giữa Hà Nội (trước cách mạng) mà không thấy đây là Hà Nội của mình và thái độ trong thơ bao giờ cũng là thái độ không chấp nhận đời sống. Nhà thơ đứng đối lập với thế giới phù hoa chung quanh. Thỉnh thoảng, trong đám phù hoa ấy cũng có những bà, những cô ngó ngàng một chút tới thân phận nhà thơ, nhưng Trần Huyền Trân đã phản ứng đến cùng (bài Hỏi bà, với những câu kiểu như: Hay gì bà hỏi đến tôi – Khóc thì trái thói mà cười vô duyên.v.v…) Thơ Trần Huyền Trân vì thế xót xa, phẫn nộ, đau đớn, đơn độc một cách đầy khí phách.
Như các tài liệu lịch sử văn học (chẳng hạn, các tác giả viết Từ điển văn học, 1984) đã chỉ rõ Trần Huyền Trân làm thơ sớm, từ khi mới có phong trào thơ mới. Bản thân ông lại có quan hệ riêng với Tản Đà, từng có bài thơ kể chuyện uống rượu và tâm sự với tác giả Khối tình con. Vậy mà, những thơ truyện in trên Tiểu thuyết thứ bảy không mấy khi được nhắc nhở hình như giới văn học chính thức ở Hà Nội, trước cách mạng vẫn chưa chính thức công nhận thơ Trần Huyền Trân (đến nay 1985 tập thơ riêng của ông mới được xuất bản!). Song càng như thế, thơ Trần Huyền Trân càng có khí phách. Đó là những bằng chứng về một khía cạnh khác của Hà Nội, Hà Nội lầm than nhưng cứng cỏi, nghèo túng nhưng vẫn hào phóng và giữ được nhân cách, tóm lại là một Hà Nội mà bọn giàu có trọc phú, thậm chí những kẻ nông nổi, tầm thường không dễ chấp nhận.
Hai người cùng thân phận với Trần Huyền Trân lúc ấy là Thâm Tâm và Nguyễn Bính.
Thâm Tâm quê Hải Dương theo gia đình lên thủ đô từ nhỏ, học tiểu học cũng ở Hà Nội. Còn Nguyễn Bính mới từ Nam Định, Hà Đông lang bạt lên sau. Nhưng dù lên với Thủ đô sớm hay muộn, thì họ đều khổ. Giữa lòng kinh thành gió bụi, cuộc sống của họ nhiều khi rất bấp bênh và chỉ bởi lẽ thế nào cũng sống không tủi với cái nghèo, lại biết nương tựa vào nhau nên mới sống được.
Về đời riêng của Thâm Tâm, ngày nay chúng ta còn biết rất ít. Theo sự ghi nhớ của một ký giả đương thời, thì ông là người “đa bất mãn hoài”. Ông sống rất nghèo, hay phải đi vay tiền trước những chủ báo, chủ xuất bản mà ông viết thuê, để rồi không được thì rất ngượng, rất đau, và càng sinh phẫn.
Trong sáng tác, giữa Trần Huyền Trân và Thâm Tâm có những nét chung. Mặc dù không làm nhiều thơ, Thâm Tâm vẫn tạo được một ấn tượng sâu đậm “gấp” “gắt” (chữ của Hoài Thanh. Thi nhân Việt Nam) trong bài Vọng nhân hành. Bài thơ nói tâm trạng chí khí của lớp người đầy phẫn uất, như Thâm Tâm, Trần Huyền Trân và bạn bè cùng nhóm. Họ “từ tứ chiếng” họp lại. Họ hiểu rằng những lời thơ thống thiết của mình có thể có ích cho xã hội “Rằng đương gió bụi thì tôi tả – Thiên hạ phải dùng thơ chúng ta” Nhưng thời thế đâu đã tới với họ.

Thơ ngâm dở giọng thời chưa thuận
Tan tiệc quân anh, người nuốt giận
Chim nhạn chim hồng rét mướt bay
Vuốt cọp chân voi còn lận đận.

Toàn bộ những dằn vặt, những đau đớn này – gắn chặt với Hà Nội. Mở đầu bài thơ đã có nhắc: “Thăng Long đất lớn chí tung hoành – Bàng bạc gương hồ ánh mắt xanh”. Ở một đoạn sau, lại láy lại: “Sông Hồng chẳng phải xưa sông Dịch – Ta ghét hoài câu nhất khứ hề”. Sau hết, hai câu gần cuối cũng rất có không khí.

Ngoài phố mưa bay, xuân bốc rượu
Tấc lòng mong mỏi cháy tê tê.

Thơ Đường cũ có bài Xuân phân, cũng nói tới rượu ở một Hạnh hoa thôn nào đó (Tá vẫn tửu gia hà xứ hữu. Mục đồng dao chỉ Hạnh hoa thôn), nhưng trong đó, rượu làm cho người ta say đi. ở Thâm Tâm, hình như thi nhân càng uống càng tỉnh. Chỗ cay đắng tỉnh táo ở đây, có lẽ là do không khí phố xá thành thị chăng? Nếu đúng như thế, thì thành thị (Hà Nội) trong thơ Thâm Tâm đã trở thành một yếu tố mới mẻ, và đáng ghi nhận.
Cũng không phải ngẫu nhiên mà về sau, Thâm Tâm bước vào hàng ngũ các chiến sĩ Vệ quốc, làm báo rất chăm chỉ và hết lòng, viết từng mục nhỏ, không bao giờ quản ngại.
Cùng nhóm với Trần Huyền Trân, Thâm Tâm, những năm trước cách mạng, song Nguyễn Bính lại có nét khác. Thơ Nguyễn Bính không có cái phẫn, mà hồn nhiên dễ dàng hơn nhiều.

Nhà em ở cuối kinh thành
Bên hồ Trúc Bạch nước xanh men chàm.

Đấy là mấy câu trong bài Gửi chị Trúc, những câu tự nhiên như lời buột ra đầu miệng, nhằm kể với người thân về tỉnh cảm sống của tác giả lúc ở Hà Nội. Đúng là cảnh sống của những thanh niên nghèo giữa kinh thành hoa lệ. Tuy vậy, “Chàng trai tầm thường trông lại quê quê” nay không lấy thế làm xấu hổ.
Nguyễn Bính không phải loại người học đòi, cũng không dễ có những mặc cảm như một số người khác ông vẫn giữ nếp sống như hồi ở các tỉnh nhỏ, ở làng quê. Nghĩa là chỉ biết những say mê của mình, những ý thích của mình, còn không ngượng nghịu về cái nghèo, cái hèn bao giờ. Hà Nội trong ông không gây ra một ngạc nhiên chấn động gì đáng kể, mà chỉ là nơi ông sống, làm việc, yêu đương như các nơi khác.
Cái nhìn của ông đối với Hà Nội nhiều khi thật thản nhiên, như câu thơ nọ.

Sáng nay sau một cơn mưa lớn
Hà Nội bừng lên dưới nắng vàng

Trong sáng tác cũng vậy, Nguyễn Bính cứ “hát những bài hát của mình” về chất thơ, trong khi Trần Huyền Trân “thật hạt” Hà Nội thì Nguyễn Bính rõ ra của chân quê: giống như chàng Exênhin, ông cũng lạc lên thành phố, song tâm hồn vẫn để ở cả mái đình, giếng nước, cái yếm lụa sồi và chỉ diễn tả cái đó mới hay.
Thơ Nguyễn Bính đương thời đã khá được ưa chuộng, theo Tô Hoài nhớ, thì đây là nhà thơ duy nhất sống được bằng nhuận bút (cố nhiên là chỉ sống nghèo); không phải vì thế mà Nguyễn Bính thành thị hoá. Nhà thơ chỉ lang thang ở đây, như có lúc, sẽ lang thang lên Phủ Lạng Thương, Bắc Giang và sau này lăn lóc với tận các tỉnh phía nam.
Bấy giờ, Hà Nội trong Nguyễn Bính chỉ còn mờ mờ ảo ảo, không rõ rệt. Đây là những câu thơ trong bài Một con sông lạnh:

Chưa say, em đã say gì
Chúng tôi còn uống còn nghe em đàn
Rưng rưng ánh nến hoa vàng
Đôi dây nức nở muôn ngàn nhớ thương
Đôi dây như thế đôi đường
Em ơi! Hà Nội là phương hướng nào

(trong tập Hương cố nhân)

Những năm gần cách mạng, trong cơn say phiêu lưu, Nguyễn Bính vào Huế, rồi vào Nam bộ, đi đến đâu cũng giữ hồn thơ chân quê và cách sống không mặc cảm của mình. Sau khi tham gia kháng chiến chống Pháp ở Nam Bộ, tập kết ra Bắc, trở lại Hà Nội, cũng không có chút đảo lộn gì lắm trong cách nhìn, cách viết, tuy bây giờ bạn bè của ông có đông hơn, không khí văn nghệ sôi nổi, khác hẳn trước kia. Cuối cùng, Nguyễn Bính từ giã Hà Nội cũng giản dị. Ông về Nam Định công tác, chỉ thỉnh thoảng mới lên Hà Nội có việc họp hành, sinh hoạt gì đấy. Trở lại quê hương ở ngoại thành Nam Định, ông có một nếp nhà ấm cúng. Sau thời gian “dan díu với kinh thành”, nay chàng Exênhin mới lại trở về với cái phần cội nguồn, chân chính của thơ mình!

Thâm Tâm và Trần Huyền Trân – Vương Trí Nhàn

Vài nét tiểu sử
Thâm Tâm Nguyễn Tuấn Trình (1917-1950) làm thơ, viết kịch, viết truyện, nổi tiếng với bài thơ Tống biệt hành. Tác phẩm: Thơ Thâm Tâm (1988).
Trần Huyền Trân (1913-1989), tác phẩm chính: Rau tần (1987).
Thơ của những kẻ “rừng đời lạc lối”

Nhu cầu thưởng thức nghệ thuật có lẽ là một nhu cầu kỳ lạ nhất của con người. Nó có thể chấp nhận mọi “mặt hàng” hết sức khác nhau, thậm chí trái ngược nhau. Nó cũng đa dạng như chính đời sống.

