Ba bài bình bài thơ Tống biệt hành của Thâm Tâm – Trần Đình Sử

Tống biệt hành của Thâm Tâm có một sức ám ảnh rất mạnh, ai đã đọc một lần chắc không bao giờ quên giọng thơ gân guốc, rắn rỏi của nó. Bài thơ có một phức cảm tâm lí đầy mâu thuẩn. Bên trong cái rắn rỏi ấy, bài thơ lại rất buồn, buồn mà không sụp xuống, cũng như dứt khoát, dửng dưng mà không vô tình. Bài thơ ngợi ca một người giã nhà ra đi theo chí lớn mà vẫn nặng lòng lưu luyến, bịn rịn với gia đình.

Bài thơ viết theo lời người đưa tiễn và từ quan sát, cảm nhận, suy nghĩ của người tiễn mà khắc họa nên hình tượng của người ra đi.

Bốn dòng đầu của bài thơ là cảm nhận xao xuyến, ngỡ ngàng của người đưa tiễn trong phút tiễn đưa :

Đưa người, ta không đưa qua sông

Sao có tiếng sóng ở trong lòng?

Bóng chiều không thắm, không vàng vọt

Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?

Hai câu hỏi dạng “Không… Sao có…” vừa có tác dụng phát hiện cái bất ngờ, vừa tô đậm tâm trạng và ấn tượng xảy ra trong cuộc tiễn đưa. Không phải cảm xúc dâng lên từ ngoại cảnh, bởi ngoại cảnh làm gì có sông, và đã làm gì có hoàng hôn? Cũng không phải tình cảm xót xa khi tiễn đưa người bạn đi xa thông thường, khi tiễn bạn người ta thường khuyên bạn, chúc bạn, thương bạn, nơi góc bể chân trời, tự cảm thấy mình lẻ loi, cô độc. Ở đây không có những tình cảm ấy, mà có những cảm xúc khác. “Tiếng sóng trong lòng” có thể là xao xuyến bồn chồn do một nguyên nhân nào đã biết trước, còn “đầy hoàng hôn trong mắt trong” thì không phải là ánh mắt của người trượng phu lên đường. Người trượng phu xưa giã nhà theo chí lớn thường có điệu bộ khảng khái, tóc dựng xiên mũ, bước đi không ngoái lại như Kinh Kha xưa bên bờ sông Dịch trong Sử ký, hay như chàng tuổi trẻ vốn dòng hào kiệt trong Chinh phụ ngâm khúc

Chính cái cảm xúc và phát hiện mới lạ ấy đã làm nảy ra ý thơ trong đoạn tiếp theo, như một lời giải thích :

Đưa người, ta chỉ đưa người ấy

Một giã gia đình, một dửng dưng…

Ly khách! Ly khách! Con đường nhỏ

Chí nhớn chưa về bàn tay không

Thì không bao giờ nói trở lại!

Ba năm, mẹ già cũng đừng mong.

Đoạn thơ như nói lên niềm thất vọng của người tiễn. Không, ta không tiễn con người mắt đầy hoàng hôn này, “… ta chỉ đưa người ấy“. Chữ người ấy như muốn phân biệt với người này. Người ấy phải là con người kiên quyết, dửng dưng, đi theo chí lớn, theo bóng người trượng phu xưa, dám dấn thân “con đường nhỏ” chí nhớn chưa thành thì không nói chuyện trở lại, ba năm mẹ già cũng đừng mong!

Ký ức người tiễn liền nhớ lại tiền sử của ánh mắt hoàng hôn :

Ta biết người buồn chiều hôm trước:

Bây giờ mùa hạ sen nở nốt,

Một chị, hai chị cũng như sen,

Khuyên nốt em trai dòng lệ sót(1).

Ta biết người buồn sáng hôm nay:

Giời chưa mùa thu, tươi lắm thay,

Em nhỏ ngây thơ, đôi mắt biếc,

Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay…

Đây là một cuộc tiễn đưa khác, đầy bịn rịn và nước mắt thương tiếc trong gia đình. Tiễn đưa đầy tinh thần níu lại. Hai chị như sen cuối mùa hạ, khóc nốt dòng lệ sót, khóc đến giọt nước mắt cuối cùng. Nhà thơ không nói “hai chị”, mà đếm “một chị, hai chị” như xét đến từng người. Em nhỏ ngây thơ đôi mắt biếc như chưa hiểu việc gì đang xảy ra. Và ai là kẻ “Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay…”, anh hay em? Người ra đi hay người ở lại?