Những người mê tranh dân gian Đông Hồ (từ Đám cưới chuột, Đánh ghen, Hứng dừa đến các loại tranh lợn, tranh gà, Thầy đồ cóc…) có lẽ ít biết rằng thật ra các bức tranh này đều có tác giả. Chỉ hiềm một nỗi phần lớn những người đã vẽ nên chúng lại sống rất vụng. Trong cảnh vợ ốm, con đau thúc ép, người nghệ sĩ tài hoa phải cố vẽ lấy được vài bức tranh rồi mang bán thật nhanh, không còn thì giờ mà nghĩ ngợi xem tác phẩm ra sao, có xứng đáng với tên tuổi mình hay không. Trong đa số trường hợp, các ý đồ tốt đẹp đổ vỡ tan tành và chỉ để lại mấy mảnh vụn là những tác phẩm dang dở. Nhưng cũng đôi khi, trong cảnh thúc ép, ngòi bút trở nên xuất thần và tác phẩm thu được là một cái gì vượt lên bình thường, chắc chắn là lúc tỉnh táo bình tĩnh, người ta không làm nổi.

Cố nhiên loại nghệ sĩ tài tử vừa nói là sản phẩm của nền nếp sinh hoạt trung cổ, khi các thị trường nghệ thuật chưa hình thành và việc sáng tạo còn lẫn với các hoạt động kiếm sống khác. Có điều là ngay trong nước Việt Nam thời tiền chiến, không phải đã hết loại người kì lạ đó. Cả Thâm Tâm lẫn Trần Huyền Trân đều có cuộc đời riêng khá éo le kỳ cục. Mỗi khi nghĩ tới họ, trong đầu óc những người yêu thơ luôn luôn hiện lên một ám ảnh: đáng lẽ họ phải viết được nhiều hơn, đáng lẽ thơ của họ phải được xuất hiện trong những thi phẩm trang trọng và cuộc đời của họ phải sung sướng. Nhưng mọi chuyện lại cứ luôn luôn oái oăm hơn là ta vẫn tưởng và đôi lúc người yêu thơ chỉ còn có cách tự an ủi: biết đâu nhờ những long đong lật đật như thế mà họ lại viết được những vần thơ thật tuyệt.

Nghịch phách, cô đơn, giá buốt

Trong cuộc sống trôi dạt, khía cạnh đầu tiên thường thấy trong tiểu sử nhà thơ sống vụng về là một sự tản mạn. Tác phẩm của họ như con rơi, con vãi tản mát khắp nơi, chính họ cũng không nhớ hết là bản thân đã viết nên những thứ gì nữa. Và việc tập hợp để công bố thì chính các tác giả lại rất chểnh mảng. Sau mấy lần thất lạc, mãi tới 1987, bản thảo Rau tần của Trần Huyền Trân mới được in ra, nhưng là ở dạng một tập sách 48 trang, không có gáy, thơ đóng ghim, và một số bài xếp nối đuôi nhau khá chật chội. Trường hợp Thâm Tâm cũng bi đát không kém, cho đến nửa thế kỷ sau khi qua đời, nhiều bài thơ Thâm Tâm vẫn chưa được sưu tầm đầy đủ (chẳng hạn, trong số Văn nghệ đặc san tháng 4/1992 người ta lại đưa ra một bài mới). Tại sao có sự lơ đãng kéo dài đến vậy, lý do có thể tìm ngay ở quan niệm về thơ của từng tác giả. Với họ, thơ là một cái gì ngẫu nhiên xuất hiện. Lúc bạn bè gặp gỡ khề khà chén rượu hoặc khi một mình một bóng quẫn bách đau đớn thì vớ lấy bút để viết. Viết cho vơi những buồn vui chứa chất trong lòng. Thơ làm ra không cốt công bố, chứ đừng nói mang bán. Được vài người bạn thật tâm đắc hiểu cho đã cảm thấy được bù đắp hoàn toàn.

Rộng hơn câu chuyện quy trình sản xuất, thật ra ở đây có chuyện cốt cách con người, nhân tố quy định cả cách ứng xử của người làm thơ lẫn nội dung thơ và nhất là cái phần nội dung đã chuyển thành hình thức, là hơi thơ, giọng thơ. Trong khi vẫn khác hẳn nhau, như những phong cách riêng biệt, cả Thâm Tâm lẫn Trần Huyền Trân đều có một nét chung: cốt cách thi nhân cổ ở họ quá mạnh. Không phải ngẫu nhiên mà trong thơ họ, từ Hán Việt khá nhiều và được dùng khá nhuần nhuyễn. Hơn thế nữa, cái hơi hướng toát ra từ nhiều bài thơ cứ xui ta nhớ tới phần thơ biên tái trong thơ Đường. Đặt bên cạnh những Thế Lữ, Xuân Diệu, cái tôi của họ không phải không mạnh bằng, nhưng định hướng của cái tôi đó thì hoàn toàn khác hẳn. ở một người như Xuân Diệu, đó là cái tôi ham sống, muốn sống thật đã đầy, và chỉ sợ người ta quên mình trong bữa tiệc lớn của cuộc đời. Ngược lại, cái tôi ở Thâm Tâm, Trần Huyền Trân là cái tôi của kẻ đi ngược gió (tên một bài thơ của Thâm Tâm), không chịu hùa theo đời.
– Hay gì bà hỏi đến tôi
Khóc thì trái thói mà cười vô duyên

(Trần Huyền Trân, Thưa bà)
– Lòng ai bầm tím, ai buồn tối
Cũng tại rừng đời lạc lối ra

(Thâm Tâm, Hoa gạo)
Ngậm lời tráng khí, chim bằng ốm
Chuyện lúc thương tâm gái điếm già
Gió thốc hàng hiên lười viễn mộng
Mưa rào mặt cát gợi ly ca
Phiếm du mấy chốc đời như mộng
Ném chén cười cho đã mắt ta

(Thâm Tâm, Can trường hành) Biết rằng khác đời là rất khổ, nhưng không tìm được cách để hòa hợp, họ đành bằng lòng với cô đơn giá buốt, và thỉnh thoảng lắm, tìm thấy chút hơi ấm ở những người cùng cảnh ngộ (Thâm Tâm, Ngược gió; Trần Huyền Trân, Với Tản Đà, Lưu biệt – tặng Lê Văn Trương, Sầu chung – tặng Quách Thị Hồ). Sự ngang tàng trái khoáy ở đây không phải là vay mượn, là bị tố lên, mà hiện ra như một cái gì kìm giữ không nổi phải buột ra, òa ra vỡ ra, nên lại có vẻ cao sang riêng, và thường khi cả sự duyên dáng riêng nữa.

Quả trái mùa độc đáo

Cũng như mọi ngành nghề khác, con đường phát triển của những người làm công việc sáng tạo ở nước ta đầu thế kỷ này là con đường chuyên nghiệp hóa. Nhưng nghịch lý của nghề văn là ở chỗ trong khi buộc người ta phải làm hàng đều đều, nó lại vẫn yêu cầu mỗi nhà văn nhà thơ phải giữ được vẻ tươi nguyên trong xúc cảm, và càng tỏ ra ít làm nghề càng tốt. Chính ở chỗ này một số ngòi bút gọi là chuyên nghiệp trong đời sống văn học tiền chiến bộc lộ sự non yếu của mình. Vì mải làm hàng – bảo đảm mặt hàng, để rồi bảo đảm thu nhập – một số đâm ra nhênh nhang bôi bác, hoặc gò gẫm cố ý, tự lặp lại trông thấy mà không sao khắc phục nổi. Nhìn vào một “ông lớn” có thời rất sang trọng như Lê Văn Trương, một thi sĩ bẩm sinh như Lưu Trọng Lư, thậm chí một người vừa có tâm hồn, vừa chịu học hỏi như Xuân Diệu, người sành điệu đều mang máng nhận ra có phần như thế. Bấy giờ, nếu được tiếp xúc với những giọng thơ như Trần Huyền Trân, như Thâm Tâm, như Quang Dũng, người ta sẽ có cảm giác bắt gặp một cái gì thuần khiết, trong lành – đôi khi, một thứ quả trái mùa lạ lẫm – và hiểu ra rằng cả một đời thơ người này cũng không thay thế nổi một hai bài hay của người kia. Không ai thua được trong trường hợp này, cái chính là một nhu cầu đa dạng đã thắng thế.

Nguồn: Thâm Tâm và Trần Huyền Trân

Một số tác phẩm thơ của Nguyễn Bính

Chân dung Nguyễn Bính

Lỡ bước sang ngang

I
“Em ơi em ở lại nhà
Vườn dâu em đốn, mẹ già em thương
Mẹ già một nắng hai sương
Chị đi một bước trăm đường xót xa.
Cậy em, em ở lại nhà
Vườn dâu em đốn, mẹ già em thương
Hôm nay xác pháo đầy đường
Ngày mai khói pháo còn vương khắp làng
Chuyến này chị bước sang ngang
Là tan vỡ giấc mộng vàng từ nay .
Rượu hồng em uống cho say,
Vui cùng chị một vài giây cuối cùng.
(Rồi đây sóng gió ngang sông,
Đầy thuyền hận, chị lo không tới bờ)
Miếu thiêng vụng kén người thờ,
Nhà hương khói lạnh, chị nhờ cậy em.
Đêm nay là trắng ba đêm,
Chị thương chị, kiếp con chim lìa đàn.
Một vai gánh vác giang san…
Một vai nữa gánh muôn vàng nhớ thương.
Mắt quầng, tóc rối tơ vương
Em còn cho chị lược gương làm gì!
Một lần này bước ra đi
Là không hẹn một lần về nữa đâu,
Cách mấy mươi con sông sâu,
Và trăm nghìn vạn nhịp cầu chênh vênh
Cũng là thôi… cũng là đành…
Sang ngang lỡ buớc riêng mình chị sao?
Tuổi son nhạt thắm phai đào,
Đầy thuyền hận có biết bao nhiêu người!
Em đừng khóc nữa, em ơi!
Dẫu sao thì sự đã rồi nghe em!
Một đi bảy nổi ba chìm,
Trăm cay nghìn đắng, con tim héo dần
Dù em thương chị mười phần,
Cũng không ngăn nỗi một lần chị đi.”
Chị tôi nước mắt đầm đìa,
Chào hai họ để đi về nhà ai…
Mẹ trông theo, mẹ thở dài,
Dây pháo đỏ bỗng vang trời nổ ran.
Tôi ra đứng ở đầu làng
Ngùi trông theo chị khuất ngàn dâu thưa.
II
Giời mưa ướt áo làm gì?
Năm mười bẩy tuổi chị đi lấy chồng.
Người ta: pháo đỏ rượu hồng
Mà trên hồn chị: một vòng hoa tang.
Lần đầu chị bước sang ngang,
Tuổi son sông nước đò giang chưa tường.
Ở nhà em nhớ mẹ thương
Ba gian trống, một mảnh vườn xác xơ.
Mẹ ngồi bên cửi se tơ
Thời thường nhắc: “Chị mày giờ ra sao?”
“…Chị bây giờ”… nói thế nào?
Bướm tiên khi đã lạc vào vườn hoang.
Chị từ lỡ bước sang ngang
Trời dông bão, giữa tràng giang, lật thuyền.
Xuôi dòng nước chảy liên miên,
Đưa thân thế chị tới miền đau thương,
Mười năm gối hận bên giường,
Mười năm nước mắt bữa thường thay canh.
Mười năm đưa đám một mình,
Đào sâu chôn chặt mối tình đầu tiên .
Mười năm lòng lạnh như tiền,
Tim đi hết máu, cái duyên không về.
“Nhưng em ơi một đêm hè,
Hoa xoan nở, xác con ve hoàn hồn.
Dừng chân bên bến sông buồn,
Nhà nghệ sĩ tưởng đò còn chuyến sang.
Đoái thương duyên chị lỡ làng
Đoái thương phận chị dở dang những ngàỵ
Rồi… rồi… chị nói sao đây!
Em ơi, nói nhỏ câu này với em…
…Thế rồi máu trở về tim
Duyên làm lành chị duyên tìm về môi.
Chị nay lòng ấm lại rồi,
Mối tình chết, đã có người hồi sinh.
Chị từ dan díu với tình,
Đời tươi như buổi bình minh nạm vàng.”
Tim ai khắc một chữ “nàng”
Mà tim chị một chữ “chàng” khắc theo.
Nhưng yêu chỉ để mà yêu,
Chị còn dám ước một điều gì hơn.
Một lần hai lỡ keo sơn,
Mong gì gắn lại phím đàn ngang cung.
Rồi đêm kia, lệ ròng ròng
Tiễn đưa người ấy sang sông chị về.
Tháng ngày qua cửa buồn the,
Chị ngồi nhặt cánh hoa lê cuối mùa.
III
Úp mặt vào hai bàn tay,
Chị tôi khóc suốt một ngày một đêm.
“Đã đành máu trở về tim,
Nhưng không ngăn nổi cánh chim giang hồ.
Người đi xây dựng cơ đồ
Chị về trồng cỏ nấm mồ thanh xuân.
Người đi khoác áo phong trần,
Chị về may áo liệm dần nhớ thương.
Hồn trinh ôm chặt chân giường,
Đã cùng chị khóc đoạn trường thơ ngây.
Năm xưa đêm ấy giường này,
Nghiến răng… nhắm mắt… chau mày… cực chưa!
Thế là tàn một giấc mơ,
Thế là cả một bài thơ não nùng!
Tuổi son má đỏ môi hồng,
Bước chân về đến nhà chồng là thôi!
Đêm qua mưa gió đầy giời,
Trong hồn chị, có một người đi qua…
Em về thương lấy mẹ già,
Đừng mong ngóng chị nữa mà uổng công.
Chị giờ sống cũng như không
Coi như chị đã sang sông đắm đò.”

Ghen

Cô nhân tình bé của tôi ơi!
Tôi muốn môi cô chỉ mỉm cười
Những lúc có tôi và mắt chỉ
Nhìn tôi những lúc tôi xa xôi
Tôi muốn cô đừng nghĩ đến ai
Đừng hôn dù thấy đóa hoa tươi
Đừng ôm gối chiếc đêm nay ngủ
Đừng tắm chiều nay bể lắm người
Tôi muốn mùi thơm của nước hoa
Mà cô thường xức chẳng bay xa
Chẳng làm ngây ngất người qua lại
Dẫu chỉ qua đường, khách lại qua
Tôi muốn những đêm đông giá lạnh
Chiêm bao đừng lẩn khuất bên cô
Bằng không tôi muốn cô đừng gặp
Một trẻ trai nào trong giấc mơ
Tôi muốn làn hơi cô thở nhẹ
Đừng làm ẩm áo khách chưa quen
Chân cô in vết trên đường bụi
Chẳng bước chân nào được dẫm lên
Nghĩa là ghen quá đấy mà thôi!
Thế nghĩa là yêu quá mất rồi!
Và nghĩa là cô là tất cả
Cô là tất cả của riêng tôi!

Nguyễn Bính và vợ

Đêm sao sáng

Đêm hiện dần lên những chấm sao
Lòng trời đương thấp bỗng nhiên cao
Sông Ngân đã tỏ đôi bờ lạnh
Ai biết cầu Ô ở chỗ nào
Tìm mũ Thần Nông chẳng thấy đâu
Thấy con Vịt lội giữa dòng sâu
Sao Hôm như mắt em ngày ấy
Rớm lệ nhìn tôi bước xuống tàu
Chòm sao Bắc Đẩu sáng tinh khôi
Lộng lẫy uy nghi một góc trời
Em ở bên kia bờ vĩ tuyến
Nhìn sao thao thức mấy năm rồi
Sao đặc trời cao sáng suốt đêm
Sao đêm chung sáng chẳng chia miền
Trời còn có bữa sao quên mọc
Tôi chẳng đêm nào chẳng nhớ em.

Em với anh

Lòng em như quán bán hàng
Dừng chân cho khách qua đàng mà thôi.
Lòng anh như mảng bè trôi
Chỉ về một bến chỉ xuôi một chiều.
Lòng anh như biển sóng cồn
Chứa muôn con nước nghìn con sông dài
Lòng em như thể lá khoai
Đổ bao nhiêu nước ra ngoài bấy nhiêu
Lòng anh như hoa hướng dương
Trăm nghìn đổ lại một phương mặt trời.
Lòng em như cái con thoi
Thay bao nhiêu suốt mà thoi vẫn lành!

Người hàng xóm

Nhà nàng ở cạnh nhà tôi
Cách nhau cái giậu mùng tơi xanh rờn
Hai người sống giữa cô đơn
Nàng như cũng có nỗi buồn giống tôi.
Giá đừng có giậu mùng tơi
Thế nào tôi cũng sang chơi thăm nàng
Tôi chiêm bao rất nhẹ nhàng
Có con bướm trắng thường sang bên này…
Bướm ơi, bướm hãy vào đây
Cho tôi hỏi nhỏ câu này chút thôi
Chả bao giờ thấy nàng cười
Nàng hong tơ ướt ra ngoài mái hiên
Mắt nàng đăm đắm trông lên
Con bươm bướm trắng về bên ấy rồi
Bỗng dưng tôi thấy bồi hồi
Tôi buồn tự hỏi: hay tôi yêu nàng?
Không, từ ân ái nhỡ nhàng
Tình tôi than lạnh tro tàn làm sao!
Tơ hong nàng chả cất vào
Con bươm bướm trắng hôm nào cũng sang.
Mấy hôm nay chẳng thấy nàng
Giá tôi cũng có tơ vàng mà hong
Cái gì như thể nhớ mong?
Nhớ nàng? Không, quyết là không nhớ nàng!
Vâng, từ ân ái nhỡ nhàng
Lòng tôi riêng nhớ bạn vàng ngày xưa.
Tầm tầm giời cứ đổ mưa
Hết hôm nay nữa là vừa bốn hôm!
Cô đơn buồn lại thêm buồn
Tạnh mưa bươm bướm biết còn sang chơi ?
Hôm nay mưa đã tạnh rồi
Tơ không hong nữa, bướm lười không sang
Bên hiên vẫn vắng bóng nàng
Rưng rưng tôi gục xuống bàn… rưng rưng
Nhớ con bướm trắng lạ lùng
Nhớ tơ vàng nữa, nhưng không nhớ nàng
Hỡi ơi bướm trắng tơ vàng
Mau về mà chịu tang nàng đi thôi
Đêm qua nàng đã chết rồi
Nghẹn ngào tôi khóc, quả tôi yêu nàng
Hồn trinh còn ở trần gian
Nhập về bướm trắng mà sang bên này.

Tương tư

Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông,
Một người chín nhớ mười mong một người.
Gió mưa là bệnh của trời,
Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng.
Hai thôn chung lại một làng,
Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này?
Ngày qua ngày lại qua ngày,
Lá xanh nhuộm đỏ thành cây lá vàng.
Bảo rằng cách trở đò giang,
Không sang là chẳng đường sang đã đành;
Nhưng đây cách một đầu đình,
Có xa xôi mấy mà tình xa xôi.
Tương tư thức mấy đêm rồi,
Biết cho ai biết, ai người biết cho.
Bao giờ bến mới gặp đò,
Hoa khuê các, bướm giang hồ gặp nhau.
Nhà em có một giàn giầu,
Nhà anh có một hàng cau liên phòng.
Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông,
Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?

Chân quê

Hôm qua em đi tỉnh về
Đợi em ở mãi con đê đầu làng
Khăn nhung quần lĩnh rộn ràng
Áo cài khuy bấm, em làm khổ tôi!
Nào đâu cái yếm lụa sồi?
Cái dây lưng đũi nhuộm hồi sang xuân?
Nào đâu cái áo tứ thân?
Cái khăn mỏ quạ, cái quần nái đen?
Nói ra sợ mất lòng em
Van em em hãy giữ nguyên quê mùa
Như hôm em đi lễ chùa
Cứ ăn mặc thế cho vừa lòng anh!
Hoa chanh nở giữa vườn chanh
Thầy u mình với chúng mình chân quê
Hôm qua em đi tỉnh về
Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều.