Nhưng người ra đi đã dứt áo ra đi.

“Người đi ? Ừ nhỉ, người đi thực”. Câu hỏi nêu ra như một điều không chắc chắn. Nhưng sự thực thì đã ra đi. Câu “Người đi thực” như khẳng định một điều mà giây phút trước đó có thể chưa phải là sự thực. Người trượng phu trong người ra đi đã trỗi dậy với tư thế kiên quyết dứt tình như tráng sĩ xưa :

Mẹ thà coi như chiếc lá bay,

Chị thà coi như là hạt bụi,

Em thà coi như hơi rượu say.

Mỗi chữ “thà” coi như một nhát dao sắc, chặt đứt tình cảm để ra đi. Có người nghĩ rằng ý nghĩ người ra đi như vậy có vẻ tàn nhẫn quá, nên muốn hiểu cho “tình cảm hơn”, đã giải thích thành : “Xin mẹ hãy coi con như chiếc lá bay, xin chị coi em như hạt bụi, xin em coi anh như hơi rượu say”. Mới xem tưởng hiểu như vậy có vẻ “nhân ái” hơn, nhưng không đúng. Bởi lẽ, muốn hiểu thế thì lời đó phải là lời của người ra đi, nhưng trong văn cảnh lại là ý nghĩ của người tiễn, con người muốn nhìn thấy một trượng phu ! Hiểu như thế thì cần xem “em nhỏ ngây thơ” coi anh như “hơi rượu say” một cách ngang tàng thật là vô lý, vì em đã biết gì đâu “hơi rượu say” mà cầu xin ! Đây chỉ là ý nghĩ của người tiễn giải thích về tình cảm trượng phu đã trỗi dậy trong người ra đi.

Một cuộc tiễn đưa đầy kịch tính, kịch tính trong tình cảm, trong mâu thuẫn giằng xé giữa chí lớn, tình riêng. Một cuộc tiễn đưa hàm chứa một cuộc tiễn đưa, hay nói cách khác, hai cuộc tiễn đưa dồn nén, thử thách trong một cuộc tiễn đưa. Nhưng cuối cùng chí lớn đã thắng. Người trượng phu hôm nay, con người được thức tỉnh bởi lý tưởng nhân đạo, cá tính, không còn có thể ra đi thanh thản, nhẹ nhàng như ngày xưa nữa ! Ly khách đã ra đi trong tình cảm luyến tiếc sâu xa.

Nhà thơ sử dụng đầu đề Tống biệt hành rất cổ kính, có lẽ chỉ để nhấn mạnh cái giống và cái khác với người xưa. Đầu đề này có tác dụng đánh dấu xu hướng phong cách hóa cổ kính của bài thơ. Với đầu đề này, người tiễn tự xưng là “ta”, người đi được xưng là “ly khách”, những lời khảng khái cũng được nói lên một cách thích hợp. Hình như người ra đi muốn mượn cái khí thế, lời lẽ ngang tàng của trượng phu xưa để nâng đỡ chính mình. “Hành” vốn là một thể thơ thịnh hành vào thời Hán Ngụy, Lục Triều ở Trung Quốc, có đặc điểm là tự do, phóng khoáng, không gò bó, lời thơ gần với lời nói. Vận dụng thể “hành”, Thâm Tâm đã sử dụng nhiều câu hỏi, câu trùng điệp. Câu thơ bảy chữ, nhưng cấu tạo ngắt nhịp tự do. Cả bài đều dùng vần “bằng” có thanh không dấu, xen với ít vần “trắc”, gieo vào lòng người một ý vị bâng khuâng, xốn xang.

TỐNG BIỆT HÀNH

(THÂM TÂM)