Mưa xuân

Em là con gái trong khung cửi
Dệt lụa quanh năm với mẹ già
Lòng trẻ còn như cây luạ trắng
Mẹ già chưa bán chợ làng xa
Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay
Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy
Hội chèo làng Ðặng đi ngang ngõ
Mẹ bảo: “Thôn Ðoài hát tối nay”
Lòng thấy giăng tơ một mối tình
Em ngừng thoi lại giữa tay xinh
Hình như hai má em bừng đỏ
Có lẽ là em nghĩ đến anh
Bốn bên hàng xóm đã lên đèn
Em ngửa bàn tay trước mái hiên
Mưa chấm bàn tay từng chấm lạnh
Thế nào anh ấy chả sang xem!
Em xin phép mẹ, vội vàng đi
Mẹ bảo xem về kể mẹ nghe
Mưa bụi nên em không ướt áo
Thôn Ðoài cách có một thôi đê
Thôn Ðoài vào đám hát thâu đêm
Em mải tìm anh chả thiết xem
Chắc hẳn đêm nay giường cửi lạnh
Thoi ngà nằm nhớ ngón tay em
Chờ mãi anh sang anh chẳng sang
Thế mà hôm nọ hát bên làng
Năm tao bảy tuyết anh hò hẹn
Ðể cả mùa xuân cũng nhỡ nhàng!
Mình em lầm lũi trên đường về
Có ngắn gì đâu môt dải đê!
Áo mỏng che đầu mưa nặng hạt
Lạnh lùng thêm tủi với canh khuya
Bữa ấy mưa xuân đã ngại bay
Hoa xoan đã nát dưới chân giày
Hội chèo làng Ðặng về ngang ngõ
Mẹ bảo: “Mùa xuân đã cạn ngày”
Anh ạ! Mùa xuân đã cạn ngày!
Bao giờ em mới gặp anh đây?
Bao giờ hội Ðặng đi ngang ngõ
Ðể mẹ em rằng “hát tối nay”?

Cô lái đò

Xuân đã đem mong nhớ trở về
Lòng cô lái ở bên sông kia.
Cô hồi tưởng lại ba xuân trước,
Trên bến cùng ai đã nặng thề.
Nhưng rồi người khách tình xuân ấy,
Đi biệt không về với bến sông.
Đã mấy lần xuân trôi chảy mãi
Mấy lần cô lái mỏi mòn trông.
Xuân này đến nữa, đã ba xuân
Đốm lửa tình duyên tắt nguội dần.
Chẳng lẽ ôm lòng chờ đợi mãi
Cô đành lỗi bước với tình quân.
Bỏ thuyền, bỏ lái bỏ dòng sông,
Cô lái đò kia đi lấy chồng.
Vắng bóng cô em từ dạo ấy,
Để buồn cho những khách sang sông.

Những bóng người trên sân ga

Những cuộc chia lìa khởi tự đây
Cây đàn sum họp đứt từng dây
Những đời phiêu bạt thân đơn chiếc
Lần lượt theo nhau suốt tối ngày.
Có lần tôi thấy hai cô bé
Sát má vào nhau khóc sụt sùi
Hai bóng chung lưng thành một bóng
“Đường về nhà chị chắc xa xôi?”
Có lần tôi thấy một người yêu
Tiễn một người yêu một buổi chiều
Ở một ga nào xa vắng lắm
Họ cầm tay họ bóng xiêu xiêu.
Hai người bạn cũ tiễn chân nhau
Kẻ ở trên toa kẻ dưới tàu
Họ giục nhau về ba bốn bận
Bóng nhòa trong bóng tối từ lâu.
Có lần tôi thấy vợ chồng ai
Thèn thẹn chia tay bóng chạy dài
Chị mở khăn giầu, anh thắt lại:
“Mình về nuôi lấy mẹ, mình ơi!”
Có lần tôi thấy một bà già
Đưa tiễn con đi trấn ải xa
Tàu chạy lâu rồi bà vẫn đứng
Lưng còng đổ bóng xuống sân ga
Có lần tôi thấy một người đi
Chẳng biết về đâu nghĩ ngợi gì
Chân bước hững hờ theo bóng lẻ
Một mình làm cả cuộc phân ly.
Những chiếc khăn màu thổn thức bay
Những bàn tay vẫy những bàn tay
Những đôi mắt ướt nhìn đôi mắt,
Buồn ở đâu hơn ở chốn này?
Hà Nội, 1937
(Theo Tuyển tập Nguyễn Bính, NXB Văn Học, 1986)

Cánh buồm nâu

Hôm nay dưới bến xuôi đò
Thương nhau qua cửa tò vò nhìn nhau
Anh đi đấy, anh về đâu ?
Cánh buồm nâu, cánh buồm nâu, cánh buồm…

Nguyễn Bính ở miền Nam

Hành phương Nam

Đôi ta lưu lạc phương Nam này,
Trải mấy mùa qua én nhạn bay.
Xuân đến khắp trời hoa rượu nở;
Riêng ta với ngươi buồn vậy thay.
Lòng đắng sá gì muôn hớp rượu,
Mà không uống cạn mà không say ?
Lời thề buổi ấy cầu Tư Mã[1],
Mà áo khinh cừu[2] không ai may.
Người giam chí lớn vòng cơm áo,
Ta trói chân vào nợ nước mây.
Ai biết thương nhau từ buổi trước,
Bây giờ gặp nhau trong phút giây.
Nợ tình chưa trả tròn một món,
Sòng đời thua đến trắng hai tay.
Quê nhà xa lắc xa lơ đó,
Ngoảnh lại tha hồ mây trắng bay.
Tâm giao mấy kẻ thì phương Bắc,
Ly tán vì cơn gió bụi này.
Ngươi đi buồn lắm mà không khóc,
Mà vẫn cười qua chén rượu đầy.
Vẫn dám tiêu hoang cho đến hết,
Ngày mai ra sao rồi hãy hay.
Ngày mai sáng lạn màu non nước,
Cốt nhất làm sao tự buổi nay.
Rẫy ruồng châu ngọc thù son phấn,
Mắt đỏ lên rồi cứ chết ngay.
Hỡi ơi! Nhiếp Chính[3] mà băm mặt,
Giữa chợ ai người khóc nhận thây.
Kinh Kha[4] giữa chợ sầu nghiêng chén,
Ai kẻ dâng vàng kẻ biếu tay?
Mơ gì ấp Tiết thiêu văn tự[5],
Giày cỏ, gươm cùn ta đi đây.
Ta đi nhưng biết về đâu chứ ?
Đã dấy phong yên lộng bốn trời.
Thà cứ ở đây ngồi giữa chợ,
Uống say mà gọi thế nhân ơi!
Thế nhân mắt trắng như ngân nhũ.
Ta với nhà ngươi cả tiếng cười.
Dằn chén hất cao đầu cỏ dại,
Hát rằng phương Nam ta với ngươi.
Ngươi ơi! Ngươi ơi! Hề ngươi ơi!
Ngươi ơi! Ngươi ơi! Hề ngươi ơi!
Ngươi sang bên ấy sao mà lạnh,
Nhịp trúc ta về lạnh mấy mươi.

Chú thích

* Tư Mã Tương Như nhà Hán rời Thành Đô vào kinh đô Lạc Dương, khi đi qua cầu Thăng Tiên đã đề lên thành cầu rằng: “Bất thừa cao xa tứ mã, bất phục quá thử kiều” (Không cưỡi xe cao bốn ngựa, không qua lại cầu này). Cây cầu đó được người sau gọi là cầu Tư Mã.

* Khi Tương Như thành danh, được Lương vương trọng vọng, ban cho quan tước, còn tặng một chiếc áo cừu túc sương. Khi Lương vương mất, Tương Như về quê, gặp Trác Văn Quân là con gái một tay cự phú trong vùng, hai người cùng nhau trốn đi. Tương Như nghèo khó, bèn đem cầm chiếc áo cừu lấy rượu cùng Văn Quân đối ẩm. Sau hai người mở quán nấu rượu, vợ nhóm lò nấu rượu, chồng rửa chén bát.

* Một người anh hùng ẩn thân đời Chiến Quốc. Có người biết chàng, tìm đến xin chàng trả hộ mối thù với Hiệp Lũy, tướng quốc nước Hàn, phi anh hùng không ai làm nổi. Người đó cung phụng mẹ già của Nhiếp Chính rất tử tế như con cái trong nhà, đến lúc chết lại lo ma chay phận sự. Cảm cái ơn đó, lại không còn vướng bận, Nhiếp Chính đến nước Hàn, vào phủ tướng quốc giữa thiên binh vạn mã, đâm chết Hiệp Luỹ, chống cự với ba quân rồi rạch nát mặt, tự vẫn mà chết. Vua nước Hàn đem thây chàng ra giữa chợ trao giải cho ai tìm được tung tích. Chị gái Nhiếp Chính đã đi lấy chồng, nghe tin tìm đến ôm xác em mình khóc thảm thiết, rồi nói với những người xung quanh đại ý rằng: Em tôi là Nhiếp Chính, vì sợ liên luỵ đến tôi và người ơn của nó nên mới phải rạch mặt để không nhận ra mà chết thế này, nay tôi lại tiếc thân để người đời không ai biết đến nó thì còn mặt mũi nào nữa. Nói rồi cũng tự vẫn chết bên xác em. Nhờ đó, tên tuổi của Nhiếp Chính mới lưu danh sử sách như một anh hùng. Chị của Nhiếp Chính cũng là một nữ nhân anh liệt.

* Kiếm khách thời Chiến Quốc, được thái tử Đan của nước Yên thuê hành thích Tần Thủy Hoàng. Khi tiễn biệt nhau qua sông vào đất giặc, Kinh Kha ngậm ngùi ngâm lên:
Gió đìu hiu chừ sông Dịch lạnh ghê
Tráng sĩ một đi chừ không bao giờ về.
Việc hành thích bất thành, Kinh Kha bị thủ hạ của Tần Thủy Hoàng giết chết.