I

Tống biệt hành của Thâm Tâm được tuyển vào sách giáo khoa Văn học 11, tập một. Tuy là bài thơ rất nổi tiếng nhưng cho đến nay vẫn chưa có cách lý giải hợp lý, thuyết phục cả về nội dung lẫn ngôn ngữ, cấu tứ của nó. Trong một tài liệu mới in gần đây, có ý kiến cho rằng “Ta có thể khẳng định : người ra đi ở đây chính là người chiến sĩ cách mạng, giã nhà lên đường đi chiến đấu (có thể là lên chiến khu, khi đó đã thành lập ở Việt Bắc và trở thành một nơi bí mật và thiêng liêng, hấp dẫn đối với mọi người thời ấy)”(1). Trong một sách bình thơ khác, cũng mới in chưa lâu, thì lại có ý kiến trái hẳn : “Chí nhớn mà đường nhỏ, cuộc đi chưa thấy có căn cứ gì cho nghiệp lớn ngoài sự hăng hái tinh thần… Ở lại thì bế tắc nhưng ra đi thì chưa thấy gì là tươi sáng, nó tự nhủ bằng cái vẻ bi hùng của Kinh Kha bên sông Dịch thì cũng chẳng lừa được chính mình. Mấy câu thơ kết, lòng người như sụp xuống, cả kẻ tiễn lẫn người đi, tuyệt vọng đến hư vô…”(2). Rõ ràng, người đi ở đây được hiểu thành một kẻ tầm thường, có nét gần như một vai phản diện ! Hai ý kiến này đều thiếu sức thuyết phục, nặng về suy diễn. Căn cứ vào cuộc đời và sáng tác thơ của Thâm Tâm, có thể đoán định người đi là người cách mạng, nhưng nhìn lại văn bản bài thơ thì đã có dấu hiệu gì để cho ta nhận chắc điều ấy ? Còn ý kiến thứ hai thì chẳng thấy có căn cứ gì để phán đoán rằng người ra đi tự lừa dối mình mà không lừa được, lại còn “lòng người như sụp xuống, cả kẻ tiễn lẫn người đi, tuyệt vọng đến hư vô…” nữa! Rất có thể nhà phê bình thuận theo thói quen phê bình thơ lãng mạn lâu nay, đã hiểu chệch ngôn ngữ nghệ thuật của bài thơ.

(1) Văn 11, Nguyễn Đình Chú (chủ biên), phần Văn học Việt Nam, sách giáo viên, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1991, tr.115.

(2) Vũ Quần Phương. Thơ với lời bình, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1990, tr.66-67.

Quả thật bài Tống biệt hành không dễ giảng. Từ ngữ trong câu dồn nén, có nhiều tỉnh lược, giữa các dòng thơ có nhiều khoảng trống, tạo thành một vẻ ám ảnh bí ẩn, không dễ gì thuyết minh cho thông. Chẳng hạn câu : “Đưa người, ta chỉ đưa người ấy, Một giã gia đình, một dửng dưng”, mới đọc qua, tưởng là một kẻ giã gia đình, một kẻ dửng dưng, nhưng không phải.  “Một” đây là khăng khăng, nhất quyết : nhất quyết bỏ nhà ra đi, nhất quyết không được xúc động. Lại như câu : “Chí nhớn chưa về bàn tay không, Thì không bao giờ nói trở lại!, Ba năm, mẹ già cũng đừng mong”, có nhiều chỗ tối nghĩa, phải thêm chữ vào mới hiểu được. Chẳng hạn, chí nhớn : chưa về (nếu) bàn tay không. Chưa thành công thì đừng nói chuyện trở lại. Nhưng vẫn khó hiểu : tại sao lại “Ba năm… cũng đừng mong”? Hay như câu “Khuyên nốt em trai dòng lệ sót” có thể gây cảm tưởng là đời chị nhục nhằn, khóc suốt tuổi trẻ, còn thừa chút lệ đem khóc em nốt. Có bản chép là “dòng lệ xót” thì nghĩa lại khác nữa. Đúng như Vũ Quần Phương nhận xét: chữ nghĩa, câu thơ như không dính nhau.

Đối với bài thơ như bài này, theo chúng tôi, trước hết nên tìm hiểu cấu tứ bài thơ để hiểu nó nguyên phiến, toàn vẹn. Còn câu chữ bài thơ, nói như Triệu Chấp Tín đời Thanh, chỉ là cái râu, cái vẩy của con rồng đang bay hiện ra ngoài đám mây mà thôi, không thể đầy đủ được. Bài thơ này là lời của người đưa tiễn nói về người ra đi, còn người ra đi từ đầu chí cuối dường như không phát biểu điều gì. Nhưng người tiễn rất hiểu người đi và chỉ nhờ sự bộc lộ cảm xúc của người tiễn mà hình ảnh của người đi hiện lên mạnh mẽ, cao cả, một con người quyết dứt bỏ tình riêng ra đi vì chí lớn. Như vậy, trong bài này trực tiếp chỉ xuất hiện cảm xúc, suy nghĩ của người tiễn. Tình cảm người đi hiện ra gián tiếp. Mặt khác, tình cảm hai người này có khác nhau : một người buồn bã, đau đớn, nhưng vẫn dứt áo ra đi, một người muốn tiễn đưa một chinh phu truyền thống, nhưng thực tế chỉ có con người thời đại. Vì vậy, mọi sự đồng nhất tình cảm của hai người làm một để bình luận đều thiếu cơ sở. Rất có thể đây chỉ là một cuộc tiễn đưa được tưởng tượng, cả người đi lẫn người đưa tiễn thực ra đều là do Thâm Tâm hư cấu trên cái nền tình cảm của nhà thơ. Song trong bài thơ đã dựng lên hai hình tượng với chức năng biểu hiện khác nhau, thì ta nên hiểu bài thơ theo cấu trúc biểu hiện của nó. Bài thơ là thơ trữ tình, nhưng trữ tình một cách đặc biệt : không phải bằng giãi bày gan ruột mình, mà bộc lộ cảm xúc qua việc khắc họa hình tượng con người. Nó chỉ là phương tiện để dựng lên hình ảnh người ra đi. Thiếu sự phân biệt chính – phụ, trực tiếp – gián tiếp, chủ – khách thì khó mà tránh được sự nhầm lẫn.

Bốn câu đầu cực tả nỗi lòng xao xuyến, ảm đạm bất ngờ của người đưa tiễn, không có sóng mà có sóng, trời đang chiều mà mắt đã nhuốm hoàng hôn. Đây đúng là một tình cảm mới, bất ngờ, chưa dự kiến trước đối với người tiễn. “Đưa người, ta chỉ đưa người ấy” : một chinh phu đúng với dáng điệu chinh phu : “Một giã gia đình, một dửng dưng… Ly khách! Ly khách! Con đường nhỏ, Chí nhớn chưa về bàn tay không, Thì không bao giờ nói trở lại!, Ba năm, mẹ già cũng đừng mong”. Các chữ “một”, “một” “không”, “đừng” cực tả tính dứt khoát, cắt đứt mọi tình cảm thông thường của con người. Đoạn thơ thiên nói về ý tưởng ban đầu của người tiễn về người ra đi hơn là miêu tả thực tế của người ra đi trong cuộc tiễn đưa này.

Phần còn lại của bài thơ là sự hồi tưởng của người đưa tiễn để hiểu sâu hơn về người ra đi :

Ta biết người buồn chiều hôm trước :

Bây giờ mùa hạ sen nở nốt,

Một chị, hai chị, cùng như sen,

Khuyên nốt em trai dòng lệ sót.

Mùa hạ là mùa của sen. Hai người chị đẹp như sen mùa hạ, khóc hết nước mắt mà không giữ được em ở nhà. Vậy là hiểu thêm ý chí sắt đá của người đi, tuy có buồn nhưng không lay chuyển :

Ta biết người buồn sáng hôm nay :

Giời chưa mùa thu, tươi lắm thay,

Em nhỏ ngây thơ, đôi mắt biếc,

Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay…

Trời đẹp, em thơ ngây, biết bao thương tiếc. Người ra đi không phải vì đói nghèo, vì bất hòa, mà  thuần túy chỉ vì chí lớn. Đó là con người nam nhi mà nhi nữ thường tình đã không còn sức trói buộc :

Người đi? Ừ nhỉ, người đi thực!

Mẹ thà coi như chiếc lá bay,

Chị thà coi như là hạt bụi,

Em thà coi như hơi rượu say!

Người tiễn đã hiểu đến tận cùng người đi. Anh đã ra đi như một đấng trượng phu : chí lớn coi nặng như núi Thái, mẹ già, chị gái, em thơ đều coi nhẹ như lông hồng. Không một dấu hiệu nào cho ta thấy “ở lại thì bế tắc, nhưng ra đi chưa thấy gì tươi sáng cả”. Đó chỉ là sự lặp lại lối suy diễn về văn thơ lãng mạn một thời mà thôi. Xin đừng tìm ở bài thơ này sự ngợi ca một lý tưởng cụ thể nào đó, bởi đó không nhất thiết là điều phải nói trong thơ. Cũng đừng tìm ở đây sự tố cáo hiện thực nào đó. Bài thơ chỉ qua cuộc tống biệt mà thể hiện một sự lựa chọn bi kịch của con người không muốn sống tầm thường, đuổi theo chí lớn. Nhưng người đi không hề là cái máy thô sơ, mà là một con người : anh buồn chiều hôm trước, lại buồn sáng hôm nay, tràn trề thương tiếc. Anh hầu như không hề dửng dưng! Anh ra đi như một sự hy sinh chính những người ruột thịt của mình. Mỗi chữ thà trong câu thơ : “Mẹ thà coi như”, “Chị thà coi như”, “Em thà coi như”, đều biểu thị một sự lựa chọn. Một sự lựa chọn không dễ chút nào. Chọn bề nào cũng không tránh khỏi mất mát đau đớn. Lời thơ phải có chút lên gân để vượt lên bản thân mình. Nhưng dù thế tình cảm thực của người ra đi vẫn được biểu hiện ra. Bài thơ vì vậy thấm đẫm tình người, không hề một chiều, giản đơn.