* Phùng Hoan, môn khách của Mạnh Thường Quân lãnh nhiệm vụ đi đòi nợ, khi đến ấp Tiết gọi các con nợ lại và tuyên bố đốt hết văn tự nợ. Sau về nói với Mạnh Thường Quân là đã lấy tiền nợ ấy mua “Đức” hết rồi! Sau Mạnh Thường Quân bị vua Tề phế, khi đi ngang qua ấp Tiết thì toàn dân ra đón linh đình, nhờ thế được vua Tề thu dụng lại.

Mối tình thơ xóm Áo bào gốc liễu – Bạch Y thư sinh

Trong cuốn Thi Nhân Việt Nam hai ông Hoài Thanh và Hoài Chân đã xếp các nhà văn, nhà thơ thành từng xóm như:

– Xóm Sông Thương thì có Bàng Bá Lân và Anh Thơ ….

– Xóm Tự Lực thì có Thế Lữ, Xuân Diệu và Huy Cận ….

– Xóm Phương Ðông thì có Lưu Trọng Lư và Thái Can …

– Xóm Huế thì có Phan Văn Dật, Nam Trân, Nguyễn Ðình Thư …

– Xóm Hà Tiên thì có Ðông Hồ, Mộng Tuyết….

– Xóm Bình Ðịnh thì có Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên…

Sau nầy ông Hoài Việt đề nghị bổ túc thêm một nhóm nữa đó là:

– Xóm Áo Bào Gốc Liễu thì có Trần Huyền Trân, Thâm Tâm, Nguyễn Bính ….

Nói đến một xóm lẽ tất nhiên phải có nhiều người, nhưng ở đây chỉ tiêu biểu một vài người được coi là xông xáo nổi bật trong xóm mà thôi. Riêng trong Xóm Áo Bào Gốc Liễu có ba người nổi bật, nhưng ở đây chúng tôi xin được đề cập đến hai người: Thâm Tâm và Nguyễn Bính.

A- Thâm Tâm

1- Mấy Dòng Tiểu Sử

Thâm Tâm tên thật là Nguyễn Tuấn Trình. Sinh ngày 12-5-1917 tại thị xã Hải Dương(nay thuộc tỉnh Hải Hưng) trong một gia đình nhà nho nghèo. Sau khi học hết tiểu học ông bắt đầu viết báo và vẽ tranh. Ông viết rất nhiều thể loại: Thơ, truyện, kịch ..v..v.. và vẽ tranh và viết cho loại sách trẻ em. Ngoài tài viết văn và vẽ tranh cho trẻ em, ông còn biết làm đồ gốm. Ông tham gia trong công cuộc kháng chiến chống Pháp vào những năm 1945 và mất vào mùa Thu Ðông năm 1950 sau một cơn bệnh nặng.

2- Ðời Như Thơ

Ông sanh và trưởng thành trong một gia đình Nho Giáo, vì thế sau khi học xong tiểu học là phải ra đời để lo làm sinh sống. Cũng vì thế mà hoàn cảnh tạo cho ông có một ý chí kiên cường tự lập, nên chúng ta cũng không ngạc nhiên khi biết ông không những là một nhà thơ, một họa sĩ, mà còn là một người giỏi về đồ gốm:

– Sinh ta, cha ném bút rồi

Rừng nho tàn rụng cho đời sang xuân,

Nuôi ta mẹ héo từng năm

Vắt bầu sữa cạn tê chân máu gầy

Dạy ta ba bảy ông thầy

Gươm dài sách rộng biển đầy núi vơi

Nhà ta cầm đợ tay người

Kép bông đâu áo, ngọt bùi đâu cơm?

(Thâm Tâm- Tráng Ca)

Cũng vì  hoàn cảnh gia đình nên ông xa nhà rất sớm. Trong cuộc đời đắng cay lừa lọc tạo cho ông một ý chí kiên cường đã vươn lên:

– Chữ nhân sáng rực sao trời

Ðường xa rộng mở chân người bước xa

Bọn ta một lớp lìa nhà

Cháo hàng cơm chợ, ngồi ca lúa đồng.

(Thâm Tâm – Tráng Ca)

Từ khi theo gia đình chuyển lên Hà Nội sống bằng nghề viết văn viết báo. Nơi đây tại Phố Bạch Mai ông đã gặp Nguyễn Bính, Trần Huyền Trân và hình thành nhóm Tam Anh:

– Thăng Long đất lớn chí tung hoành

Bàng bạc gươm hồ ánh mắt xanh

Một lứa chung tình từ tứ chiến

Hội nhau vầy một tiệc quần anh

(Thâm Tâm – Vọng Nhân Hành)

Sau đó ông cùng với Trần Huyền Trân và Phạm Quang Hòa ba người hợp tác cho ra một tờ báo:

– Mày gươm nét mác chữ nhân già

Hàm bành hình đồi, lưng cỗi đa

Tay yếu đang cùng tay mạnh dắt

Chưa ngất men trời hả rượu cha

Rau đất cá sông gào chẳng đủ

Nổi bùng giữa tiệc trận phong ba

Rằng: Ðương gió bụi thì tơi tả

Thiên hạ phải dùng thơ chúng ta.

(Thâm Tâm – Vọng Nhân hành)

Tờ báo Bắc Hà do Phạm Quang Hòa cung cấp tiền bạc, còn Thâm Tâm và Trần Huyền Trân chịu trách nhiệm về bài vở được mọi người hưởng ứng. Tuy nhiên báo chỉ ra được 3, 4 số thì hết tiền. Thu tiền báo ở các đại lý về không đủ trả tiền giấy, tiền in. Thế là tờ báo phải dẹp tiệm:

– Thơ ngâm giọng dở thời chưa thuận

Tan tiệc quần anh, người nuốt giận

Chim nhạn chim hồng rét mướt bay

Vuốt cọp, chân voi còn lận đận

Thằng thí cho nhàm sức võ sinh

Thằng bó văn chương đôi gối hận

Thằng thư trói buộc, thằng giã quê

Thằng phấn son nhơ … chửa một về

(Thâm Tâm – Vọng Nhân Hành)

Cuộc thất bại nầy không phải chỉ có mỗi một Thâm Tâm đau khổ mà Trần Huyền Trân cũng ray rứt không kém:

– Tối om kia vận chúng mình

Trai lành bỏ cỗi, gái trinh bỏ già

Mật ngươi nào khác gan ta

Tưới bao nước mắt mới ra nụ cười

Nằm queo ngó lững chim giời

Tuổi xuân thù tạc xế đời vào thu

Quê hương chìm trong khói lửa, dưới gót dày xâm lăng của quân đội viễn chinh Pháp, chúng nhẫn tâm dẫm nát quê hương yêu dấu Việt Nam, và đó đã là động cơ thúc đẫy người con trai thời loạn phải lên đường đi cứu nước:

– Ðời tươi như bát nước đầy

Vỡ tan một miếng dưới giầy xâm lăng

Cắn chặt hàm răng

Bậm môi, nghiến lợi, già căn mặt già

Vài mươi ông lão giữ nhà

Thùng lùng dao bảy, đinh ba gối đầu

Ðêm nay thức giấc thương đau

Vụt nghe khốc dạ mấy câu rợn người

Cái gì đấy xóm làng ơi

Ðội quân biệt động xa xôi mới về!

(Thâm Tâm – CămThù)

Về sau ông đi làm cách mạng, trong công cuộc chiến chống Pháp ông đã tham gia vào tờ Tiên Phong, cơ quan hội văn nghệ Việt Nam và làm thơ ký toà soạn tờ Vệ quốc Quân của quân đội:

– Trời hỡi mai nầy tôi phải đi

Thơ nầy chẳng đọc cho ai nghe

Ðời nhiều nhưng có dăm người bạn

Thì viễn ly không có đường về.

(Thâm Tâm – Ngược Gió)

Còn gì chua xót hơn khi ra đi:

– Mà đọc thơ già tiển trẻ đi

Càng nghe trầm giọng dạ càng se

Ngày mai ngược gió tôi xin ngược

Ai có quan tâm gọi trở về.

(Thâm Tâm – Ngược Gió)

Ra đi để làm tròn sứ mệnh của người con trai thời loạn, mong một ngày giặc tan như khói súng để trở về đoàn tụ dưới mái ấm của gia đình:

– Sớm dậy thương nhân lắng gió lên

Ðể phờ mái tóc, nhắc cương yên

Bàng hoàng khiến ngựa, người mơ ngỡ

Một cổ thanh bình trong sáng êm.

(Thâm Tâm- Mơ Thuở Thanh Bình)

Nhưng đó chỉ là giấc mơ, còn hiện thực vẫn là hiện thực:

– Chợt bỗng đồn binh rộn tiếng kèn

Giật mình khách nhớ một đôi đêm

Hiệu còi phòng động nghe kinh hoảng

A! thuở trăm thành gọi lính lên.

Tai hại bao nhiêu sự thực đời

Trừng lên, dập hết mộng! Như người

Tưởng yên tĩnh sống trong khung cổ

Vụt tiếng kèn vang nhắc … hiện thời

(Thâm Tâm – Mơ Thuở Thanh Bình)

Trong thời chinh chiến biết bao nhiêu người con trai ra đi mà không trở lại. Trước tình cảnh đau thương đó làm sao khỏi chạnh lòng, vì thế nhà thơ đã khóc cho tuổi trẻ mà cũng như khóc cho chính mình:

– Hiên vẩn vơ bay mạng nhện tơ

Hồn thương lững thững ẩm như sương

Ngoài xa đôi tiếng rao đêm vắng

Rung cả mây trời cả ý thơ.

(Thâm Tâm – Không Ðề)

Hoặc là:

– Mả lạnh không hoa, hết cả hương

Hành nhân lạnh nhạt thiếu lòng thương

Dăm người tuổi tác qua thăm viếng

Một buổi rồi quên mất độ đường

(Thâm Tâm – Chết)

Và nhà thơ cũng đã cầu nguyện:

– Biết mấy đời trai trong góa bụa

Ðêm ròng đứng thắp mẩu tâm hương

Tro tàn có đốt không hồng nữa

Thắt lạnh bên lòng nỗi hận thương.