Hành là thể thơ thịnh hành ở Trung Quốc vào thời Hán Ngụy, Lục Triều, có cội nguồn từ trong Nhạc phủ. Đặc điểm của nó là tự do, phóng túng, lớn, nhỏ, dài, ngắn đều không cố định. Lời thơ thường là lời nói làm cho cái chí trong bài hiện ra lồ lộ. Tống biệt hành của Thâm Tâm vận dụng các đặc điểm đó. Câu thơ bảy chữ tự do, đầy câu hỏi, câu nói, nhiều trùng điệp, vần trắc, vần bằng xen nhau tạo thành giọng thơ rắn rỏi, gân guốc, ngang tàng, vừa cổ điển, vừa hiện đại.

II

Tiếp nhận, thưởng thức tác phẩm văn học, dù phải dựa vào “tâm linh”, “trực cảm” như thế nào, rút cuộc vẫn phải có sự khái quát để nhận ra một cái gì. Nhưng ở đây với niềm cao hứng, người ta dễ nhận ra những điều không phù hợp với bản chất của hình tượng. Vì vậy phân tích văn, cần chú trọng về phương pháp.

Bài Người ra đi là ai ? của chúng tôi (xem báo Giáo dục và thời đại, 7-10-1991) chỉ nhằm giải quyết một vấn đề : xác định nội hàm ý nghĩa của hình tượng ly khách. Bởi vì trên vấn đề này đang tồn tại hai cách hiểu : một là, xem đó là hình tượng người chiến sĩ cách mạng ; hai là, xem đó là hình ảnh một người tuyệt vọng, hư vô đáng thương. Hai cách hiểu ngược nhau này, tuy không phải hoàn toàn thiếu căn cứ, nhưng nặng về căn cứ ngoài văn bản. Cách hiểu thứ nhất thể hiện một thói quen của phê bình văn học trước đây. Hễ tác giả là người chiến sĩ, thì hình tượng thơ họ thường được nâng lên hàng chiến sĩ. Cách hiểu thứ hai lại thể hiện một thói quen khác trong việc đánh giá thơ văn lãng mạn một thời. Hễ có chút phức tạp trong tình cảm là dễ bị quy cho tiểu tư sản, cô đơn, yếu đuối, hư vô, đáng thương ! Cả hai cách có chung một nguyên tắc đọc là quy chiếu (projection) – soi qua văn học để thấy một cái gì ngoài văn bản mà nhà phê bình quan tâm, do đó mà chưa đánh giá đúng mức cái nghĩa lý vốn có mà văn bản biểu đạt. Nghĩa lý ấy chính là , là cách liên hệ của ký hiệu – ở đây là văn bản hình tượng – với thông tin. Do vậy, nếu không hiểu nghĩa lý, thì dễ đi tìm thông tin vu vơ, suy diễn thiếu căn cứ xác đáng.

Trên cơ sở đó, chúng tôi đề xuất cách hiểu thứ ba (xem Văn nghệ, số 4, 1992).

Đáng tiếc là bài in trên báo Giáo dục và thời đại đã có chỗ in sai, làm ngược hẳn nguyên ý, gây khó hiểu cho bạn đọc. Cũng bài này, in trên tạp chí Văn hóa và đời sống (NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 11-1991) đã in đúng chỗ đó như sau : “Anh hầu như không thể dửng dưng, anh ra đi như một sự hy sinh những người ruột thịt, máu mủ của chính mình” (tr.27). Làm sao có thể hiểu là gia đình hy sinh người ra đi được ? Nhân đây xin được đính chính cùng bạn đọc.

Bài báo của Hoàng Ngọc Hiến (Văn nghệ, số 4, 1992) “Đầy hoàng hôn trong mắt ai ?” phần đầu, thiết nghĩ thực chất là sự diễn đạt khác đi, có chỗ tinh tế hơn, ý kiến cùng hướng với chúng tôi, theo phong cách của anh : từ việc xác định động cơ ra đi vì chí lớn, đến việc không nhất thiết phải tìm cho ra lý tưởng cụ thể của chí lớn (mà anh nói không nên khoanh lại ý nghĩa của bài thơ trong một nội dung xác định của chí lớn), từ việc ra đi là vì không muốn sống tầm thường (mà anh nói ở lại thì tù túng, quẩn quanh), cho đến tình người của bài thơ (mà anh nói chí lớn của ly khách, trong cảm xúc mới của nhà thơ, mang ý nghĩa nhân loại phổ biến), tính chất dửng dưng bề ngoài và thực chất không hề dửng dưng, v.v.

Nhưng Hoàng Ngọc Hiến đề xuất thêm vấn đề mới : “Người ra đi là ai?”. Một đấng trượng phu có hơi hướng lãng mạn hay một người lãng mạn có dáng dấp trượng phu? Chắc ai cũng dễ dàng suy nghĩ như vế thứ hai, bởi thời ấy thực tế làm gì còn đấng trượng phu có hơi hướng lãng mạn (ví dụ như kiểu Từ Hải)? Nhưng, phát huy ý kiến đó đối lập trong người ra đi một bên là “nhân vật lãng mạn”, và phần còn lại “là văn chương, là cách điệu, là trò diễn, là điệu bộ…” và nâng chi tiết “đầy hoàng hôn trong mắt trong” lên hàng “nét lãng mạn tuyệt vời ở nhân vật này”, thậm chí là nét tuyệt vời bậc nhất của thơ mới và Tự lực văn đoàn, thì Hoàng Ngọc Hiến đã hiểu chệch bản chất lãng mạn của nhân vật này. Bởi theo chúng tôi, nét lãng mạn tuyệt vời của nhân vật này trước hết là cái cao cả, cái tạo nên giọng thơ “rắn rỏi, gân guốc, không mềm mại, uyển chuyển như phần nhiều thơ bấy giờ” mà Hoài Thanh đã nhận định rất tinh tế ; là cái tư thế “dửng dưng”, “Mẹ thà coi như… Chị thà coi như… Em thà coi như…” nó làm cho ly khách thoát khỏi trường lực của tình cảm gia đình thường tình (mẹ già, chị đẹp, em đẹp, mùa đẹp, với tất cả sự bìu ríu) để đi theo tiếng gọi của cái cao cả. “Dửng dưng” đúng là điệu bộ, là nỗ lực tâm lý, nhưng đâu chỉ có thế, nó còn là lập trường chí lớn của ly khách nữa, một lập trường sắt đá, không thể lay chuyển. Nếu chỉ hiểu “dửng dưng” là “điệu bộ”, “trò diễn”, “nỗ lực tâm lý” mà không thấy là hình thức biểu hiện của “chí lớn”, thì tất cả sẽ hiểu người ra đi là lên gân, gượng gạo, giả tạo, và hoài nghi cả “chí lớn” của ly khách ; và thực chất, đó là cách hiểu của người đứng ngoài trường văn hoá của bài thơ.

“Đầy hoàng hôn trong mắt trong” là một nét đẹp chứ không phải nét cao cả. Tống biệt hành đã tạo nên sự đối thoại, đối lập nội tại giữa cái đẹp và cái cao cả trong bài thơ. Bạn đọc hãy lưu ý là trong bài này, mọi cảm nhận về vẻ đẹp, cái đẹp, đều thuộc về người tiễn : “Bây giờ mùa hạ sen nở nốt, Một chị, hai chị, cùng như sen…”, “Trời chưa mùa thu, tươi lắm thay, Em nhỏ ngây thơ, đôi mắt biếc…”, “Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong ?”… Còn người ra đi dường như chỉ có biểu hiện cao cả, một cái cao cả đã được khoa trương tới mức có vẻ như là nhẫn tâm : “Một giã gia đình, một dửng dưng”, “… không bao giờ nói trở lại”, “Ba năm, mẹ già cũng đừng mong”, “Mẹ thà coi như chiếc lá bay, Chị thà coi như là hạt bụi, Em thà coi như hơi rượu say”. Đây dĩ nhiên vẫn là lời người tiễn, nhưng là lời diễn đạt theo ý thức, ngữ điệu và từ ngữ của người đi (chứ chẳng phải của “điệu hành” nào cả). Cái hay của bài thơ là ở chỗ, cái cao cả không phủ nhận cái đẹp, không dè bỉu cái đẹp, và ngược lại, cái đẹp cũng không làm cho cái cao cả trở thành lố bịch. Và do vậy mà bài thơ thấm đẫm tình người. Chỉ thừa nhận cái đẹp, mà coi nhẹ cái cao cả, hay ngược lại chỉ đề cao cái cao cả mà xem nhẹ cái đẹp, đều không hiểu đúng bài thơ này.