(Thâm Tâm- Không Ðề)

3- Về bài Tống Biệt Hành

Thâm Tâm viết không nhiều, cả đời thơ chọn lại chưa quá 20 bài. Nhưng nếu chọn mười bài thơ hay của giai đoạn thơ mới, trong số ấy chắc chắn có bài Tống Biệt Hành. Bài thơ mang một âm hưởng của cổ xưa trong cách diễn đạt. Nhưng tình cảm của nó lại là tình cảm đương thời. Nội dung của bài Tống Biệt Hành cho chúng ta hình dung được tâm trạng của nhà thơ lúc chia tay với gia đình, với người vợ trẻ để lên đường vào một buổi chiều, tuy vậy trước cảnh kẻ ở người đi tâm sự ai cũng buồn, nhất là tâm sự lúc chia tay. Cho dù không phải trời tối, nhưng tâm sự người vợ trẻ buồn thì chắc chắn cảnh cũng không vui:

– Ðưa người ta không đưa sang

Sao nghe tiếng sóng ở trong lòng

Bóng chiều không thắm không vàng vọt

Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong.

(Thâm Tâm – Tống Biệt Hành)

Ngày ra đi để thỏa chí nam nhi, nên khi công chưa thành, danh chưa toại thì quyết định sẽ không bao giờ trở lại:

– Ly khách! ly khách! Con đường nhỏ

Chí lớn chưa về bàn tay không

Thì không bao giờ nói trở lại

Ba năm mẹ già cũng đừng mong.

(Thâm Tâm -Tống Biệt Hành)

Và rồi:

– Ta biết người buồn chiều hôm trước

Bây giờ mùa hạ sen nở nốt

Một chị, hai chị cùng như sen

Khuyên nốt em trai dòng lệ sót.

(Thâm Tâm -Tống Biệt Hành)

Ðoạn thơ trên tác giả cho chúng ta biết ông còn một bà mẹ già hai người chị và một người em. Và tác giả là người con trai duy nhất trong gia đình. Người ra đi có vẻ hăng hái lắm, thế nhưng sự thật ông ta rất buồn, buồn từ chiều hôm trước, buồn cả sáng nay. Ông buồn với chị, mà hai chị khóc cũng đã nhiều rồi, nhưng không muốn vì tình gia đình mà làm cản trở chí nam nhi, cho nên các chị đã gạt dòng lệ còn sót lại để tiển đưa em, khuyên em hãy can đảm lên đường:

– Khuyên nốt em trai dòng lệ sót.

Sau khi ông đi rồi trong gia cảnh giờ đây chỉ còn lại bốn người phụ nữ, một già ba trẻ yếu đuối giống như sen cuối mùa, Ít oi thưa thớt:

– Bây giờ mùa hạ sen nở nốt

Một chị, hai chị cùng như sen

Lúc ấy đã cuối mùa hạ nhưng chưa vào Thu. Mùa Hạ cây vẫn còn tươi, lá vẫn còn xanh là thời điểm nhà thơ phải lên đường theo tiếng gọi của non sông. Tâm lý lúc nầy như có mâu thuẫn, nửa thì hăng hái lên đường, nửa lại nuối tiếc một thẫn thờ. Giữa hai sự lựa chọn, ở lại thì thấy thiếu bổn phận với núi sông, mà ra đi thì phải chấp nhận sự chia ly. Nhưng cuối cùng cũng phải ra đi để làm tròn bổn phận của người trai thời loạn:

– Người đi? Ừ nhĩ người đi thực

Mẹ thà coi như chiếc lá bay

Chị thà coi như là hạt bụi

Em thà coi như hơi rượu say.

Qua bài thơ Tống Biệt Hành, chúng ta thấy toàn bộ nội dung của bài thơ giống như cuộc đời của ông. Quả thật như vậy, ông ra đi khi quê hương còn đang chìm ngập trong bom đạn khói lửa:

– Chí lớn chưa về bàn tay không

Thì không bao giờ nói trở lại.

Ông đã một lần đi là một lần vĩnh biệt

B- Nguyễn Bính

Nguyễn Bính sanh năm Mậu Ngọ (1918) tại Thôn Thiện Vịnh, xã Cộng Hòa, huyện Vụ Bản, tỉnh Hà Nam. Thân phụ là cụ Nguyễn Ðạo Bình làm nghề dạy học. Thân Mẫu là cụ bà Bùi Thị Miện con gái của một gia đình khá giả, có truyền thống yêu nước. Cụ bà mất vì bị rắn độc cắn để lại ba người con trai:

1- Nguyễn Mạnh Phát tức là Trúc Ðường lúc đó 6 tuổi

2- Nguyễn Ngọc Thụ, lúc đó 3 tuổi.

3-     Nguyễn Bính lúc đó chưa đầy một tuổi.

Mấy năm sau vì cửa nhà đơn chiết nên cụ ông cưới bà Phạm Thị Duyên là kế mẫu. Kế mẫu lại sanh thêm được bốn ngườỉ con: Hai trai, hai gái. Có lẽ vì không tiện sinh sống với kế mẫu nên dì ruột là bà cả Giần giàu có và cậu ruột là ông Bùi Trình Khiêm đón cả ba anh em của Nguyễn Bính về nuôi cho ăn học. Ông Khiêm dạy chữ hán cho ba anh em, Nguyễn Bính học có vẻ xuất sắc hơn hai anh. Lúc Trúc Ðường vào Tiểu Học, thì Nguyễn Bính học Sơ Học. Khi Trúc Ðường vào Trung Học, thì Nguyễn Bính vào Tiểu Học. Nguyễn Bính biết làm thơ từ thuở nhỏ vì thế mà được cậu cưng chiều. Năm 1932-1933 sau khi tốt nghiệp bằng thành chung thì Trúc Ðường vào dạy học ở một trường tư thục tại Hà Ðông. Vì phải thay thế mẹ chăm sóc các em nên Trúc Ðường cũng dẫn Nguyễn Bính đi theo và dạy thêm Pháp Văn. Trúc Ðường lúc dạy học ông cũng bắt đầu làm thơ viết văn, và đã truyền đạt vốn luyến đó cho Nguyễn Bính. Có thể nói cuộc đời của Nguyễn Bính gắn bó với Trúc Ðường cả văn chương và đời sống. Trúc Ðường hay đưa Nguyễn Bính giữ được mạch thơ dung dị giữa các vùng Nam Ðịnh, Ninh Bình, Thái Bình, Phủ Lý, hoặc hay đi tới các miền khác như Hà Ðông, Sơn Tây, Hoà Bình, Ðộng Hương Tích. Những năm ấy đã có bài thơ Cô Hái Mơ xuất hiện trên văn đàn:

– Thơ thẩn đường chiều một khách thơ

Say nhìn ra rặng núi xanh lơ

Khi trời lạnh lẽo, và trong trẻo

Thấp thoáng rừng mơ cô hái mơ.

Hỡi cô con gái hái mơ già

Cô chửa về ư? đường thì xa

Mà ánh chiều hôm dần một tắt

Hay cô ở lại về cùng ta?

Nhà ta ở dưới gốc cây dương

Cách động hương sơn nữa dặm đường

Có suối nước trong tuôn róc rách

Có hoa bên suối ngát đưa hương.

Cô hái mơ ơi

Chẳng trả lời nhau lấy một lời

Cứ lặng rồi đi, rồi khuất bóng

Rừng mơ hiu hắt lá mơ rơi…

(Nguyễn Bính – Cô Hái Mơ)

Hai bài thơ dài: Lỡ Bước Sang Ngang và Mười Hai Bến Nước cũng được sáng tác trong khi hai anh em đi chơi thuyền trên sông Nhuệ ở Hà Ðông. Cuộc sống nhờ có Trúc Ðường chăm sóc và lo lắng mọi thứ cho nên Nguyễn Bính không lo lắng gì cả, vì thế không biết quý trọng đồng tiền. Xong tiểu học Nguyễn Bính lên Trung Học, Trúc Ðường đành để cho ông theo nghiệp Thơ Văn. Ông thích đi Hà Bắc, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Thanh Hóa, đi đến đâu cũng sáng tác thơ tại đó. Những năm kế tiếp Nguyễn Bính làm ra tiền nên ông đi càng nhiều, nhưng khi xài hết tiền thì lại về ở với Trúc Ðường. Ðến năm 1940, Nguyễn Bính bắt đầu nổi tiếng với số lượng thơ khá nhiều, đề tài phong phú, trong những số thơ của ông, Thơ tình là nhiều hơn hết. Cũng trong năm 1940 Ông xin phép Trúc Ðường vào Huế để tìm đề tài sáng tác, Trúc Ðường tán thành nhưng không có tiền, nên đã cho người em thân yêu máy ảnh và đồng thời Trúc Ðường còn về quê bán thêm dãy thềm đá xanh là vật báu duy nhất còn lại của gia đình, đưa tất cả số tiền cho Nguyễn Bính và giao ước:

– Anh sẽ viết xong Nhan sắc vào năm 1941. Vào Huế Bính gủi thơ ra anh dọc trước, rồi đăng báo sau.

Ðúng hẹn cuối năm 1941 đầu năm 1942, Trức Ðường nhận được nhiều bài thơ của Nguyễn Bính trong đó có: Xuân Tha Hương, và Oan Nghiệt, Trúc Ðường rất thích. Ðồng thời đầu năm 1942 cuốn Nhan Sắc của Trúc Ðường cũng ra mắt bạn đọc.

Nguyễn Bính trở lại Hà Nội, về thăm quê rồi lại đi làm thơ. Lần chia tay cuối cùng với Trúc Ðường vào năm 1943, đến năm 1945 tin tức thưa dần. Năm 1946 mất liên lạc hẳn, cho đến năm 1954 tập kết ra Hà Nội, Bính lại về ở với gia đình Trúc Ðường.

Nguyễn Bính mất ngày 21 tháng 01 năm 1966 tức là ngày 30 Tết năm Ất Tỵ. Phần mộ ông được an táng tại nghĩa trang thành phố Nam Ðịnh như những người dân bình thường khác. Ðến năm 1968, mộ ông lại được cải táng, và người ta đưa ông về nghĩa trang Tam Ðiệp.