Chính vì hiểu cấu trúc biểu hiện bài thơ và sự đối lập trên đây mà chúng tôi đề xuất việc phân biệt, đối lập người tiễn với người đi để phân tích. “Một người buồn bã, đau đớn nhưng vẫn dứt áo ra đi, một người muốn tiễn đưa một chinh phu truyền thống, nhưng thực tế chỉ có con người thời đại”. Trước đó người ta thiên về cách tìm hiểu gộp chung, thậm chí là đồng nhất hai hình tượng đó để lý giải. Chẳng hạn, Lê Bảo đã cho rằng : “Đây là một cuộc tự tiễn đưa mình”, “Ta ở đây đã là một sự phân thân… “Người” cũng có thể là “ta”, mà ta vốn dĩ đã là ta. Nói một cách nôm na, dễ hiểu : ta tiễn đưa ta trong một chiều buồn ly biệt. Và cũng chính sự phân thân này mà “Một giã gia đình, một dửng dưng”. Nếu không là người đưa tiễn thì không thể có “sóng trong lòng” và “hoàng hôn trong mắt trong” được”(1). Mã Giang Lân(2) và Vũ Quần Phương(3) cũng đều hiểu gần nhau, cho rằng “Tiếng sóng trong lòng, hoàng hôn trong mắt, thật ra đã thành biểu tượng của những nỗi lòng chia biệt, thảng thốt, xót xa”. Nguyễn Hoành Khung cũng viết : “Mắt đầy hoàng hôn, phải chăng là trong mắt có nỗi nhớ thương mênh mang, vời vợi, chất chứa nỗi sầu chia ly ?”(1). Như vậy hầu hết các tác giả đều không ai phân biệt tình cảm hai người, chỉ phân tích một tâm trạng chung của buổi chia ly. Điều này cũng có cơ sở nhất định. Nhưng thiết tưởng phải có đối lập mới phân tích vào chiều sâu, bởi người tiễn đang đóng vai “công cụ” khám phá người ra đi, ý thức về người ấy. Thiết nghĩ, chính nhờ có sự đối lập, tách bạch người tiễn với người đi mới làm bật ra được câu hỏi “Đầy hoàng hôn trong mắt ai” trước đó chưa được nêu ra.

Nhận xét của Hoàng Ngọc Hiến rất quý báu, nó giúp hiểu sâu thêm lôgíc biểu đạt của bài thơ. Tại sao người tiễn nói :

Đưa người, ta chỉ đưa người ấy…

Người ấy” là phân biệt với người nào ? Với sự nhạy cảm của nhà bình thơ, Vũ Quần Phương trăn trở với câu hỏi ấy. Cái sự tách bạch “ta chỉ đưa người ấy” không mang lượng thông tin nào, vì có ai trách ông có đưa thêm người nào khác đâu, nhưng câu thơ còn mang một lượng tâm hồn : người tiễn chỉ biết có người đi, họ là tất cả với nhau, xung quanh là vô nghĩa. “Người ấy” đối lập với “xung quanh”. Hoàng Ngọc Hiến hiểu câu ấy thể hiện lòng cảm phục, còn Lê Bảo thì hiểu là sự phân thân.

Thiết nghĩ, cả mấy cách hiểu ấy đều chưa hoàn toàn chính xác, chưa nói tới cái chính. Thực chất vấn đề là người tiễn bất ngờ nhận ra một con người khác, bên trong của ly khách. Ta tưởng chỉ đưa con người ấy, con người “Một giã gia đình, một dửng dưng…”, thế mà lại phát hiện thấy “đầy hoàng hôn trong mắt trong”! Chính ánh mắt đầy hoàng hôn kia đã làm anh ngạc nhiên tự hỏi (“Bóng chiều không thắm, không vàng vọt, Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?”). Phải chăng đó là  “con người ấy”? Đoạn thơ này là một đoạn thơ hai giọng :

Đưa người, ta chỉ đưa người ấy

Một giã gia đình, một dửng dưng…

– Ly khách! Ly khách! Con đường nhỏ

Chí nhớn chưa về bàn tay không

Thì không bao giờ nói trở lại!