Tháng 01 năm 1986, nhà xuất bản Văn Học và Hội Văn Học Nghệ Thuật Hà Nam Ninh hợp tác ấn hành Tuyển Tập Nguyễn Bính với số lượng 40,500 cuốn. Tiếp theo đó là những tuyển thơ khác theo chuyên đề thơ Nguyễn Bính cũng được ra mắt bạn đọc. Cũng từ đó ngươi ta mới nhận ra rằng Nguyễn Bính quả thật là một thi sĩ lớn. Nguyễn Bính là một nhà thơ lớn mà để phần mộ ông nằm xa tít ở núi Tam Ðiệp là không ổn, vì thế người ta mới quyết định đưa ông về quê. Nhưng tại quê hương ông nhà cũ và mảnh vườn cũ của ông bà thân sinh đã nhường cho gia đình bà Nguyễn Thị Hường, là người con ông chú của Nguyễn Bính. Cuối cùng người ta mới quyết định an táng hài cốt của ông tại khu Mã Quan cạnh mộ ông nội. Ðây là một cồn đất nằm ở rìa làng, phía bên phải thì sầm uất xóm làng, phía bên trái là cánh đồng. Trước kia có nhiều mồ mả, nhưng người ta đã dời đi nơi khác chỉ còn lại mồ của hai ông cháu nằm lặng lẽ bên khóm tre, khóm chuối và ao rau muống.

Tuy nhiên vì bà con họ hàng làng xóm cứ cảm thấy không yên lòng, nên cuối cùng cấp lãnh đạo xã, huyện, tỉnh mới thương lượng và mua cho bà Nguyễn Thị Hường một mảnh đất khác để ở, đưa mộ Nguyễn Bính về tại nơi ông cất tiếng khóc chào đời. Bà Hường bằng lòng nên cuối năm Canh Ngọ(1990), mộ Nguyễn Bính được chính thức đưa từ khu Mả Quan vào mảnh đất vốn là nhà của bố mẹ mình. Mộ được xây ở giữa khu đất rộng bốn sào, nằm chính giữa làng Thiện Vịnh, chung quanh rợp bóng tre, cây ruối. Ngôi mộ đơn sơ hình chữ nhật, có đắp nổi hình ngọn bút với dòng chữ: Phần Mộ Nhà Thơ Nguyễn Bính (1918-1966). Như vậy kể từ khi hắt hơi thở cuối cùng cho đến nay trải qua bốn chặng đường giang hồ thi sĩ mới có một nơi yên nghỉ cuối cùng.

C- Mối Tình Thơ Của Hai Nhà Thơ Xóm Áo Bào gốc Liễu

Trên văn đàn Việt Nam vào những năm 1937-1940 khi nói đến nhà thơ Thâm Tâm thì nhiều người nghỉ ngay đến T. T. Kh. Vậy T. T. Kh là ai? Trả lời cho nghi vấn nầy thì đã có nhiều giấy mực trả lời nhiều cách khác nhau:

– Nhiều người nói: T. T. Kh là người yêu của Thâm Tâm

– T. T. Kh. chính là Thâm Tâm

– T. T. Kh. Chính là Trần Thị Khánh

– T. T. Kh. Là Thâm Tâm Khánh.

– T. T. Kh. Là Tuấn Trình Khánh(Vì tên thật của Thâm Tâm là Nguyễn Tuấn Trình)

Có người còn nói T. T. Kh. chính là Trần Thị Khánh, người em gái đồng tông của nhà thơ Tế Hanh ở Thanh Hóa ..v..v..

Cuộc tìm kiếm, tranh luận sôi nổi nầy theo ông Mã Giang Lân nói:

– Ông  Thanh Châu chính là người khơi nguồn thiên tình hận nầy. Năm 1937 Tuần Báo Tiểu Thuyết Thứ Bảy đăng tập truyện ngắn của ông Thanh Châu kể lại mối tình ngang trái giữa chàng nghệ sĩ và thiếu nữ Mai Hạnh. Họ đã gặp nhau dưới hoa ti-gôn. Nàng sợ bố mẹ khổ tâm, sợ tai tiếng ở đời …. nên không dám bỏ nhà đi theo người yêu. Nàng phải sống gượng ép với một người chồng. Ít ngày sau tòa soạn báo nhận được hai bài thơ Bài Thơ Thứ Nhất, và Hai Sắc Hoa Ti Gôn của một người ký tên là T. T. Kh. Khi hai bài thơ đó được đăng tải, thì lúc đó đã có nhiều người nhận T. T. Kh là người yêu của mình trong đó có: Nguyễn Bính, J. Leiba, và Thâm Tâm.

a- Nguyễn Bính thì cho đăng bài thơ: Dòng Dư Lệ

– Cho tôi ép nốt dòng dư lệ

Nhỏ xuống thành thơ khóc chút duyên

Và bài thơ Cô gái Vườn Thanh.

b- J. Leiba tức là Lê Văn Bái thì cho đăng bài thơ Hai Sắc Hoa ti Gôn trên báo Ngọ và phía dười có cảm đề mấy cây như sau:

– Anh chép bài thơ tự trái tim

Của người thiếu phụ lỡ làng duyên

Lời thơ tuyệt vọng ca đau khổ

Yên ủi anh và để tặng em.

c- Thâm Tâm đã làm bài thơ Các anh:

– Các anh hãy uống thật say

Cho tôi những cốc rượu đầy rồi im

Giờ hình như quá nửa đêm

Lòng đau đau lại cái tin cuối mùa

Hơi đàn buồn như trời mưa

Các anh tắt nốt âm thừa đi thôi

Giờ hình như ở ngoài trời

Tiếng xe đã nghiến đường rời rã đi

Tâm tình anh nhạt đâu nghe

Tiếng mùa lá chết đã xê dịch nhiều

Giờ hình như gió thổi nhiều

Những lại hoa máu đã gieo nốt đời

Bao nhiêu nghệ sĩ nổi trôi

Sá chi cái đẹp dưới đời mong manh

Sá chi những chuyện tâm tình

Lòng đau như chứa trong bình rượu say.

Cả ba đồng vọng đáp lại tiếng lòng của Thiếu Nữ, và cũng là giãi bày tâm trạng đớn đau của mình. Cũng từ đó cho đến ngày nay trên văn thơ đàn đã tạo nên một cuộc dư luận vô cùng sôi nổi cho đến ngày nay.

Nói về T. T. Kh là ai? Cho đến bây giờ chưa có một ai biết được chính xác là có thật hay chỉ là một nhà thơ nào đó lấy tên như vậy, và là nam hay nữ? Bí mật vẫn còn trong vòng chưa được bậc mí. Luận giải về sự kiện nầy có những minh định như sau:

1- Theo ông Bùi Viết Tân nói:

– Cuối năm 1949, trong một chuyến đi dài ngày từ liên khu III lên Việt Bắc, tôi có dịp đồng hành với thi sĩ Thâm Tâm, tức là Nguyễn Tuấn Trình. Từ vùng hậu địch vượt đường số 5, theo những người buôn muối để lên Việt Bắc, chúng tôi là những người lữ hành ngày nghỉ đêm đi. Trong những lúc nghỉ ngơi tại những căn cứ du kích nằm giữa vùng Tề, anh Thâm Tâm thường tâm sự với tôi những chuyện tâm tình liên quan đến thơ văn. Chẳng hạn như nhân vật gây nguồn cảm hứng để cho anh sáng tác bài Tống Biệt Hành là một người tên là Phạm Quang Hòa, trước năm 1945 thoát ly gia đình ra đi lên chiến khu làm cách mạng. Bài thơ chỉ là một tác phẩm của sự ngẩu hứng, nhưng cái ngẩu hứng nầy là tích lũy cuả bao nhiêu ngày tháng dồn nén của một nhà thơ muốn ra đi, muốn làm một cái gì, do đó khi thấy bạn ra đi đã trút cả nỗi lòng vào bài hành mang tên Tống Biệt.

Tôi hỏi anh Thâm Tâm, nhân vật Phạm Quang Hòa ở đâu, còn sống không? Anh Thâm Tâm cho biết Phạm Quang Hòa ra đi và đã trở về, và đang tiếp tục cuộc sống của một người trai thời loạn.

Nhân câu chyện vui, tôi hỏi anh Thâm Tâm về chuyện những bài thơ ký tên T. T. Kh.

– Theo ý ông thì những bài thơ này của ai?

– Người ta nói của người tình Thâm Tâm. Phải vậy không anh?

– Ông có đọc bài thơ ký tên Thâm Tâm đăng trên Tiểu Thuyết Thứ Bảy số 307, ra ngày 4 tháng 5 năm 1940 chứ?

– Ðã có đọc, có phải bài Các Anh không nhỉ?

– Ðúng thế, tất cả đều liên quan đến chuyện tình, nhưng thật ra thì những bài thơ ký tên T. T. Kh. là do mình sáng tác ra thôi.

– Như vậy là Nguyễn Bính cũng bị xiếc vào trong câu chuyện nầy?

– Chuyện nầy chỉ có mình và Trần Huyền Trân biết thôi. Nguyễn Bính là một nhà thơ tài hoa nhưng ngây thơ lắm.

– Câu chuyện nầy có liên quan gì tới đất Thanh Hóa không anh?

– Ðịa danh Vườn Thanh trong thơ là nó tới đất Thanh Miện ở Hải Dương, quê hương của trái vải. Nhưng Nguyễn Bính lại tưởng lầm là Thanh Hóa … Do đó mới có chuyện vui vẻ.

– Tại sao anh sáng tác những bài thơ ký tên T. T. Kh hay như vậy mà lại không làm loại thơ nầy nữa.

– Vào những năm cuối thập niên ba muơi bắt đầu thập niên bốn mươi, bọn mình sống cuộc đời như dỡn với ngày tháng. Nhưng sau đó thì bọn mình đã tìm ra lối thoát cho cuộc đời và muốn làm cho cuộc đời đổi mới. Chính bài Các Anh rồi sau đó Tống Biệt Hành là chứng tích của sự thay đổi nầy.

Nói dứt lời Thâm Tâm khẻ ngâm cho tôi nghe bài Các Anh:

– Các anh hãy uống thật say

Cho tôi những cốc rượu đầy rồi im

……………………………………………………

Ngâm dứt bài thơ Thâm Tâm quay ra hỏi tôi:

– Ông thấy bài thơ nầy thế nào?

– Khác hẳn hơi thơ trong Tống Biệt Hành và những bài khác anh đã đăng báo.

– Người làm thơ có quyền được làm nhiều loại thơ khác nhau chứ. Bài nầy mình cũng đăng trên báo Tiểu Thuyết Thứ Bảy từ tháng năm 1940.

– Những bài thơ anh làm ký tên T. T. Kh. có liên quan gì đến nhân vật tên Khánh không?

– Xin ông cho mình miễn trả lời câu hỏi nầy. Mình đã có gia đình và nhân vật trong thơ cũng vậy. Xin lỗi nhé.

2- Theo ông Hoài Anh khẳng định:

– Các bài thơ Hai Sắc Hoa Ti Gôn, Bài Thơ Thứ Nhất, Ðan áo cho chồng, bài Thơ Cuối Cùng tất cả đều do chính Thâm Tâm sáng tác ký tên là T. T. Kh. Còn bài Các Anh thì đúng là do Thâm Tâm.

3- Theo ông Thanh Châu thì trình bày:

– Hôm nay, nhân tìm lại những tư liệu còn giữ được, tôi muốn kết thúc cái chuyện cũ càng mờ mịt nầy bằng cách công bố thêm một điều lạ, là thủ phạm của sự “nhiễu” nầy khiến thiên hạ càng phỏng đoán, đoán mò, chỉ tại hai người:

a- Nguyễn Bính đã đăng một bài thơ đề tặng T. T. Kh. bài Cô gái Vườn Thanh in năm 1940. Ðọc lại bài thơ nầy, người ta thấy Nguyễn Bính có đến Vườn Thanh, trọ nhà một ông già, ông nầy kể cho nghe chuyện một thiếu phụ cũng đêm đêm bên cạnh chồng già-bên cạnh bóng người xa hiện về…. Rồi Nguyễn Bính tự hỏi:

– Bao nhiêu oan khổ vì tình

Cớ sao giống hệt chuyện mình gặp xưa?

Phải chăng mình có nên ngờ

Rằng người năm ngoái bây giờ là đây?

Khi Nguyễn Bính ra thơ đề tặng T. T. Kh. Bởi vậy, có người đã khẳng định: Ông Bính là người yêu của T. T. Kh. Nên là thơ tế nhị nói chuyện nọ ra chuyện kia.

b- Người thứ hai chính là Thâm Tâm khi có bài thơ Màu Máu Ti Gôn gửi T. T. Kh. Tác giả bài thơ Hai Sắc Hoa Ti Gôn:

– Người ta trả lại cánh hoa tàn

Thôi thế duyên tình cũng dở dang

Màu máu ti-gôn đà biến sắc

Tim người yêu cũ phủ màu tang.

………………………………………………….

Thôi em hãy giữ cành hoa úa

Kỷ niệm ngàn năm một cuộc đời.

Sau khi luận giải thì ông Thanh Châu đã đưa tới kết luận:

– Một người nghiêm túc như Thâm Tâm mà anh em văn nghệ thời trước từng quen biết, có thể có cử chỉ và lời thơ dễ dãi, vô ý thức như vậy không? Ðó là điểm đáng ngờ.

Như trên chúng ta thấy ít ra cũng đã có đến hai người minh xác T. T. Kh. đích thực là Thâm Tâm, nhưng cũng theo ông Thanh Châu thì T. T. Kh. là T. T. Kh chứ không thể là Thâm Tâm được, như ông nói:

– Hồi làm báo Tiểu Thuyết Thứ Bảy ở Hà Nội, vì gia đình tôi ở thị xã Thanh Hóa, nên thời thường vẫn đi về, cũng như Nguyễn Tuân và Hồ Dzếnh có gia đình ở thị xã nầy.

Một hôm, tôi không có ở nhà, thấy mẹ tôi bảo có một người con gái đến chơi, không chịu nói tên, chỉ để lại một bó hoa ti-gôn rồi cáo lui. Từ đó không lần nào trở lại. Ai nhỉ? Tuổi tôi lúc đó cũng có dăm ba bạn gái, nhưng thời gian nầy, báo đã đăng mấy bài của T. T. Kh rồi, vậy đó là người đã đọc truyện “Hoa Ti-gôn” của tôi, hay đã yêu thơ của T. T. Kh. mà tìm đến?

Ông Thanh Châu còn nói thêm:

– Riêng tôi khi đọc lại thơ của T. T. Kh. Tôi ngạc nhiên thấy phong cách thơ của bà nầy khác xa thơ của ba ông bạn Thâm Tâm, Nguyễn Bính, Trần Huyền Trân cùng thời. Thơ của T. T. Kh. không có những chữ:

– Ly khách, cửa ải xa, xóm thanh bình, trường thành, quan san, trường đình, thét roi, cô phụ, đoạn trường… giống như Thâm Tâm.

– Rau tần, ngõ trúc, tương tư, giang hồ, nhân thế, biển dâu, khóm trúc, phong ba, hoa đèn, giọt dòng, lưu biệt, thiên thu, tịch liêu … giống như Trần Huyền Trân.

– Vương tơ, lão bộc, vật đổi sao rời, quay tơ, guồng tơ, hận tình, buồng the… giống như Nguyễn Bính.

Thơ của T. T. Kh. Kể chuyện mình một cách giản dị, không sáo ngữ, lúc thì thanh  minh:

– Ba năm ví biết anh còn nhớ

Em đã câm lời có nói đâu.

Có lúc lại trách:

– Trách ai mang cánh ti-gôn ấy

Mà viết tình em được ích gì!

Rồi có lúc lại than:

– Buồn quá hôm nay xem tiểu thuyết

Thấy ai cũng ví cánh hoa xưa

Có lúc lại hối tiếc:

– Nếu biết rằng tôi đã lấy chồng

Trời ơi người ấy có buồn không?

Thơ của T. T. Kh. không tìm chữ lạ, không làm dáng nên dễ đi vào lòng người, nhất là lòng bạn gái cùng cảnh ngộ, luyến tiếc thời thơ ngây của con gái, lắng nghe tiếng lá thu rơi mặt hè, tưởng tượng những bước chân người yêu trở lại, càng lo sợ. Tả cái giận, nói được nỗi lòng yếu đuối của mình đối với người yêu mà mình không rứt được …

Kết Luận:

Nhìn vào bối cảnh xã hội của những năm cuối thập niên 30, bắt đầu thập niên 40 quê hương ta chìm trong máu lữa chiến tranh, mọi thân phận con người sống ngày nay mà không biết ngày mai. Hoàn cảnh gia đình vô cùng phức tạp, chồng xa vợ, cha khóc con, vợ lìa chồng … giống như Thâm Tâm đã từng nói:

– Bọn mình sống cuộc đời như dỡn với tháng ngày.

Quả thật là như vậy, cuộc sống, và hạnh phúc gia đình của mỗi nguời dân trong lúc đó thật là mong manh, vì thế, có nhiều khối óc, con tim muốn làm một cái gì đó cho nhân loại cũng khó mà thực hiện. Ngay cả quyền yêu thương cũng bị hạn chế đến mức độ tối đa, để rồi biết bao nhiêu cậu thanh niên, cô thiếu nữ phải xa nhau trong đắng cay chua chát, dang dở. Thực tế luôn luôn lúc nào cũng cay đắng, chua chát, phủ phàng, cho nên con người chỉ có thể tìm thấy hạnh phúc trong tưởng tượng, trong lý tưởng. Thơ văn là môi trường có thể thực hiện dễ dàng trong lãnh vực tượng tượng một cuộc sống, hoặc một chuyện tình lý tưởng, vì thế chúng ta không ngạc nhiên khi câu chuyện tình lịch sử nầy xuất hiện trên văn thơ đàn Việt Nam và vẫn tồn tại trong lòng người trong mấy mươi năm qua.

Như trên chúng ta thấy, khi nói về T. T. Kh là ai, thì đã có những tranh luận sôi nổi trước đây, theo các khuynh hướng:

– T. T. Kh chính là Thâm Tâm

– T. T. Kh chính là Trần Thị Khánh

– T. T. Kh là người tình của Thâm Tâm và Nguyễn Bính

Và gần đây thì có đề cập đến:

– T. T. Kh chính là bà Vân Nương – Trần Thị Vân Chung ..v..v..

Nhất là sau khi cuốn sách T. T. Kh. Nàng là ai, của Thế Nhật ra đời, theo ông Hoài Việt  thì tính cho đến nay có tới 68 bài báo phản ứng về câu chuyện tình lịch sử nầy. Vì thấy tốn nhiều giấy mực mà sự thực vẫn không đi đến đâu nên ông Thanh Châu cũng có lần đã đề nghị:

– T. T. Kh là ai? Có lẽ ta cũng chẳng cần biết rõ đó là ai? Một người phụ nữ vào thời đó đã làm thơ, đã theo kịp trào lưu thơ mới, là điều đáng trọng. Tôi không tin rằng ai đó đã tìm được bà.

Và các ông Lương Trúc, Mã Giang Lân, Hoài Việt … cũng đồng một quan điểm:

– Ta hãy nên để cho cái tên T. T. Kh. được yên trong lòng bạn đọc xưa nay vốn hâm mộ người thơ.

Theo chúng tôi nghĩ: Về việc T. T. Kh. là ai? Có thật hay không thật. Có đúng là người tình của cố thi sĩ Thâm Tâm và Nguyễn Bính hay không? Nó không phải là vấn đề bàn thảo ở đây. Lý do mà chúng tôi góp nhặc những dữ kiện nầy sắp xếp chung lại cho bạn đọc, đọc cho vui vì thấy rằng:

– Sự kiện đã từng được các bậc tiền bối bàn thảo nhiều trong mấy mươi năm qua, nếu đây là một chuyện tình bí ẩn có thực trong cuộc sống thì đó là lẽ thường. Còn nếu không có thực thì chúng ta hãy cứ coi đây là Mối Tình Thơ Của Hai Nhà Thơ Xóm Áo Bào Gốc Liễu.