Ba năm, mẹ già cũng đừng mong.

Lời thơ của người tiễn có khâm phục, có đau đớn, và có những câu lặp lại ngữ điệu và ý thức của người ra đi (“Một giã gia đình, một dửng dưng”, “không bao giờ nói trở lại”, “Ba năm, mẹ già cũng đừng mong…”) vừa khẳng định, vừa ngạc nhiên. Chính điều đó làm người tiễn nhớ lại chiều hôm trước, nhớ lại sáng hôm sau, và hiểu ra nỗi buồn đã có từ mấy cuộc chia tay trước. Tuy vậy, rốt cuộc người ra đi vẫn ra đi : “Người đi? Ừ nhỉ, người đi thực!…”. Bài thơ trước sau vẫn khẳng định con người mang chí lớn ra đi, nhưng đồng thời nó cũng khẳng định một con người thật. Người đi không chỉ có dáng dấp trượng phu “thoắt đã động lòng bốn phương” kiểu Từ Hải, mà còn có cái thật của tình cảm lúc chia biệt của người lính thú đời xưa. Hiển nhiên, đây không phải là cuộc ra đi đáng thương, đẫm nước mắt, mà là cuộc ra đi tự nguyện đầy lãng mạn. Giây phút “Tống biệt” có ý vị vĩnh biệt này là một dạng của “thời điểm khủng hoảng” của con người buộc người trong cuộc bộc lộ hết bản chất nhân tính chân thật của mình. Cho nên “đầy hoàng hôn trong mắt trong” không chỉ là dấu hiệu của nỗi buồn, mà ở đây nó còn là dấu hiệu của con người thật đang bị che giấu. Cái hay của bài thơ chính là sự miêu tả vẻ đẹp của con người cao cả trong toàn bộ sự biểu hiện chân thật của nhân tính, đầy tinh thần nhân đạo.

III

Có người cho rằng ý nghĩ ra đi như cách hiểu trên đây xem ra tàn nhẫn quá, muốn tìm một cách hiểu “nhân ái” hơn, đã đề nghị không nên bị “ám ảnh bởi mấy chữ thà”, và diễn ý các câu thơ trong khổ cuối là :

Người đi! Ừ nhỉ, người đi thực!

Xin mẹ hãy coi con như chiếc lá bay

Xin chị hãy coi em như hạt bụi

Xin em nhỏ coi anh như hơi rượu say.

Mới xem qua thì có vẻ hợp thời thượng, nhưng có lẽ không phù hợp với bài thơ. Nhà thơ sử dụng lối trùng điệp lặp lại chữ thà để gây ấn tượng thì bảo đừng nên “ám ảnh”. Vậy là nhà thơ non tay quá, dùng chữ để người ta hiểu sai ý ông, đòi hỏi phải giải thích lại! Nhà thơ lại còn rất kém cỏi về tâm lý nữa : em bé “ngây thơ đôi mắt biếc” làm gì đã biết uống rượu say, và nhất là chưa hiểu việc gì đang xảy ra, làm gì có được cử chỉ phớt đời để mà “coi anh như hơi rượu say”?! Nhà thơ lại cũng chưa biết viết thông được một khổ thơ. Dòng một đang là ý nghĩ của người tiễn, nhảy một cái, ba dòng tiếp là ý nghĩ và lời của người ra đi! Cả khổ thơ đều là lời của người tiễn đưa, chẳng có cơ sở nào để biến nó thành lời của người ra đi cả.

Thực ra, nhà thơ Thâm Tâm rất già dặn, chỉ có người đọc non nớt mà thôi.

Đọc thơ văn nên tôn trọng cái mạch lôgíc vốn có của văn bản. Tính đa nghĩa của văn bản cũng do cấu trúc khách quan của nó biểu hiện, chứ không phải do ý muốn của người đọc muốn gán vào thế nào cũng được.

Trần Đình Sử Nguồn: https://trandinhsu.wordpress.com/2021/06/12/ba-bai-binh-bai-tho-tong-biet-hanh-cua-tham-tam/

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *