Một số tác phẩm thơ của Trần Huyền Trân

mưa bay trắng lá rau tần
thuyền ai bốc khói xa dần bến mưa…
có người về khép song thưa
để rêu ngõ trúc tương tư lá vàng.

Nhà thơ Trần Huyền Trân

Độc hành ca

1.
Ớ kìa thiên hạ đang say
Ớ nghìn tay nắm nghìn tay đang cười
Nhớ nhau nhạt thếch rượu đời
Tay vo chỏm tóc ta ngồi ta ca
Tình tang lỗi nhịp mình ta
Thương về đầu bạc xót ra má hồng
Tình tang ai vợ không chồng
Võng đưa ai mẹ bế bồng không con
Nằm đây thép rỉ son mòn
Cái đi mất mát cái còn lần khan
Cúi đầu bóng rét vương chân
Ngẩng lên đã đụng giời xuân trên cành
Không vui rau cỏ không đành
Mà cười nghe chửa ngọt lành trái mơ
Đã toan ném bút vùi thơ
Thõng buồng tay áo sợ dơ dáng đời
Trót thừa, ừ ngược ừ xuôi
Chút thân tâm sự ra người hát ngao
Giao tình tợp chén chiêm bao
Ngựa Hồ thôi gió bấc nào đạp xuân
Đây người áo đỏ tầm xuân
Đấy đi tang trắng mấy lần trùng quan
Không dưng rét cả dây đàn
Này cung dâng áo ngự hàn là đây!
2.
Đêm nay cũng đổ bụi giày
Miệng cười ha hả thơ mày rượu tao
Say đời nhắm lẫn chen bao
Thơ ra miệng dại, sầu vào mắt điên
Đầu bừng khí núi đang lên
Sá gì bóng tối đắp trên thân còm
Gặp thời xô xát nước non
Ta trôi ngươi chảy lòng còn ngó theo
Đưa nhau qua bữa cơm nghèo
Đứa sầu gào rượu đứa nheo mắt cười
Vung tay như vạch ngang trời
Bảo rằng đâu nữa cái thời ngất ngư
Chén mồi dù hắt ưu tư
Sao cho ráo được gió mưa lội lầm
Cõi ngoài trăm họ muôn dân
Sống trong rau cỏ vẫn thầm khóc than
Sao ta lì mãi ruột gan
Đời ai mắt sáng hơn vàng mà mong
Chẳng nghe đỏ khé sông Hồng
Sóng ngàn xưa vẫn đọng lòng ngàn sau
Chẳng nhìn bóng đá thâu thâu
Non Lam như kẻ gục đầu còn thương
Chẳng hoài thóc giống vất vương
Giếng khô lấp sạch cây vườn rụi hoa
Trách nào trái rụng hương sa
Cốt muôn trẻ đắp muôn già càng cao
Mồ hôi làm suối chiêm bao
Nguồn sinh vô lượng đổ vào vô biên
Lũ mình rắp hận thành điên
Cái câm thưở ấy cười lên thưở này
3.
Thế rồi thí bỏ rủi may
Đứa giam cõi bụi đứa đày rừng sâu
Vai cày chẳng kẻo làm trâu
Giong xe chẳng kẻo tóc râu làm bờm
Nẻo về chật chội áo cơm
Dặm đi lại động từng cơn lá rừng
Lòng ta không sóng không dừng
Thơ vang lại vướng mấy từng cửa quan
Ngẩng thì núi quấn mây tang
Kìa Đông lửa cháy kìa Nam khói mù
Tóc xanh như cỏ trên mồ
Đời hoang chôn cả xuân thu một thời
Nghêu ngao cho sập bóng ngày
Khề khà cho ráo hận đầy từng hơi
Chiều nay nhấc chén lên môi
Không dưng tưởng nhắp máu người tanh tanh
Khóc nhau ném chén tan tành
Nghe vang vỡ cái bất bình thành thơ.

Hết cố nhân

Lên thang nghe gió nhủ mưa thầm
Gác trọ không đèn hết cố nhân!

Ta trở về đây không gối chăn
Một mình ly rượu… rét căm căm
Không là lính thú sầu biên ải
Cũng thấy lòng chia dưới cát lầm!

Nhớ lại mùa mưa những thuở nào
Rượu rồi nâng cổ áo lên cao
Dăm ba mồi thuốc đi chung bóng
Lòng chép cho lòng bao chiêm bao!

Gối mãi đêm dài lên bút giấy
Dong đèn cho cạn giọt trầm tư
Đời như quán vắng khi tàn khách
Đâu những cồn mây rối tóc bù.

Nào biết mộng người đi những đâu
Chả buồn qua lại cánh song nhau!
Một hai ba bốn ngày nay nữa
Cây cỏ lòng hoang đến bạc đầu

Tro bụi giờ trơ lại chiếu hồng
Nhà như cổ mộ mặc thây lòng
Gia đình đắp đổi tình thiên hạ
Cho hết không còn nước mắt trong!

Lên thang nghe gió nhủ mưa thầm
Gác trọ không đèn, hết cố nhân!
Nhấc chén nghĩ khinh người Chiến Quốc
Phù hoa thường đổi mất tri âm!

Nguồn: Cùng một lứa bên trời lận đận – Tuyển thơ nhiều tác giả, NXB Thanh Niên, 2009.

Khóc Tản Đà

Đêm kia sao rụng trên trời,
Cõi trần lạnh lẽo mất người bạn thơ.
Nước non này mảnh dư đồ,
Mà hồn non nước bây giờ tìm đâu.
Lấy gì trời đổi cho nhau,
Người sương gió nhuộm mái đầu bấy nay?

***

Bao lâu tỉnh tỉnh say say,
Say say tỉnh tỉnh lần này mà thôi!
Chiều nay tám chín phương trời,
Muôn ngàn người có một người đi qua.
Dở dang này những ngày xưa:
“Người non nước hẹn thế cờ nước non.
Khối tình lớn, khối tình con,
Khối tình bóp bẹp vo tròn lại nguyên.”
Lòng thơ lấy rượu làm duyên,
Hồn thơ xuôi ngược con thuyền “An Nam”.
Não nùng chớp bể mưa ngàn,
Thuyền nan hờn sóng thuyền nan trở về.
Mai mai, mốt mốt, kia kia,
Cảnh rầu rỉ cảnh lòng tê tái lòng!
Hôm nao vút cánh chim hồng,
Mình không thẹn bóng, bóng không thẹn mình.
Giờ sao thui thủi gia đình,
Rượu cay càng gởi bất bình càng cay.
Mịt mù Nam, Bắc, Đông, Tây,
Đã đầy mộng lớn, đã đầy mộng con!
Còn gì là tấm lòng son!
Thân tàn một kiếp, chí tròn bốn phương.
Rồi… gió sương trả gió sương,
Nét thơ xoá sổ “đoạn trường” ra đi!
Nguồn: Việt Nam thi nhân hiện đại, Nguyễn Tấn Long và Nguyễn Hữu Trọng, Xuân Thu tái bản, 2000

Bút tích của Trần Huyền Trân, ngày ở Cống Trắng, Khâm Thiên cùng Thâm Tâm, Nguyễn Bính

Khúc hát tương tư

Em ơi! Đã có đêm nào
Bóng con chim mộng bay vào màn em
Mỏ hiền thỏ thẻ ưa duyên:
Sao hoa dạ hợp từng đêm ngậm sầu?
Phải đây mùa nhớ thương nhau
Chim ngoài ngọn gió, hoa đầu cành mưa,
Biết yêu thì khổ có thừa
Hình dung cho lắm, tương tư lại nhiều!
Xa em, gió ít, lạnh nhiều
Lửa khuya tàn chậm, mưa chiều đổ nhanh.
Bóng đơn đi giữa kinh thành
Nhìn duyên thiên hạ, nghe tình người ta.
Đêm dài, chợt cánh thiên nga
Vo chăn mấy bận vẫn là chiêm bao!

Nguồn: Tuyển tập thơ “Tình bạn tình yêu” xuất bản năm 1987

Lưu biệt

Thôi thế anh về yên xóm cỏ
xứ nghèo đã cỗi gốc yêu thương
nhớ nhau vẩy bút làm mưa gió
cho đống xương đời được nở hương

thôi thế anh về yên xóm cỏ
ngoài kia thiên hạ bụi đang lên
xá gì khi thép còn hơi lửa
còn cần nước mắt để tôi thêm

thôi thế anh về yên xóm cỏ
có buồn khêu lại ngọn tàn đăng
chứ tôi bệnh trẻ không than thở
với chiếc đầu lâu chẳng nói năng

thôi thế anh về – tôi đi đây
cây nào có gió không thèm lay
chim nào có cánh không thèm bay
lòng nào có máu không thèm say

tôi đi thực đấy! dù gian khổ
đời có như người lính bị thương
một tối rùng mình lau máu ró
cũng không khép mắt đóng sa trường

tôi đi đã biết lúc quay về
bóng dáng tôi xưa sẽ nặng nề
bên mẹ già tôi lau mắt lệ
thương tôi vạt áo đụp còn che

thôi đợi mùa nao trái chín lành
tóc này về rúc với râu anh
bấy giờ hắt toẹt ba chung rượu
cười để tâm tình thuở tóc xanh

Nguồn: http://www.oldcottage.net…thicatinhhoa/luubiet.html

Mưa đêm lều vó

Mưa lũ ao bèo mưa trắng đêm
Cây bờ ngơ ngác nước đang lên
Lều tôi kiến đã rời lên mái
Bà lão chài lo chửa có thuyền

Vó nghèo được nước đã lê thê
Đàn cá giang hồ nhảy nhót đi
Cả cụm bèo xanh nằm cạn mãi
Cũng như cất cánh gọi không về

Tôi ở lều gianh Cống Trắng này
Chạnh lòng cá nhẩy với chim bay
Đêm sầu kẽo kẹt ngư bà thức
Giăng phải hồn tôi một lưới đầy

(Khâm Thiên, 1938)

Tương tư

phải đây mùa nhớ thương nhau
chim ngoài ngọn gió hoa đầu cành mưa
biết yêu thì khổ có thừa
hình dung một thoáng tương tư chín chiều
xa nhau gió ít lạnh nhiều
lửa khuya tàn chậm mưa chiều đổ nhanh
bóng đơn đi giữa kinh thành
nhìn duyên thiên hạ nghe tình người ta
đêm về hương ngát bên hoa
tỉnh ra thì lại vẫn là chiêm bao

Độc hành ca

Ớ kìa! Thiên hạ đang say
Ớ nghìn tay nắm nghìn tay đang cười…
Nhớ ngươi, nhạt thếch rượu đời
Tay vo chỏm tóc, ta ngồi ta ca.

Tình tang lỗi nhịp mình ta
Thương về đầu bạc, xót ra má hồng
Đèn chong, ai vợ không chồng
Võng đưa ai mẹ bế bồng không con
Nằm đây thép rỉ son mòn
Cái đi mất mát, cái còn lần khân
Cúi đầu bóng rét vương chân
Ngẩng lên đã đụng trời xuân trên cành
Không vui sâu cỏ không đành
Mà cười nghe chửa ngọt lành trái mơ
Đã toan ném bút, vùi thơ
Thõng không tay áo sợ dơ dáng đời
Trót thừa ừ ngược ừ xuôi
Chút thân tâm sự ra người hát ngao
Giao tình tợp chén chiêm bao
Ngựa Hồ thôi gió bấc nào đạp chân
Đây người áo đỏ tầm xuân
Đấy đi tang trắng mấy lần trùng quan

Không dưng rét cả dây đàn
Này cung dâng áo ngự hàn là đây

Đêm nay cùng đổ bụi giầy
Miệng cười ha hả, thơ mày rượu tao
Say đời nhắm lẫn chiêm bao
Thơ ra miệng dại, sầu vào mắt điên
Đầu bồng khí núi đang lên
Sá gì bóng tối đắp trên thân còm
Gặp thời xô xát nước non
Ta trôi, ngươi chảy, lòng còn ngó theo
Đưa nhau qua bữa cơm nghèo
Đứa sầu gào rượu, đứa nheo mắt cười
Vung tay như vạch ngang trời
Bảo rằng đâu nữa cái thời ngất ngư
Chén mồi dù hắt ưu tư
Sao cho ráo được gió mưa lội lần
cõi ngoài trăm họ muôn dân
Sống trong rau cỏ vẫn thầm khóc than
Sao ta lì mãi mật gan
Đời ai mắt sáng hơn vàng mà mong
Chẳng nghe đỏ khé sông Hồng
Sóng ngàn xưa vẫn động lòng ngàn sau
Chẳng nhìn bóng đá thâu thâu
Non Lam như kẻ gục đầu còn thương
Chẳng hoài thóc giống vất vương
Giếng khô lấp mạch, cây vườn rụi hoa
Trách nào trái rụng hương sa
Cốt muôn trẻ đắp muôn già càng cao
Mồ hôi làm suối chiêm bao
Nguồn sinh vô lượng đổ vào vô biên

Lũ mình rấp hận thành điên
Cái câm thuở ấy cười lên thuở này

Thế rồi thí bỏ rủi may
Đứa giam cõi bụi, đứa đày rừng sâu
Vai cày chẳng kẻo làm trâu
Giong xe chẳng kẻo tóc râu làm bờm
Nẻo về chật chội áo cơm
Dặm di lại động từng cơn lá rừng
Lòng ta không sóng không đừng
Thơ vang lại vướng mấy tầng cửa quan
Ngẩng thì núi quấn mây tang
Kìa đông lửa cháy, kìa nam khói mù
Tóc xanh như cỏ trên mồ
Đời hoang chôn cả xuân thu một thời
Nghêu ngao cho sập bóng ngày
Khề khà cho ráo hận đầy từng hơi
Chiều nay nhắc chén lên môi
Không dưng tưởng nhấp máu người tanh tanh
Khóc nhau, ném chén tan tành
Nghe vang vỡ cái bất bình thành thơ…

Khâm Thiên, 1940

Sầu chung

(tặng Quách Thị Hồ)

Tự cổ sầu chung kiếp xướng ca
Mênh mang trời đất vẫn không nhà
Người ơi! Mưa đấy hay xênh phách
Tay yếu gieo lòng xuống chiếu hoa

Đời bảo nơi đây cõi mộng hờ
Lòng ai sa mạc chả mong mưa
Canh tàn rũ áo còn lau mắt
Bụi đã vương đầy nghĩa tóc tơ

Thôi khóc chi ai sống đọa đầy
Tỳ bà tâm sự rót nhau say
Thơ tôi gửi tặng người ngâm nhé
Cho vút giọng sầu tan bóng mây.

1942

Trần Huyền Trân, Thâm Tâm, Nguyễn Bính – Vương Trí Nhàn

Tuy đã từng viết nhiều về những cảnh sống cùng cực về các tầng lớp dân nghèo Hà Nội, một Hà Nội lầm than đau khổ, nhưng nhiều nhà văn trước cách mạng thật ra chúng chưa đến nỗi nào lắm. Họ thường là dân làm báo hoặc dạy tiểu học, sống không sung túc, thì cũng tạm đủ ăn. Đôi khi họ phải cúi xuống, mới thông cảm được với các tầng lớp mà xã hội lúc đó gọi là hạ lưu. Thậm chí có trường hợp như người ta đồn đại về Tam Lang: để viết Tôi kéo xe đâu nhà báo này đã phải làm giả phu xe, cũng đi thuê xe để hành nghề, từ bỏ những món thỏ nấu với rượu vang quen thuộc để ăn những bữa cơm hẩm chan xáo lòng bò như mọi phu xe, khiến cho nhà phê bình Vũ Ngọc Phan, phải nghi ngờ “Người ta bảo cái đầu đề Tôi kéo xe là sai, vì cái thân thể tác giả mà nhiều người đã biết, tác giả không thể nào cầm hai càng xe được”.
Nhưng ngay trong lòng Hà Nội, thường cũng có một lớp người viết sống rất nghèo khó, như dân thất nghiệp, họ lam lũ làm văn làm báo như người khác cày thuê cuốc mướn. Báo của họ bán không chạy, sách in ra không gây được tiếng vang gì lớn. Nhưng họ vẫn gắn bó với nghề, với Hà Nội, và vừa sống vừa viết một cách thanh thản.
Lớp nhà văn vô sản này đại khái như Trần Huyền Trân, Nguyễn Bính, Thâm Tâm, Nam Cao, Tô Hoài.
Trong một bài phát biểu, nhân dịp 40 năm Đề cương văn hoá, nhà thơ Trần Huyền Trân kể:
– Ngày ấy tôi thường đi dạy tư và làm báo, viết truyện để sống, để có tiền đỡ thêm cho mẹ tôi nuôi các em tôi còn nhỏ vì cha tôi đã mất từ hồi tôi chín tuổi.
Vì quá chật chội trong túp lều vó dựng trên một ao bèo đầy nước cống mà người ta gọi là đầm Liên Hoa cạnh làng Văn Chương ở phía sau miệng Cống Trắng giữa dãy phố Khâm Thiên, túp lều mà ông dượng – người chồng sau của mẹ tôi – dựng lên để ngày đêm kéo vó kiếm ăn, tôi với Thâm Tâm bèn thuê một căn gác nhỏ trong ngõ Sơn Nam cạnh đầm để ở. Sau này có thêm Nguyễn Bính ghé tạm cùng nương náu với chúng tôi trong thiếu thốn lần hồi.
Như vậy, đây đúng là một người gốc gác Hà Nội, và làm thơ, viết văn để diễn tả cái vang động của Hà Nội trong lòng mình, bắt rễ vào Hà Nội, điều đó ở ông đã trở thành thân phận, thành kỷ niệm riêng.

Bóng đơn đi giữa kinh thành
Nhìn duyên thiên hạ nghe tình người ta.

Trần Huyền Trân là người của thân phận bọt bèo, là người sống giữa Hà Nội (trước cách mạng) mà không thấy đây là Hà Nội của mình và thái độ trong thơ bao giờ cũng là thái độ không chấp nhận đời sống. Nhà thơ đứng đối lập với thế giới phù hoa chung quanh. Thỉnh thoảng, trong đám phù hoa ấy cũng có những bà, những cô ngó ngàng một chút tới thân phận nhà thơ, nhưng Trần Huyền Trân đã phản ứng đến cùng (bài Hỏi bà, với những câu kiểu như: Hay gì bà hỏi đến tôi – Khóc thì trái thói mà cười vô duyên.v.v…) Thơ Trần Huyền Trân vì thế xót xa, phẫn nộ, đau đớn, đơn độc một cách đầy khí phách.
Như các tài liệu lịch sử văn học (chẳng hạn, các tác giả viết Từ điển văn học, 1984) đã chỉ rõ Trần Huyền Trân làm thơ sớm, từ khi mới có phong trào thơ mới. Bản thân ông lại có quan hệ riêng với Tản Đà, từng có bài thơ kể chuyện uống rượu và tâm sự với tác giả Khối tình con. Vậy mà, những thơ truyện in trên Tiểu thuyết thứ bảy không mấy khi được nhắc nhở hình như giới văn học chính thức ở Hà Nội, trước cách mạng vẫn chưa chính thức công nhận thơ Trần Huyền Trân (đến nay 1985 tập thơ riêng của ông mới được xuất bản!). Song càng như thế, thơ Trần Huyền Trân càng có khí phách. Đó là những bằng chứng về một khía cạnh khác của Hà Nội, Hà Nội lầm than nhưng cứng cỏi, nghèo túng nhưng vẫn hào phóng và giữ được nhân cách, tóm lại là một Hà Nội mà bọn giàu có trọc phú, thậm chí những kẻ nông nổi, tầm thường không dễ chấp nhận.
Hai người cùng thân phận với Trần Huyền Trân lúc ấy là Thâm Tâm và Nguyễn Bính.
Thâm Tâm quê Hải Dương theo gia đình lên thủ đô từ nhỏ, học tiểu học cũng ở Hà Nội. Còn Nguyễn Bính mới từ Nam Định, Hà Đông lang bạt lên sau. Nhưng dù lên với Thủ đô sớm hay muộn, thì họ đều khổ. Giữa lòng kinh thành gió bụi, cuộc sống của họ nhiều khi rất bấp bênh và chỉ bởi lẽ thế nào cũng sống không tủi với cái nghèo, lại biết nương tựa vào nhau nên mới sống được.
Về đời riêng của Thâm Tâm, ngày nay chúng ta còn biết rất ít. Theo sự ghi nhớ của một ký giả đương thời, thì ông là người “đa bất mãn hoài”. Ông sống rất nghèo, hay phải đi vay tiền trước những chủ báo, chủ xuất bản mà ông viết thuê, để rồi không được thì rất ngượng, rất đau, và càng sinh phẫn.
Trong sáng tác, giữa Trần Huyền Trân và Thâm Tâm có những nét chung. Mặc dù không làm nhiều thơ, Thâm Tâm vẫn tạo được một ấn tượng sâu đậm “gấp” “gắt” (chữ của Hoài Thanh. Thi nhân Việt Nam) trong bài Vọng nhân hành. Bài thơ nói tâm trạng chí khí của lớp người đầy phẫn uất, như Thâm Tâm, Trần Huyền Trân và bạn bè cùng nhóm. Họ “từ tứ chiếng” họp lại. Họ hiểu rằng những lời thơ thống thiết của mình có thể có ích cho xã hội “Rằng đương gió bụi thì tôi tả – Thiên hạ phải dùng thơ chúng ta” Nhưng thời thế đâu đã tới với họ.

Thơ ngâm dở giọng thời chưa thuận
Tan tiệc quân anh, người nuốt giận
Chim nhạn chim hồng rét mướt bay
Vuốt cọp chân voi còn lận đận.

Toàn bộ những dằn vặt, những đau đớn này – gắn chặt với Hà Nội. Mở đầu bài thơ đã có nhắc: “Thăng Long đất lớn chí tung hoành – Bàng bạc gương hồ ánh mắt xanh”. Ở một đoạn sau, lại láy lại: “Sông Hồng chẳng phải xưa sông Dịch – Ta ghét hoài câu nhất khứ hề”. Sau hết, hai câu gần cuối cũng rất có không khí.

Ngoài phố mưa bay, xuân bốc rượu
Tấc lòng mong mỏi cháy tê tê.

Thơ Đường cũ có bài Xuân phân, cũng nói tới rượu ở một Hạnh hoa thôn nào đó (Tá vẫn tửu gia hà xứ hữu. Mục đồng dao chỉ Hạnh hoa thôn), nhưng trong đó, rượu làm cho người ta say đi. ở Thâm Tâm, hình như thi nhân càng uống càng tỉnh. Chỗ cay đắng tỉnh táo ở đây, có lẽ là do không khí phố xá thành thị chăng? Nếu đúng như thế, thì thành thị (Hà Nội) trong thơ Thâm Tâm đã trở thành một yếu tố mới mẻ, và đáng ghi nhận.
Cũng không phải ngẫu nhiên mà về sau, Thâm Tâm bước vào hàng ngũ các chiến sĩ Vệ quốc, làm báo rất chăm chỉ và hết lòng, viết từng mục nhỏ, không bao giờ quản ngại.
Cùng nhóm với Trần Huyền Trân, Thâm Tâm, những năm trước cách mạng, song Nguyễn Bính lại có nét khác. Thơ Nguyễn Bính không có cái phẫn, mà hồn nhiên dễ dàng hơn nhiều.

Nhà em ở cuối kinh thành
Bên hồ Trúc Bạch nước xanh men chàm.

Đấy là mấy câu trong bài Gửi chị Trúc, những câu tự nhiên như lời buột ra đầu miệng, nhằm kể với người thân về tỉnh cảm sống của tác giả lúc ở Hà Nội. Đúng là cảnh sống của những thanh niên nghèo giữa kinh thành hoa lệ. Tuy vậy, “Chàng trai tầm thường trông lại quê quê” nay không lấy thế làm xấu hổ.
Nguyễn Bính không phải loại người học đòi, cũng không dễ có những mặc cảm như một số người khác ông vẫn giữ nếp sống như hồi ở các tỉnh nhỏ, ở làng quê. Nghĩa là chỉ biết những say mê của mình, những ý thích của mình, còn không ngượng nghịu về cái nghèo, cái hèn bao giờ. Hà Nội trong ông không gây ra một ngạc nhiên chấn động gì đáng kể, mà chỉ là nơi ông sống, làm việc, yêu đương như các nơi khác.
Cái nhìn của ông đối với Hà Nội nhiều khi thật thản nhiên, như câu thơ nọ.

Sáng nay sau một cơn mưa lớn
Hà Nội bừng lên dưới nắng vàng

Trong sáng tác cũng vậy, Nguyễn Bính cứ “hát những bài hát của mình” về chất thơ, trong khi Trần Huyền Trân “thật hạt” Hà Nội thì Nguyễn Bính rõ ra của chân quê: giống như chàng Exênhin, ông cũng lạc lên thành phố, song tâm hồn vẫn để ở cả mái đình, giếng nước, cái yếm lụa sồi và chỉ diễn tả cái đó mới hay.
Thơ Nguyễn Bính đương thời đã khá được ưa chuộng, theo Tô Hoài nhớ, thì đây là nhà thơ duy nhất sống được bằng nhuận bút (cố nhiên là chỉ sống nghèo); không phải vì thế mà Nguyễn Bính thành thị hoá. Nhà thơ chỉ lang thang ở đây, như có lúc, sẽ lang thang lên Phủ Lạng Thương, Bắc Giang và sau này lăn lóc với tận các tỉnh phía nam.
Bấy giờ, Hà Nội trong Nguyễn Bính chỉ còn mờ mờ ảo ảo, không rõ rệt. Đây là những câu thơ trong bài Một con sông lạnh:

Chưa say, em đã say gì
Chúng tôi còn uống còn nghe em đàn
Rưng rưng ánh nến hoa vàng
Đôi dây nức nở muôn ngàn nhớ thương
Đôi dây như thế đôi đường
Em ơi! Hà Nội là phương hướng nào

(trong tập Hương cố nhân)

Những năm gần cách mạng, trong cơn say phiêu lưu, Nguyễn Bính vào Huế, rồi vào Nam bộ, đi đến đâu cũng giữ hồn thơ chân quê và cách sống không mặc cảm của mình. Sau khi tham gia kháng chiến chống Pháp ở Nam Bộ, tập kết ra Bắc, trở lại Hà Nội, cũng không có chút đảo lộn gì lắm trong cách nhìn, cách viết, tuy bây giờ bạn bè của ông có đông hơn, không khí văn nghệ sôi nổi, khác hẳn trước kia. Cuối cùng, Nguyễn Bính từ giã Hà Nội cũng giản dị. Ông về Nam Định công tác, chỉ thỉnh thoảng mới lên Hà Nội có việc họp hành, sinh hoạt gì đấy. Trở lại quê hương ở ngoại thành Nam Định, ông có một nếp nhà ấm cúng. Sau thời gian “dan díu với kinh thành”, nay chàng Exênhin mới lại trở về với cái phần cội nguồn, chân chính của thơ mình!

Thâm Tâm và Trần Huyền Trân – Vương Trí Nhàn

Vài nét tiểu sử
Thâm Tâm Nguyễn Tuấn Trình (1917-1950) làm thơ, viết kịch, viết truyện, nổi tiếng với bài thơ Tống biệt hành. Tác phẩm: Thơ Thâm Tâm (1988).
Trần Huyền Trân (1913-1989), tác phẩm chính: Rau tần (1987).
Thơ của những kẻ “rừng đời lạc lối”

Nhu cầu thưởng thức nghệ thuật có lẽ là một nhu cầu kỳ lạ nhất của con người. Nó có thể chấp nhận mọi “mặt hàng” hết sức khác nhau, thậm chí trái ngược nhau. Nó cũng đa dạng như chính đời sống.

Những người mê tranh dân gian Đông Hồ (từ Đám cưới chuột, Đánh ghen, Hứng dừa đến các loại tranh lợn, tranh gà, Thầy đồ cóc…) có lẽ ít biết rằng thật ra các bức tranh này đều có tác giả. Chỉ hiềm một nỗi phần lớn những người đã vẽ nên chúng lại sống rất vụng. Trong cảnh vợ ốm, con đau thúc ép, người nghệ sĩ tài hoa phải cố vẽ lấy được vài bức tranh rồi mang bán thật nhanh, không còn thì giờ mà nghĩ ngợi xem tác phẩm ra sao, có xứng đáng với tên tuổi mình hay không. Trong đa số trường hợp, các ý đồ tốt đẹp đổ vỡ tan tành và chỉ để lại mấy mảnh vụn là những tác phẩm dang dở. Nhưng cũng đôi khi, trong cảnh thúc ép, ngòi bút trở nên xuất thần và tác phẩm thu được là một cái gì vượt lên bình thường, chắc chắn là lúc tỉnh táo bình tĩnh, người ta không làm nổi.

Cố nhiên loại nghệ sĩ tài tử vừa nói là sản phẩm của nền nếp sinh hoạt trung cổ, khi các thị trường nghệ thuật chưa hình thành và việc sáng tạo còn lẫn với các hoạt động kiếm sống khác. Có điều là ngay trong nước Việt Nam thời tiền chiến, không phải đã hết loại người kì lạ đó. Cả Thâm Tâm lẫn Trần Huyền Trân đều có cuộc đời riêng khá éo le kỳ cục. Mỗi khi nghĩ tới họ, trong đầu óc những người yêu thơ luôn luôn hiện lên một ám ảnh: đáng lẽ họ phải viết được nhiều hơn, đáng lẽ thơ của họ phải được xuất hiện trong những thi phẩm trang trọng và cuộc đời của họ phải sung sướng. Nhưng mọi chuyện lại cứ luôn luôn oái oăm hơn là ta vẫn tưởng và đôi lúc người yêu thơ chỉ còn có cách tự an ủi: biết đâu nhờ những long đong lật đật như thế mà họ lại viết được những vần thơ thật tuyệt.

Nghịch phách, cô đơn, giá buốt

Trong cuộc sống trôi dạt, khía cạnh đầu tiên thường thấy trong tiểu sử nhà thơ sống vụng về là một sự tản mạn. Tác phẩm của họ như con rơi, con vãi tản mát khắp nơi, chính họ cũng không nhớ hết là bản thân đã viết nên những thứ gì nữa. Và việc tập hợp để công bố thì chính các tác giả lại rất chểnh mảng. Sau mấy lần thất lạc, mãi tới 1987, bản thảo Rau tần của Trần Huyền Trân mới được in ra, nhưng là ở dạng một tập sách 48 trang, không có gáy, thơ đóng ghim, và một số bài xếp nối đuôi nhau khá chật chội. Trường hợp Thâm Tâm cũng bi đát không kém, cho đến nửa thế kỷ sau khi qua đời, nhiều bài thơ Thâm Tâm vẫn chưa được sưu tầm đầy đủ (chẳng hạn, trong số Văn nghệ đặc san tháng 4/1992 người ta lại đưa ra một bài mới). Tại sao có sự lơ đãng kéo dài đến vậy, lý do có thể tìm ngay ở quan niệm về thơ của từng tác giả. Với họ, thơ là một cái gì ngẫu nhiên xuất hiện. Lúc bạn bè gặp gỡ khề khà chén rượu hoặc khi một mình một bóng quẫn bách đau đớn thì vớ lấy bút để viết. Viết cho vơi những buồn vui chứa chất trong lòng. Thơ làm ra không cốt công bố, chứ đừng nói mang bán. Được vài người bạn thật tâm đắc hiểu cho đã cảm thấy được bù đắp hoàn toàn.

Rộng hơn câu chuyện quy trình sản xuất, thật ra ở đây có chuyện cốt cách con người, nhân tố quy định cả cách ứng xử của người làm thơ lẫn nội dung thơ và nhất là cái phần nội dung đã chuyển thành hình thức, là hơi thơ, giọng thơ. Trong khi vẫn khác hẳn nhau, như những phong cách riêng biệt, cả Thâm Tâm lẫn Trần Huyền Trân đều có một nét chung: cốt cách thi nhân cổ ở họ quá mạnh. Không phải ngẫu nhiên mà trong thơ họ, từ Hán Việt khá nhiều và được dùng khá nhuần nhuyễn. Hơn thế nữa, cái hơi hướng toát ra từ nhiều bài thơ cứ xui ta nhớ tới phần thơ biên tái trong thơ Đường. Đặt bên cạnh những Thế Lữ, Xuân Diệu, cái tôi của họ không phải không mạnh bằng, nhưng định hướng của cái tôi đó thì hoàn toàn khác hẳn. ở một người như Xuân Diệu, đó là cái tôi ham sống, muốn sống thật đã đầy, và chỉ sợ người ta quên mình trong bữa tiệc lớn của cuộc đời. Ngược lại, cái tôi ở Thâm Tâm, Trần Huyền Trân là cái tôi của kẻ đi ngược gió (tên một bài thơ của Thâm Tâm), không chịu hùa theo đời.
– Hay gì bà hỏi đến tôi
Khóc thì trái thói mà cười vô duyên

(Trần Huyền Trân, Thưa bà)
– Lòng ai bầm tím, ai buồn tối
Cũng tại rừng đời lạc lối ra

(Thâm Tâm, Hoa gạo)
Ngậm lời tráng khí, chim bằng ốm
Chuyện lúc thương tâm gái điếm già
Gió thốc hàng hiên lười viễn mộng
Mưa rào mặt cát gợi ly ca
Phiếm du mấy chốc đời như mộng
Ném chén cười cho đã mắt ta

(Thâm Tâm, Can trường hành) Biết rằng khác đời là rất khổ, nhưng không tìm được cách để hòa hợp, họ đành bằng lòng với cô đơn giá buốt, và thỉnh thoảng lắm, tìm thấy chút hơi ấm ở những người cùng cảnh ngộ (Thâm Tâm, Ngược gió; Trần Huyền Trân, Với Tản Đà, Lưu biệt – tặng Lê Văn Trương, Sầu chung – tặng Quách Thị Hồ). Sự ngang tàng trái khoáy ở đây không phải là vay mượn, là bị tố lên, mà hiện ra như một cái gì kìm giữ không nổi phải buột ra, òa ra vỡ ra, nên lại có vẻ cao sang riêng, và thường khi cả sự duyên dáng riêng nữa.

Quả trái mùa độc đáo

Cũng như mọi ngành nghề khác, con đường phát triển của những người làm công việc sáng tạo ở nước ta đầu thế kỷ này là con đường chuyên nghiệp hóa. Nhưng nghịch lý của nghề văn là ở chỗ trong khi buộc người ta phải làm hàng đều đều, nó lại vẫn yêu cầu mỗi nhà văn nhà thơ phải giữ được vẻ tươi nguyên trong xúc cảm, và càng tỏ ra ít làm nghề càng tốt. Chính ở chỗ này một số ngòi bút gọi là chuyên nghiệp trong đời sống văn học tiền chiến bộc lộ sự non yếu của mình. Vì mải làm hàng – bảo đảm mặt hàng, để rồi bảo đảm thu nhập – một số đâm ra nhênh nhang bôi bác, hoặc gò gẫm cố ý, tự lặp lại trông thấy mà không sao khắc phục nổi. Nhìn vào một “ông lớn” có thời rất sang trọng như Lê Văn Trương, một thi sĩ bẩm sinh như Lưu Trọng Lư, thậm chí một người vừa có tâm hồn, vừa chịu học hỏi như Xuân Diệu, người sành điệu đều mang máng nhận ra có phần như thế. Bấy giờ, nếu được tiếp xúc với những giọng thơ như Trần Huyền Trân, như Thâm Tâm, như Quang Dũng, người ta sẽ có cảm giác bắt gặp một cái gì thuần khiết, trong lành – đôi khi, một thứ quả trái mùa lạ lẫm – và hiểu ra rằng cả một đời thơ người này cũng không thay thế nổi một hai bài hay của người kia. Không ai thua được trong trường hợp này, cái chính là một nhu cầu đa dạng đã thắng thế.

Nguồn: Thâm Tâm và Trần Huyền Trân

Một số tác phẩm thơ của Nguyễn Bính

Chân dung Nguyễn Bính

Lỡ bước sang ngang

I
“Em ơi em ở lại nhà
Vườn dâu em đốn, mẹ già em thương
Mẹ già một nắng hai sương
Chị đi một bước trăm đường xót xa.
Cậy em, em ở lại nhà
Vườn dâu em đốn, mẹ già em thương
Hôm nay xác pháo đầy đường
Ngày mai khói pháo còn vương khắp làng
Chuyến này chị bước sang ngang
Là tan vỡ giấc mộng vàng từ nay .
Rượu hồng em uống cho say,
Vui cùng chị một vài giây cuối cùng.
(Rồi đây sóng gió ngang sông,
Đầy thuyền hận, chị lo không tới bờ)
Miếu thiêng vụng kén người thờ,
Nhà hương khói lạnh, chị nhờ cậy em.
Đêm nay là trắng ba đêm,
Chị thương chị, kiếp con chim lìa đàn.
Một vai gánh vác giang san…
Một vai nữa gánh muôn vàng nhớ thương.
Mắt quầng, tóc rối tơ vương
Em còn cho chị lược gương làm gì!
Một lần này bước ra đi
Là không hẹn một lần về nữa đâu,
Cách mấy mươi con sông sâu,
Và trăm nghìn vạn nhịp cầu chênh vênh
Cũng là thôi… cũng là đành…
Sang ngang lỡ buớc riêng mình chị sao?
Tuổi son nhạt thắm phai đào,
Đầy thuyền hận có biết bao nhiêu người!
Em đừng khóc nữa, em ơi!
Dẫu sao thì sự đã rồi nghe em!
Một đi bảy nổi ba chìm,
Trăm cay nghìn đắng, con tim héo dần
Dù em thương chị mười phần,
Cũng không ngăn nỗi một lần chị đi.”
Chị tôi nước mắt đầm đìa,
Chào hai họ để đi về nhà ai…
Mẹ trông theo, mẹ thở dài,
Dây pháo đỏ bỗng vang trời nổ ran.
Tôi ra đứng ở đầu làng
Ngùi trông theo chị khuất ngàn dâu thưa.
II
Giời mưa ướt áo làm gì?
Năm mười bẩy tuổi chị đi lấy chồng.
Người ta: pháo đỏ rượu hồng
Mà trên hồn chị: một vòng hoa tang.
Lần đầu chị bước sang ngang,
Tuổi son sông nước đò giang chưa tường.
Ở nhà em nhớ mẹ thương
Ba gian trống, một mảnh vườn xác xơ.
Mẹ ngồi bên cửi se tơ
Thời thường nhắc: “Chị mày giờ ra sao?”
“…Chị bây giờ”… nói thế nào?
Bướm tiên khi đã lạc vào vườn hoang.
Chị từ lỡ bước sang ngang
Trời dông bão, giữa tràng giang, lật thuyền.
Xuôi dòng nước chảy liên miên,
Đưa thân thế chị tới miền đau thương,
Mười năm gối hận bên giường,
Mười năm nước mắt bữa thường thay canh.
Mười năm đưa đám một mình,
Đào sâu chôn chặt mối tình đầu tiên .
Mười năm lòng lạnh như tiền,
Tim đi hết máu, cái duyên không về.
“Nhưng em ơi một đêm hè,
Hoa xoan nở, xác con ve hoàn hồn.
Dừng chân bên bến sông buồn,
Nhà nghệ sĩ tưởng đò còn chuyến sang.
Đoái thương duyên chị lỡ làng
Đoái thương phận chị dở dang những ngàỵ
Rồi… rồi… chị nói sao đây!
Em ơi, nói nhỏ câu này với em…
…Thế rồi máu trở về tim
Duyên làm lành chị duyên tìm về môi.
Chị nay lòng ấm lại rồi,
Mối tình chết, đã có người hồi sinh.
Chị từ dan díu với tình,
Đời tươi như buổi bình minh nạm vàng.”
Tim ai khắc một chữ “nàng”
Mà tim chị một chữ “chàng” khắc theo.
Nhưng yêu chỉ để mà yêu,
Chị còn dám ước một điều gì hơn.
Một lần hai lỡ keo sơn,
Mong gì gắn lại phím đàn ngang cung.
Rồi đêm kia, lệ ròng ròng
Tiễn đưa người ấy sang sông chị về.
Tháng ngày qua cửa buồn the,
Chị ngồi nhặt cánh hoa lê cuối mùa.
III
Úp mặt vào hai bàn tay,
Chị tôi khóc suốt một ngày một đêm.
“Đã đành máu trở về tim,
Nhưng không ngăn nổi cánh chim giang hồ.
Người đi xây dựng cơ đồ
Chị về trồng cỏ nấm mồ thanh xuân.
Người đi khoác áo phong trần,
Chị về may áo liệm dần nhớ thương.
Hồn trinh ôm chặt chân giường,
Đã cùng chị khóc đoạn trường thơ ngây.
Năm xưa đêm ấy giường này,
Nghiến răng… nhắm mắt… chau mày… cực chưa!
Thế là tàn một giấc mơ,
Thế là cả một bài thơ não nùng!
Tuổi son má đỏ môi hồng,
Bước chân về đến nhà chồng là thôi!
Đêm qua mưa gió đầy giời,
Trong hồn chị, có một người đi qua…
Em về thương lấy mẹ già,
Đừng mong ngóng chị nữa mà uổng công.
Chị giờ sống cũng như không
Coi như chị đã sang sông đắm đò.”

Ghen

Cô nhân tình bé của tôi ơi!
Tôi muốn môi cô chỉ mỉm cười
Những lúc có tôi và mắt chỉ
Nhìn tôi những lúc tôi xa xôi
Tôi muốn cô đừng nghĩ đến ai
Đừng hôn dù thấy đóa hoa tươi
Đừng ôm gối chiếc đêm nay ngủ
Đừng tắm chiều nay bể lắm người
Tôi muốn mùi thơm của nước hoa
Mà cô thường xức chẳng bay xa
Chẳng làm ngây ngất người qua lại
Dẫu chỉ qua đường, khách lại qua
Tôi muốn những đêm đông giá lạnh
Chiêm bao đừng lẩn khuất bên cô
Bằng không tôi muốn cô đừng gặp
Một trẻ trai nào trong giấc mơ
Tôi muốn làn hơi cô thở nhẹ
Đừng làm ẩm áo khách chưa quen
Chân cô in vết trên đường bụi
Chẳng bước chân nào được dẫm lên
Nghĩa là ghen quá đấy mà thôi!
Thế nghĩa là yêu quá mất rồi!
Và nghĩa là cô là tất cả
Cô là tất cả của riêng tôi!

Nguyễn Bính và vợ

Đêm sao sáng

Đêm hiện dần lên những chấm sao
Lòng trời đương thấp bỗng nhiên cao
Sông Ngân đã tỏ đôi bờ lạnh
Ai biết cầu Ô ở chỗ nào
Tìm mũ Thần Nông chẳng thấy đâu
Thấy con Vịt lội giữa dòng sâu
Sao Hôm như mắt em ngày ấy
Rớm lệ nhìn tôi bước xuống tàu
Chòm sao Bắc Đẩu sáng tinh khôi
Lộng lẫy uy nghi một góc trời
Em ở bên kia bờ vĩ tuyến
Nhìn sao thao thức mấy năm rồi
Sao đặc trời cao sáng suốt đêm
Sao đêm chung sáng chẳng chia miền
Trời còn có bữa sao quên mọc
Tôi chẳng đêm nào chẳng nhớ em.

Em với anh

Lòng em như quán bán hàng
Dừng chân cho khách qua đàng mà thôi.
Lòng anh như mảng bè trôi
Chỉ về một bến chỉ xuôi một chiều.
Lòng anh như biển sóng cồn
Chứa muôn con nước nghìn con sông dài
Lòng em như thể lá khoai
Đổ bao nhiêu nước ra ngoài bấy nhiêu
Lòng anh như hoa hướng dương
Trăm nghìn đổ lại một phương mặt trời.
Lòng em như cái con thoi
Thay bao nhiêu suốt mà thoi vẫn lành!

Người hàng xóm

Nhà nàng ở cạnh nhà tôi
Cách nhau cái giậu mùng tơi xanh rờn
Hai người sống giữa cô đơn
Nàng như cũng có nỗi buồn giống tôi.
Giá đừng có giậu mùng tơi
Thế nào tôi cũng sang chơi thăm nàng
Tôi chiêm bao rất nhẹ nhàng
Có con bướm trắng thường sang bên này…
Bướm ơi, bướm hãy vào đây
Cho tôi hỏi nhỏ câu này chút thôi
Chả bao giờ thấy nàng cười
Nàng hong tơ ướt ra ngoài mái hiên
Mắt nàng đăm đắm trông lên
Con bươm bướm trắng về bên ấy rồi
Bỗng dưng tôi thấy bồi hồi
Tôi buồn tự hỏi: hay tôi yêu nàng?
Không, từ ân ái nhỡ nhàng
Tình tôi than lạnh tro tàn làm sao!
Tơ hong nàng chả cất vào
Con bươm bướm trắng hôm nào cũng sang.
Mấy hôm nay chẳng thấy nàng
Giá tôi cũng có tơ vàng mà hong
Cái gì như thể nhớ mong?
Nhớ nàng? Không, quyết là không nhớ nàng!
Vâng, từ ân ái nhỡ nhàng
Lòng tôi riêng nhớ bạn vàng ngày xưa.
Tầm tầm giời cứ đổ mưa
Hết hôm nay nữa là vừa bốn hôm!
Cô đơn buồn lại thêm buồn
Tạnh mưa bươm bướm biết còn sang chơi ?
Hôm nay mưa đã tạnh rồi
Tơ không hong nữa, bướm lười không sang
Bên hiên vẫn vắng bóng nàng
Rưng rưng tôi gục xuống bàn… rưng rưng
Nhớ con bướm trắng lạ lùng
Nhớ tơ vàng nữa, nhưng không nhớ nàng
Hỡi ơi bướm trắng tơ vàng
Mau về mà chịu tang nàng đi thôi
Đêm qua nàng đã chết rồi
Nghẹn ngào tôi khóc, quả tôi yêu nàng
Hồn trinh còn ở trần gian
Nhập về bướm trắng mà sang bên này.

Tương tư

Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông,
Một người chín nhớ mười mong một người.
Gió mưa là bệnh của trời,
Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng.
Hai thôn chung lại một làng,
Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này?
Ngày qua ngày lại qua ngày,
Lá xanh nhuộm đỏ thành cây lá vàng.
Bảo rằng cách trở đò giang,
Không sang là chẳng đường sang đã đành;
Nhưng đây cách một đầu đình,
Có xa xôi mấy mà tình xa xôi.
Tương tư thức mấy đêm rồi,
Biết cho ai biết, ai người biết cho.
Bao giờ bến mới gặp đò,
Hoa khuê các, bướm giang hồ gặp nhau.
Nhà em có một giàn giầu,
Nhà anh có một hàng cau liên phòng.
Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông,
Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?

Chân quê

Hôm qua em đi tỉnh về
Đợi em ở mãi con đê đầu làng
Khăn nhung quần lĩnh rộn ràng
Áo cài khuy bấm, em làm khổ tôi!
Nào đâu cái yếm lụa sồi?
Cái dây lưng đũi nhuộm hồi sang xuân?
Nào đâu cái áo tứ thân?
Cái khăn mỏ quạ, cái quần nái đen?
Nói ra sợ mất lòng em
Van em em hãy giữ nguyên quê mùa
Như hôm em đi lễ chùa
Cứ ăn mặc thế cho vừa lòng anh!
Hoa chanh nở giữa vườn chanh
Thầy u mình với chúng mình chân quê
Hôm qua em đi tỉnh về
Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều.

Mưa xuân

Em là con gái trong khung cửi
Dệt lụa quanh năm với mẹ già
Lòng trẻ còn như cây luạ trắng
Mẹ già chưa bán chợ làng xa
Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay
Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy
Hội chèo làng Ðặng đi ngang ngõ
Mẹ bảo: “Thôn Ðoài hát tối nay”
Lòng thấy giăng tơ một mối tình
Em ngừng thoi lại giữa tay xinh
Hình như hai má em bừng đỏ
Có lẽ là em nghĩ đến anh
Bốn bên hàng xóm đã lên đèn
Em ngửa bàn tay trước mái hiên
Mưa chấm bàn tay từng chấm lạnh
Thế nào anh ấy chả sang xem!
Em xin phép mẹ, vội vàng đi
Mẹ bảo xem về kể mẹ nghe
Mưa bụi nên em không ướt áo
Thôn Ðoài cách có một thôi đê
Thôn Ðoài vào đám hát thâu đêm
Em mải tìm anh chả thiết xem
Chắc hẳn đêm nay giường cửi lạnh
Thoi ngà nằm nhớ ngón tay em
Chờ mãi anh sang anh chẳng sang
Thế mà hôm nọ hát bên làng
Năm tao bảy tuyết anh hò hẹn
Ðể cả mùa xuân cũng nhỡ nhàng!
Mình em lầm lũi trên đường về
Có ngắn gì đâu môt dải đê!
Áo mỏng che đầu mưa nặng hạt
Lạnh lùng thêm tủi với canh khuya
Bữa ấy mưa xuân đã ngại bay
Hoa xoan đã nát dưới chân giày
Hội chèo làng Ðặng về ngang ngõ
Mẹ bảo: “Mùa xuân đã cạn ngày”
Anh ạ! Mùa xuân đã cạn ngày!
Bao giờ em mới gặp anh đây?
Bao giờ hội Ðặng đi ngang ngõ
Ðể mẹ em rằng “hát tối nay”?

Cô lái đò

Xuân đã đem mong nhớ trở về
Lòng cô lái ở bên sông kia.
Cô hồi tưởng lại ba xuân trước,
Trên bến cùng ai đã nặng thề.
Nhưng rồi người khách tình xuân ấy,
Đi biệt không về với bến sông.
Đã mấy lần xuân trôi chảy mãi
Mấy lần cô lái mỏi mòn trông.
Xuân này đến nữa, đã ba xuân
Đốm lửa tình duyên tắt nguội dần.
Chẳng lẽ ôm lòng chờ đợi mãi
Cô đành lỗi bước với tình quân.
Bỏ thuyền, bỏ lái bỏ dòng sông,
Cô lái đò kia đi lấy chồng.
Vắng bóng cô em từ dạo ấy,
Để buồn cho những khách sang sông.

Những bóng người trên sân ga

Những cuộc chia lìa khởi tự đây
Cây đàn sum họp đứt từng dây
Những đời phiêu bạt thân đơn chiếc
Lần lượt theo nhau suốt tối ngày.
Có lần tôi thấy hai cô bé
Sát má vào nhau khóc sụt sùi
Hai bóng chung lưng thành một bóng
“Đường về nhà chị chắc xa xôi?”
Có lần tôi thấy một người yêu
Tiễn một người yêu một buổi chiều
Ở một ga nào xa vắng lắm
Họ cầm tay họ bóng xiêu xiêu.
Hai người bạn cũ tiễn chân nhau
Kẻ ở trên toa kẻ dưới tàu
Họ giục nhau về ba bốn bận
Bóng nhòa trong bóng tối từ lâu.
Có lần tôi thấy vợ chồng ai
Thèn thẹn chia tay bóng chạy dài
Chị mở khăn giầu, anh thắt lại:
“Mình về nuôi lấy mẹ, mình ơi!”
Có lần tôi thấy một bà già
Đưa tiễn con đi trấn ải xa
Tàu chạy lâu rồi bà vẫn đứng
Lưng còng đổ bóng xuống sân ga
Có lần tôi thấy một người đi
Chẳng biết về đâu nghĩ ngợi gì
Chân bước hững hờ theo bóng lẻ
Một mình làm cả cuộc phân ly.
Những chiếc khăn màu thổn thức bay
Những bàn tay vẫy những bàn tay
Những đôi mắt ướt nhìn đôi mắt,
Buồn ở đâu hơn ở chốn này?
Hà Nội, 1937
(Theo Tuyển tập Nguyễn Bính, NXB Văn Học, 1986)

Cánh buồm nâu

Hôm nay dưới bến xuôi đò
Thương nhau qua cửa tò vò nhìn nhau
Anh đi đấy, anh về đâu ?
Cánh buồm nâu, cánh buồm nâu, cánh buồm…

Nguyễn Bính ở miền Nam

Hành phương Nam

Đôi ta lưu lạc phương Nam này,
Trải mấy mùa qua én nhạn bay.
Xuân đến khắp trời hoa rượu nở;
Riêng ta với ngươi buồn vậy thay.
Lòng đắng sá gì muôn hớp rượu,
Mà không uống cạn mà không say ?
Lời thề buổi ấy cầu Tư Mã[1],
Mà áo khinh cừu[2] không ai may.
Người giam chí lớn vòng cơm áo,
Ta trói chân vào nợ nước mây.
Ai biết thương nhau từ buổi trước,
Bây giờ gặp nhau trong phút giây.
Nợ tình chưa trả tròn một món,
Sòng đời thua đến trắng hai tay.
Quê nhà xa lắc xa lơ đó,
Ngoảnh lại tha hồ mây trắng bay.
Tâm giao mấy kẻ thì phương Bắc,
Ly tán vì cơn gió bụi này.
Ngươi đi buồn lắm mà không khóc,
Mà vẫn cười qua chén rượu đầy.
Vẫn dám tiêu hoang cho đến hết,
Ngày mai ra sao rồi hãy hay.
Ngày mai sáng lạn màu non nước,
Cốt nhất làm sao tự buổi nay.
Rẫy ruồng châu ngọc thù son phấn,
Mắt đỏ lên rồi cứ chết ngay.
Hỡi ơi! Nhiếp Chính[3] mà băm mặt,
Giữa chợ ai người khóc nhận thây.
Kinh Kha[4] giữa chợ sầu nghiêng chén,
Ai kẻ dâng vàng kẻ biếu tay?
Mơ gì ấp Tiết thiêu văn tự[5],
Giày cỏ, gươm cùn ta đi đây.
Ta đi nhưng biết về đâu chứ ?
Đã dấy phong yên lộng bốn trời.
Thà cứ ở đây ngồi giữa chợ,
Uống say mà gọi thế nhân ơi!
Thế nhân mắt trắng như ngân nhũ.
Ta với nhà ngươi cả tiếng cười.
Dằn chén hất cao đầu cỏ dại,
Hát rằng phương Nam ta với ngươi.
Ngươi ơi! Ngươi ơi! Hề ngươi ơi!
Ngươi ơi! Ngươi ơi! Hề ngươi ơi!
Ngươi sang bên ấy sao mà lạnh,
Nhịp trúc ta về lạnh mấy mươi.

Chú thích

* Tư Mã Tương Như nhà Hán rời Thành Đô vào kinh đô Lạc Dương, khi đi qua cầu Thăng Tiên đã đề lên thành cầu rằng: “Bất thừa cao xa tứ mã, bất phục quá thử kiều” (Không cưỡi xe cao bốn ngựa, không qua lại cầu này). Cây cầu đó được người sau gọi là cầu Tư Mã.

* Khi Tương Như thành danh, được Lương vương trọng vọng, ban cho quan tước, còn tặng một chiếc áo cừu túc sương. Khi Lương vương mất, Tương Như về quê, gặp Trác Văn Quân là con gái một tay cự phú trong vùng, hai người cùng nhau trốn đi. Tương Như nghèo khó, bèn đem cầm chiếc áo cừu lấy rượu cùng Văn Quân đối ẩm. Sau hai người mở quán nấu rượu, vợ nhóm lò nấu rượu, chồng rửa chén bát.

* Một người anh hùng ẩn thân đời Chiến Quốc. Có người biết chàng, tìm đến xin chàng trả hộ mối thù với Hiệp Lũy, tướng quốc nước Hàn, phi anh hùng không ai làm nổi. Người đó cung phụng mẹ già của Nhiếp Chính rất tử tế như con cái trong nhà, đến lúc chết lại lo ma chay phận sự. Cảm cái ơn đó, lại không còn vướng bận, Nhiếp Chính đến nước Hàn, vào phủ tướng quốc giữa thiên binh vạn mã, đâm chết Hiệp Luỹ, chống cự với ba quân rồi rạch nát mặt, tự vẫn mà chết. Vua nước Hàn đem thây chàng ra giữa chợ trao giải cho ai tìm được tung tích. Chị gái Nhiếp Chính đã đi lấy chồng, nghe tin tìm đến ôm xác em mình khóc thảm thiết, rồi nói với những người xung quanh đại ý rằng: Em tôi là Nhiếp Chính, vì sợ liên luỵ đến tôi và người ơn của nó nên mới phải rạch mặt để không nhận ra mà chết thế này, nay tôi lại tiếc thân để người đời không ai biết đến nó thì còn mặt mũi nào nữa. Nói rồi cũng tự vẫn chết bên xác em. Nhờ đó, tên tuổi của Nhiếp Chính mới lưu danh sử sách như một anh hùng. Chị của Nhiếp Chính cũng là một nữ nhân anh liệt.

* Kiếm khách thời Chiến Quốc, được thái tử Đan của nước Yên thuê hành thích Tần Thủy Hoàng. Khi tiễn biệt nhau qua sông vào đất giặc, Kinh Kha ngậm ngùi ngâm lên:
Gió đìu hiu chừ sông Dịch lạnh ghê
Tráng sĩ một đi chừ không bao giờ về.
Việc hành thích bất thành, Kinh Kha bị thủ hạ của Tần Thủy Hoàng giết chết.

* Phùng Hoan, môn khách của Mạnh Thường Quân lãnh nhiệm vụ đi đòi nợ, khi đến ấp Tiết gọi các con nợ lại và tuyên bố đốt hết văn tự nợ. Sau về nói với Mạnh Thường Quân là đã lấy tiền nợ ấy mua “Đức” hết rồi! Sau Mạnh Thường Quân bị vua Tề phế, khi đi ngang qua ấp Tiết thì toàn dân ra đón linh đình, nhờ thế được vua Tề thu dụng lại.

Mối tình thơ xóm Áo bào gốc liễu – Bạch Y thư sinh

Trong cuốn Thi Nhân Việt Nam hai ông Hoài Thanh và Hoài Chân đã xếp các nhà văn, nhà thơ thành từng xóm như:

– Xóm Sông Thương thì có Bàng Bá Lân và Anh Thơ ….

– Xóm Tự Lực thì có Thế Lữ, Xuân Diệu và Huy Cận ….

– Xóm Phương Ðông thì có Lưu Trọng Lư và Thái Can …

– Xóm Huế thì có Phan Văn Dật, Nam Trân, Nguyễn Ðình Thư …

– Xóm Hà Tiên thì có Ðông Hồ, Mộng Tuyết….

– Xóm Bình Ðịnh thì có Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên…

Sau nầy ông Hoài Việt đề nghị bổ túc thêm một nhóm nữa đó là:

– Xóm Áo Bào Gốc Liễu thì có Trần Huyền Trân, Thâm Tâm, Nguyễn Bính ….

Nói đến một xóm lẽ tất nhiên phải có nhiều người, nhưng ở đây chỉ tiêu biểu một vài người được coi là xông xáo nổi bật trong xóm mà thôi. Riêng trong Xóm Áo Bào Gốc Liễu có ba người nổi bật, nhưng ở đây chúng tôi xin được đề cập đến hai người: Thâm Tâm và Nguyễn Bính.

A- Thâm Tâm

1- Mấy Dòng Tiểu Sử

Thâm Tâm tên thật là Nguyễn Tuấn Trình. Sinh ngày 12-5-1917 tại thị xã Hải Dương(nay thuộc tỉnh Hải Hưng) trong một gia đình nhà nho nghèo. Sau khi học hết tiểu học ông bắt đầu viết báo và vẽ tranh. Ông viết rất nhiều thể loại: Thơ, truyện, kịch ..v..v.. và vẽ tranh và viết cho loại sách trẻ em. Ngoài tài viết văn và vẽ tranh cho trẻ em, ông còn biết làm đồ gốm. Ông tham gia trong công cuộc kháng chiến chống Pháp vào những năm 1945 và mất vào mùa Thu Ðông năm 1950 sau một cơn bệnh nặng.

2- Ðời Như Thơ

Ông sanh và trưởng thành trong một gia đình Nho Giáo, vì thế sau khi học xong tiểu học là phải ra đời để lo làm sinh sống. Cũng vì thế mà hoàn cảnh tạo cho ông có một ý chí kiên cường tự lập, nên chúng ta cũng không ngạc nhiên khi biết ông không những là một nhà thơ, một họa sĩ, mà còn là một người giỏi về đồ gốm:

– Sinh ta, cha ném bút rồi

Rừng nho tàn rụng cho đời sang xuân,

Nuôi ta mẹ héo từng năm

Vắt bầu sữa cạn tê chân máu gầy

Dạy ta ba bảy ông thầy

Gươm dài sách rộng biển đầy núi vơi

Nhà ta cầm đợ tay người

Kép bông đâu áo, ngọt bùi đâu cơm?

(Thâm Tâm- Tráng Ca)

Cũng vì  hoàn cảnh gia đình nên ông xa nhà rất sớm. Trong cuộc đời đắng cay lừa lọc tạo cho ông một ý chí kiên cường đã vươn lên:

– Chữ nhân sáng rực sao trời

Ðường xa rộng mở chân người bước xa

Bọn ta một lớp lìa nhà

Cháo hàng cơm chợ, ngồi ca lúa đồng.

(Thâm Tâm – Tráng Ca)

Từ khi theo gia đình chuyển lên Hà Nội sống bằng nghề viết văn viết báo. Nơi đây tại Phố Bạch Mai ông đã gặp Nguyễn Bính, Trần Huyền Trân và hình thành nhóm Tam Anh:

– Thăng Long đất lớn chí tung hoành

Bàng bạc gươm hồ ánh mắt xanh

Một lứa chung tình từ tứ chiến

Hội nhau vầy một tiệc quần anh

(Thâm Tâm – Vọng Nhân Hành)

Sau đó ông cùng với Trần Huyền Trân và Phạm Quang Hòa ba người hợp tác cho ra một tờ báo:

– Mày gươm nét mác chữ nhân già

Hàm bành hình đồi, lưng cỗi đa

Tay yếu đang cùng tay mạnh dắt

Chưa ngất men trời hả rượu cha

Rau đất cá sông gào chẳng đủ

Nổi bùng giữa tiệc trận phong ba

Rằng: Ðương gió bụi thì tơi tả

Thiên hạ phải dùng thơ chúng ta.

(Thâm Tâm – Vọng Nhân hành)

Tờ báo Bắc Hà do Phạm Quang Hòa cung cấp tiền bạc, còn Thâm Tâm và Trần Huyền Trân chịu trách nhiệm về bài vở được mọi người hưởng ứng. Tuy nhiên báo chỉ ra được 3, 4 số thì hết tiền. Thu tiền báo ở các đại lý về không đủ trả tiền giấy, tiền in. Thế là tờ báo phải dẹp tiệm:

– Thơ ngâm giọng dở thời chưa thuận

Tan tiệc quần anh, người nuốt giận

Chim nhạn chim hồng rét mướt bay

Vuốt cọp, chân voi còn lận đận

Thằng thí cho nhàm sức võ sinh

Thằng bó văn chương đôi gối hận

Thằng thư trói buộc, thằng giã quê

Thằng phấn son nhơ … chửa một về

(Thâm Tâm – Vọng Nhân Hành)

Cuộc thất bại nầy không phải chỉ có mỗi một Thâm Tâm đau khổ mà Trần Huyền Trân cũng ray rứt không kém:

– Tối om kia vận chúng mình

Trai lành bỏ cỗi, gái trinh bỏ già

Mật ngươi nào khác gan ta

Tưới bao nước mắt mới ra nụ cười

Nằm queo ngó lững chim giời

Tuổi xuân thù tạc xế đời vào thu

Quê hương chìm trong khói lửa, dưới gót dày xâm lăng của quân đội viễn chinh Pháp, chúng nhẫn tâm dẫm nát quê hương yêu dấu Việt Nam, và đó đã là động cơ thúc đẫy người con trai thời loạn phải lên đường đi cứu nước:

– Ðời tươi như bát nước đầy

Vỡ tan một miếng dưới giầy xâm lăng

Cắn chặt hàm răng

Bậm môi, nghiến lợi, già căn mặt già

Vài mươi ông lão giữ nhà

Thùng lùng dao bảy, đinh ba gối đầu

Ðêm nay thức giấc thương đau

Vụt nghe khốc dạ mấy câu rợn người

Cái gì đấy xóm làng ơi

Ðội quân biệt động xa xôi mới về!

(Thâm Tâm – CămThù)

Về sau ông đi làm cách mạng, trong công cuộc chiến chống Pháp ông đã tham gia vào tờ Tiên Phong, cơ quan hội văn nghệ Việt Nam và làm thơ ký toà soạn tờ Vệ quốc Quân của quân đội:

– Trời hỡi mai nầy tôi phải đi

Thơ nầy chẳng đọc cho ai nghe

Ðời nhiều nhưng có dăm người bạn

Thì viễn ly không có đường về.

(Thâm Tâm – Ngược Gió)

Còn gì chua xót hơn khi ra đi:

– Mà đọc thơ già tiển trẻ đi

Càng nghe trầm giọng dạ càng se

Ngày mai ngược gió tôi xin ngược

Ai có quan tâm gọi trở về.

(Thâm Tâm – Ngược Gió)

Ra đi để làm tròn sứ mệnh của người con trai thời loạn, mong một ngày giặc tan như khói súng để trở về đoàn tụ dưới mái ấm của gia đình:

– Sớm dậy thương nhân lắng gió lên

Ðể phờ mái tóc, nhắc cương yên

Bàng hoàng khiến ngựa, người mơ ngỡ

Một cổ thanh bình trong sáng êm.

(Thâm Tâm- Mơ Thuở Thanh Bình)

Nhưng đó chỉ là giấc mơ, còn hiện thực vẫn là hiện thực:

– Chợt bỗng đồn binh rộn tiếng kèn

Giật mình khách nhớ một đôi đêm

Hiệu còi phòng động nghe kinh hoảng

A! thuở trăm thành gọi lính lên.

Tai hại bao nhiêu sự thực đời

Trừng lên, dập hết mộng! Như người

Tưởng yên tĩnh sống trong khung cổ

Vụt tiếng kèn vang nhắc … hiện thời

(Thâm Tâm – Mơ Thuở Thanh Bình)

Trong thời chinh chiến biết bao nhiêu người con trai ra đi mà không trở lại. Trước tình cảnh đau thương đó làm sao khỏi chạnh lòng, vì thế nhà thơ đã khóc cho tuổi trẻ mà cũng như khóc cho chính mình:

– Hiên vẩn vơ bay mạng nhện tơ

Hồn thương lững thững ẩm như sương

Ngoài xa đôi tiếng rao đêm vắng

Rung cả mây trời cả ý thơ.

(Thâm Tâm – Không Ðề)

Hoặc là:

– Mả lạnh không hoa, hết cả hương

Hành nhân lạnh nhạt thiếu lòng thương

Dăm người tuổi tác qua thăm viếng

Một buổi rồi quên mất độ đường

(Thâm Tâm – Chết)

Và nhà thơ cũng đã cầu nguyện:

– Biết mấy đời trai trong góa bụa

Ðêm ròng đứng thắp mẩu tâm hương

Tro tàn có đốt không hồng nữa

Thắt lạnh bên lòng nỗi hận thương.

(Thâm Tâm- Không Ðề)

3- Về bài Tống Biệt Hành

Thâm Tâm viết không nhiều, cả đời thơ chọn lại chưa quá 20 bài. Nhưng nếu chọn mười bài thơ hay của giai đoạn thơ mới, trong số ấy chắc chắn có bài Tống Biệt Hành. Bài thơ mang một âm hưởng của cổ xưa trong cách diễn đạt. Nhưng tình cảm của nó lại là tình cảm đương thời. Nội dung của bài Tống Biệt Hành cho chúng ta hình dung được tâm trạng của nhà thơ lúc chia tay với gia đình, với người vợ trẻ để lên đường vào một buổi chiều, tuy vậy trước cảnh kẻ ở người đi tâm sự ai cũng buồn, nhất là tâm sự lúc chia tay. Cho dù không phải trời tối, nhưng tâm sự người vợ trẻ buồn thì chắc chắn cảnh cũng không vui:

– Ðưa người ta không đưa sang

Sao nghe tiếng sóng ở trong lòng

Bóng chiều không thắm không vàng vọt

Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong.

(Thâm Tâm – Tống Biệt Hành)

Ngày ra đi để thỏa chí nam nhi, nên khi công chưa thành, danh chưa toại thì quyết định sẽ không bao giờ trở lại:

– Ly khách! ly khách! Con đường nhỏ

Chí lớn chưa về bàn tay không

Thì không bao giờ nói trở lại

Ba năm mẹ già cũng đừng mong.

(Thâm Tâm -Tống Biệt Hành)

Và rồi:

– Ta biết người buồn chiều hôm trước

Bây giờ mùa hạ sen nở nốt

Một chị, hai chị cùng như sen

Khuyên nốt em trai dòng lệ sót.

(Thâm Tâm -Tống Biệt Hành)

Ðoạn thơ trên tác giả cho chúng ta biết ông còn một bà mẹ già hai người chị và một người em. Và tác giả là người con trai duy nhất trong gia đình. Người ra đi có vẻ hăng hái lắm, thế nhưng sự thật ông ta rất buồn, buồn từ chiều hôm trước, buồn cả sáng nay. Ông buồn với chị, mà hai chị khóc cũng đã nhiều rồi, nhưng không muốn vì tình gia đình mà làm cản trở chí nam nhi, cho nên các chị đã gạt dòng lệ còn sót lại để tiển đưa em, khuyên em hãy can đảm lên đường:

– Khuyên nốt em trai dòng lệ sót.

Sau khi ông đi rồi trong gia cảnh giờ đây chỉ còn lại bốn người phụ nữ, một già ba trẻ yếu đuối giống như sen cuối mùa, Ít oi thưa thớt:

– Bây giờ mùa hạ sen nở nốt

Một chị, hai chị cùng như sen

Lúc ấy đã cuối mùa hạ nhưng chưa vào Thu. Mùa Hạ cây vẫn còn tươi, lá vẫn còn xanh là thời điểm nhà thơ phải lên đường theo tiếng gọi của non sông. Tâm lý lúc nầy như có mâu thuẫn, nửa thì hăng hái lên đường, nửa lại nuối tiếc một thẫn thờ. Giữa hai sự lựa chọn, ở lại thì thấy thiếu bổn phận với núi sông, mà ra đi thì phải chấp nhận sự chia ly. Nhưng cuối cùng cũng phải ra đi để làm tròn bổn phận của người trai thời loạn:

– Người đi? Ừ nhĩ người đi thực

Mẹ thà coi như chiếc lá bay

Chị thà coi như là hạt bụi

Em thà coi như hơi rượu say.

Qua bài thơ Tống Biệt Hành, chúng ta thấy toàn bộ nội dung của bài thơ giống như cuộc đời của ông. Quả thật như vậy, ông ra đi khi quê hương còn đang chìm ngập trong bom đạn khói lửa:

– Chí lớn chưa về bàn tay không

Thì không bao giờ nói trở lại.

Ông đã một lần đi là một lần vĩnh biệt

B- Nguyễn Bính

Nguyễn Bính sanh năm Mậu Ngọ (1918) tại Thôn Thiện Vịnh, xã Cộng Hòa, huyện Vụ Bản, tỉnh Hà Nam. Thân phụ là cụ Nguyễn Ðạo Bình làm nghề dạy học. Thân Mẫu là cụ bà Bùi Thị Miện con gái của một gia đình khá giả, có truyền thống yêu nước. Cụ bà mất vì bị rắn độc cắn để lại ba người con trai:

1- Nguyễn Mạnh Phát tức là Trúc Ðường lúc đó 6 tuổi

2- Nguyễn Ngọc Thụ, lúc đó 3 tuổi.

3-     Nguyễn Bính lúc đó chưa đầy một tuổi.

Mấy năm sau vì cửa nhà đơn chiết nên cụ ông cưới bà Phạm Thị Duyên là kế mẫu. Kế mẫu lại sanh thêm được bốn ngườỉ con: Hai trai, hai gái. Có lẽ vì không tiện sinh sống với kế mẫu nên dì ruột là bà cả Giần giàu có và cậu ruột là ông Bùi Trình Khiêm đón cả ba anh em của Nguyễn Bính về nuôi cho ăn học. Ông Khiêm dạy chữ hán cho ba anh em, Nguyễn Bính học có vẻ xuất sắc hơn hai anh. Lúc Trúc Ðường vào Tiểu Học, thì Nguyễn Bính học Sơ Học. Khi Trúc Ðường vào Trung Học, thì Nguyễn Bính vào Tiểu Học. Nguyễn Bính biết làm thơ từ thuở nhỏ vì thế mà được cậu cưng chiều. Năm 1932-1933 sau khi tốt nghiệp bằng thành chung thì Trúc Ðường vào dạy học ở một trường tư thục tại Hà Ðông. Vì phải thay thế mẹ chăm sóc các em nên Trúc Ðường cũng dẫn Nguyễn Bính đi theo và dạy thêm Pháp Văn. Trúc Ðường lúc dạy học ông cũng bắt đầu làm thơ viết văn, và đã truyền đạt vốn luyến đó cho Nguyễn Bính. Có thể nói cuộc đời của Nguyễn Bính gắn bó với Trúc Ðường cả văn chương và đời sống. Trúc Ðường hay đưa Nguyễn Bính giữ được mạch thơ dung dị giữa các vùng Nam Ðịnh, Ninh Bình, Thái Bình, Phủ Lý, hoặc hay đi tới các miền khác như Hà Ðông, Sơn Tây, Hoà Bình, Ðộng Hương Tích. Những năm ấy đã có bài thơ Cô Hái Mơ xuất hiện trên văn đàn:

– Thơ thẩn đường chiều một khách thơ

Say nhìn ra rặng núi xanh lơ

Khi trời lạnh lẽo, và trong trẻo

Thấp thoáng rừng mơ cô hái mơ.

Hỡi cô con gái hái mơ già

Cô chửa về ư? đường thì xa

Mà ánh chiều hôm dần một tắt

Hay cô ở lại về cùng ta?

Nhà ta ở dưới gốc cây dương

Cách động hương sơn nữa dặm đường

Có suối nước trong tuôn róc rách

Có hoa bên suối ngát đưa hương.

Cô hái mơ ơi

Chẳng trả lời nhau lấy một lời

Cứ lặng rồi đi, rồi khuất bóng

Rừng mơ hiu hắt lá mơ rơi…

(Nguyễn Bính – Cô Hái Mơ)

Hai bài thơ dài: Lỡ Bước Sang Ngang và Mười Hai Bến Nước cũng được sáng tác trong khi hai anh em đi chơi thuyền trên sông Nhuệ ở Hà Ðông. Cuộc sống nhờ có Trúc Ðường chăm sóc và lo lắng mọi thứ cho nên Nguyễn Bính không lo lắng gì cả, vì thế không biết quý trọng đồng tiền. Xong tiểu học Nguyễn Bính lên Trung Học, Trúc Ðường đành để cho ông theo nghiệp Thơ Văn. Ông thích đi Hà Bắc, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Thanh Hóa, đi đến đâu cũng sáng tác thơ tại đó. Những năm kế tiếp Nguyễn Bính làm ra tiền nên ông đi càng nhiều, nhưng khi xài hết tiền thì lại về ở với Trúc Ðường. Ðến năm 1940, Nguyễn Bính bắt đầu nổi tiếng với số lượng thơ khá nhiều, đề tài phong phú, trong những số thơ của ông, Thơ tình là nhiều hơn hết. Cũng trong năm 1940 Ông xin phép Trúc Ðường vào Huế để tìm đề tài sáng tác, Trúc Ðường tán thành nhưng không có tiền, nên đã cho người em thân yêu máy ảnh và đồng thời Trúc Ðường còn về quê bán thêm dãy thềm đá xanh là vật báu duy nhất còn lại của gia đình, đưa tất cả số tiền cho Nguyễn Bính và giao ước:

– Anh sẽ viết xong Nhan sắc vào năm 1941. Vào Huế Bính gủi thơ ra anh dọc trước, rồi đăng báo sau.

Ðúng hẹn cuối năm 1941 đầu năm 1942, Trức Ðường nhận được nhiều bài thơ của Nguyễn Bính trong đó có: Xuân Tha Hương, và Oan Nghiệt, Trúc Ðường rất thích. Ðồng thời đầu năm 1942 cuốn Nhan Sắc của Trúc Ðường cũng ra mắt bạn đọc.

Nguyễn Bính trở lại Hà Nội, về thăm quê rồi lại đi làm thơ. Lần chia tay cuối cùng với Trúc Ðường vào năm 1943, đến năm 1945 tin tức thưa dần. Năm 1946 mất liên lạc hẳn, cho đến năm 1954 tập kết ra Hà Nội, Bính lại về ở với gia đình Trúc Ðường.

Nguyễn Bính mất ngày 21 tháng 01 năm 1966 tức là ngày 30 Tết năm Ất Tỵ. Phần mộ ông được an táng tại nghĩa trang thành phố Nam Ðịnh như những người dân bình thường khác. Ðến năm 1968, mộ ông lại được cải táng, và người ta đưa ông về nghĩa trang Tam Ðiệp.

Tháng 01 năm 1986, nhà xuất bản Văn Học và Hội Văn Học Nghệ Thuật Hà Nam Ninh hợp tác ấn hành Tuyển Tập Nguyễn Bính với số lượng 40,500 cuốn. Tiếp theo đó là những tuyển thơ khác theo chuyên đề thơ Nguyễn Bính cũng được ra mắt bạn đọc. Cũng từ đó ngươi ta mới nhận ra rằng Nguyễn Bính quả thật là một thi sĩ lớn. Nguyễn Bính là một nhà thơ lớn mà để phần mộ ông nằm xa tít ở núi Tam Ðiệp là không ổn, vì thế người ta mới quyết định đưa ông về quê. Nhưng tại quê hương ông nhà cũ và mảnh vườn cũ của ông bà thân sinh đã nhường cho gia đình bà Nguyễn Thị Hường, là người con ông chú của Nguyễn Bính. Cuối cùng người ta mới quyết định an táng hài cốt của ông tại khu Mã Quan cạnh mộ ông nội. Ðây là một cồn đất nằm ở rìa làng, phía bên phải thì sầm uất xóm làng, phía bên trái là cánh đồng. Trước kia có nhiều mồ mả, nhưng người ta đã dời đi nơi khác chỉ còn lại mồ của hai ông cháu nằm lặng lẽ bên khóm tre, khóm chuối và ao rau muống.

Tuy nhiên vì bà con họ hàng làng xóm cứ cảm thấy không yên lòng, nên cuối cùng cấp lãnh đạo xã, huyện, tỉnh mới thương lượng và mua cho bà Nguyễn Thị Hường một mảnh đất khác để ở, đưa mộ Nguyễn Bính về tại nơi ông cất tiếng khóc chào đời. Bà Hường bằng lòng nên cuối năm Canh Ngọ(1990), mộ Nguyễn Bính được chính thức đưa từ khu Mả Quan vào mảnh đất vốn là nhà của bố mẹ mình. Mộ được xây ở giữa khu đất rộng bốn sào, nằm chính giữa làng Thiện Vịnh, chung quanh rợp bóng tre, cây ruối. Ngôi mộ đơn sơ hình chữ nhật, có đắp nổi hình ngọn bút với dòng chữ: Phần Mộ Nhà Thơ Nguyễn Bính (1918-1966). Như vậy kể từ khi hắt hơi thở cuối cùng cho đến nay trải qua bốn chặng đường giang hồ thi sĩ mới có một nơi yên nghỉ cuối cùng.

C- Mối Tình Thơ Của Hai Nhà Thơ Xóm Áo Bào gốc Liễu

Trên văn đàn Việt Nam vào những năm 1937-1940 khi nói đến nhà thơ Thâm Tâm thì nhiều người nghỉ ngay đến T. T. Kh. Vậy T. T. Kh là ai? Trả lời cho nghi vấn nầy thì đã có nhiều giấy mực trả lời nhiều cách khác nhau:

– Nhiều người nói: T. T. Kh là người yêu của Thâm Tâm

– T. T. Kh. chính là Thâm Tâm

– T. T. Kh. Chính là Trần Thị Khánh

– T. T. Kh. Là Thâm Tâm Khánh.

– T. T. Kh. Là Tuấn Trình Khánh(Vì tên thật của Thâm Tâm là Nguyễn Tuấn Trình)

Có người còn nói T. T. Kh. chính là Trần Thị Khánh, người em gái đồng tông của nhà thơ Tế Hanh ở Thanh Hóa ..v..v..

Cuộc tìm kiếm, tranh luận sôi nổi nầy theo ông Mã Giang Lân nói:

– Ông  Thanh Châu chính là người khơi nguồn thiên tình hận nầy. Năm 1937 Tuần Báo Tiểu Thuyết Thứ Bảy đăng tập truyện ngắn của ông Thanh Châu kể lại mối tình ngang trái giữa chàng nghệ sĩ và thiếu nữ Mai Hạnh. Họ đã gặp nhau dưới hoa ti-gôn. Nàng sợ bố mẹ khổ tâm, sợ tai tiếng ở đời …. nên không dám bỏ nhà đi theo người yêu. Nàng phải sống gượng ép với một người chồng. Ít ngày sau tòa soạn báo nhận được hai bài thơ Bài Thơ Thứ Nhất, và Hai Sắc Hoa Ti Gôn của một người ký tên là T. T. Kh. Khi hai bài thơ đó được đăng tải, thì lúc đó đã có nhiều người nhận T. T. Kh là người yêu của mình trong đó có: Nguyễn Bính, J. Leiba, và Thâm Tâm.

a- Nguyễn Bính thì cho đăng bài thơ: Dòng Dư Lệ

– Cho tôi ép nốt dòng dư lệ

Nhỏ xuống thành thơ khóc chút duyên

Và bài thơ Cô gái Vườn Thanh.

b- J. Leiba tức là Lê Văn Bái thì cho đăng bài thơ Hai Sắc Hoa ti Gôn trên báo Ngọ và phía dười có cảm đề mấy cây như sau:

– Anh chép bài thơ tự trái tim

Của người thiếu phụ lỡ làng duyên

Lời thơ tuyệt vọng ca đau khổ

Yên ủi anh và để tặng em.

c- Thâm Tâm đã làm bài thơ Các anh:

– Các anh hãy uống thật say

Cho tôi những cốc rượu đầy rồi im

Giờ hình như quá nửa đêm

Lòng đau đau lại cái tin cuối mùa

Hơi đàn buồn như trời mưa

Các anh tắt nốt âm thừa đi thôi

Giờ hình như ở ngoài trời

Tiếng xe đã nghiến đường rời rã đi

Tâm tình anh nhạt đâu nghe

Tiếng mùa lá chết đã xê dịch nhiều

Giờ hình như gió thổi nhiều

Những lại hoa máu đã gieo nốt đời

Bao nhiêu nghệ sĩ nổi trôi

Sá chi cái đẹp dưới đời mong manh

Sá chi những chuyện tâm tình

Lòng đau như chứa trong bình rượu say.

Cả ba đồng vọng đáp lại tiếng lòng của Thiếu Nữ, và cũng là giãi bày tâm trạng đớn đau của mình. Cũng từ đó cho đến ngày nay trên văn thơ đàn đã tạo nên một cuộc dư luận vô cùng sôi nổi cho đến ngày nay.

Nói về T. T. Kh là ai? Cho đến bây giờ chưa có một ai biết được chính xác là có thật hay chỉ là một nhà thơ nào đó lấy tên như vậy, và là nam hay nữ? Bí mật vẫn còn trong vòng chưa được bậc mí. Luận giải về sự kiện nầy có những minh định như sau:

1- Theo ông Bùi Viết Tân nói:

– Cuối năm 1949, trong một chuyến đi dài ngày từ liên khu III lên Việt Bắc, tôi có dịp đồng hành với thi sĩ Thâm Tâm, tức là Nguyễn Tuấn Trình. Từ vùng hậu địch vượt đường số 5, theo những người buôn muối để lên Việt Bắc, chúng tôi là những người lữ hành ngày nghỉ đêm đi. Trong những lúc nghỉ ngơi tại những căn cứ du kích nằm giữa vùng Tề, anh Thâm Tâm thường tâm sự với tôi những chuyện tâm tình liên quan đến thơ văn. Chẳng hạn như nhân vật gây nguồn cảm hứng để cho anh sáng tác bài Tống Biệt Hành là một người tên là Phạm Quang Hòa, trước năm 1945 thoát ly gia đình ra đi lên chiến khu làm cách mạng. Bài thơ chỉ là một tác phẩm của sự ngẩu hứng, nhưng cái ngẩu hứng nầy là tích lũy cuả bao nhiêu ngày tháng dồn nén của một nhà thơ muốn ra đi, muốn làm một cái gì, do đó khi thấy bạn ra đi đã trút cả nỗi lòng vào bài hành mang tên Tống Biệt.

Tôi hỏi anh Thâm Tâm, nhân vật Phạm Quang Hòa ở đâu, còn sống không? Anh Thâm Tâm cho biết Phạm Quang Hòa ra đi và đã trở về, và đang tiếp tục cuộc sống của một người trai thời loạn.

Nhân câu chyện vui, tôi hỏi anh Thâm Tâm về chuyện những bài thơ ký tên T. T. Kh.

– Theo ý ông thì những bài thơ này của ai?

– Người ta nói của người tình Thâm Tâm. Phải vậy không anh?

– Ông có đọc bài thơ ký tên Thâm Tâm đăng trên Tiểu Thuyết Thứ Bảy số 307, ra ngày 4 tháng 5 năm 1940 chứ?

– Ðã có đọc, có phải bài Các Anh không nhỉ?

– Ðúng thế, tất cả đều liên quan đến chuyện tình, nhưng thật ra thì những bài thơ ký tên T. T. Kh. là do mình sáng tác ra thôi.

– Như vậy là Nguyễn Bính cũng bị xiếc vào trong câu chuyện nầy?

– Chuyện nầy chỉ có mình và Trần Huyền Trân biết thôi. Nguyễn Bính là một nhà thơ tài hoa nhưng ngây thơ lắm.

– Câu chuyện nầy có liên quan gì tới đất Thanh Hóa không anh?

– Ðịa danh Vườn Thanh trong thơ là nó tới đất Thanh Miện ở Hải Dương, quê hương của trái vải. Nhưng Nguyễn Bính lại tưởng lầm là Thanh Hóa … Do đó mới có chuyện vui vẻ.

– Tại sao anh sáng tác những bài thơ ký tên T. T. Kh hay như vậy mà lại không làm loại thơ nầy nữa.

– Vào những năm cuối thập niên ba muơi bắt đầu thập niên bốn mươi, bọn mình sống cuộc đời như dỡn với ngày tháng. Nhưng sau đó thì bọn mình đã tìm ra lối thoát cho cuộc đời và muốn làm cho cuộc đời đổi mới. Chính bài Các Anh rồi sau đó Tống Biệt Hành là chứng tích của sự thay đổi nầy.

Nói dứt lời Thâm Tâm khẻ ngâm cho tôi nghe bài Các Anh:

– Các anh hãy uống thật say

Cho tôi những cốc rượu đầy rồi im

……………………………………………………

Ngâm dứt bài thơ Thâm Tâm quay ra hỏi tôi:

– Ông thấy bài thơ nầy thế nào?

– Khác hẳn hơi thơ trong Tống Biệt Hành và những bài khác anh đã đăng báo.

– Người làm thơ có quyền được làm nhiều loại thơ khác nhau chứ. Bài nầy mình cũng đăng trên báo Tiểu Thuyết Thứ Bảy từ tháng năm 1940.

– Những bài thơ anh làm ký tên T. T. Kh. có liên quan gì đến nhân vật tên Khánh không?

– Xin ông cho mình miễn trả lời câu hỏi nầy. Mình đã có gia đình và nhân vật trong thơ cũng vậy. Xin lỗi nhé.

2- Theo ông Hoài Anh khẳng định:

– Các bài thơ Hai Sắc Hoa Ti Gôn, Bài Thơ Thứ Nhất, Ðan áo cho chồng, bài Thơ Cuối Cùng tất cả đều do chính Thâm Tâm sáng tác ký tên là T. T. Kh. Còn bài Các Anh thì đúng là do Thâm Tâm.

3- Theo ông Thanh Châu thì trình bày:

– Hôm nay, nhân tìm lại những tư liệu còn giữ được, tôi muốn kết thúc cái chuyện cũ càng mờ mịt nầy bằng cách công bố thêm một điều lạ, là thủ phạm của sự “nhiễu” nầy khiến thiên hạ càng phỏng đoán, đoán mò, chỉ tại hai người:

a- Nguyễn Bính đã đăng một bài thơ đề tặng T. T. Kh. bài Cô gái Vườn Thanh in năm 1940. Ðọc lại bài thơ nầy, người ta thấy Nguyễn Bính có đến Vườn Thanh, trọ nhà một ông già, ông nầy kể cho nghe chuyện một thiếu phụ cũng đêm đêm bên cạnh chồng già-bên cạnh bóng người xa hiện về…. Rồi Nguyễn Bính tự hỏi:

– Bao nhiêu oan khổ vì tình

Cớ sao giống hệt chuyện mình gặp xưa?

Phải chăng mình có nên ngờ

Rằng người năm ngoái bây giờ là đây?

Khi Nguyễn Bính ra thơ đề tặng T. T. Kh. Bởi vậy, có người đã khẳng định: Ông Bính là người yêu của T. T. Kh. Nên là thơ tế nhị nói chuyện nọ ra chuyện kia.

b- Người thứ hai chính là Thâm Tâm khi có bài thơ Màu Máu Ti Gôn gửi T. T. Kh. Tác giả bài thơ Hai Sắc Hoa Ti Gôn:

– Người ta trả lại cánh hoa tàn

Thôi thế duyên tình cũng dở dang

Màu máu ti-gôn đà biến sắc

Tim người yêu cũ phủ màu tang.

………………………………………………….

Thôi em hãy giữ cành hoa úa

Kỷ niệm ngàn năm một cuộc đời.

Sau khi luận giải thì ông Thanh Châu đã đưa tới kết luận:

– Một người nghiêm túc như Thâm Tâm mà anh em văn nghệ thời trước từng quen biết, có thể có cử chỉ và lời thơ dễ dãi, vô ý thức như vậy không? Ðó là điểm đáng ngờ.

Như trên chúng ta thấy ít ra cũng đã có đến hai người minh xác T. T. Kh. đích thực là Thâm Tâm, nhưng cũng theo ông Thanh Châu thì T. T. Kh. là T. T. Kh chứ không thể là Thâm Tâm được, như ông nói:

– Hồi làm báo Tiểu Thuyết Thứ Bảy ở Hà Nội, vì gia đình tôi ở thị xã Thanh Hóa, nên thời thường vẫn đi về, cũng như Nguyễn Tuân và Hồ Dzếnh có gia đình ở thị xã nầy.

Một hôm, tôi không có ở nhà, thấy mẹ tôi bảo có một người con gái đến chơi, không chịu nói tên, chỉ để lại một bó hoa ti-gôn rồi cáo lui. Từ đó không lần nào trở lại. Ai nhỉ? Tuổi tôi lúc đó cũng có dăm ba bạn gái, nhưng thời gian nầy, báo đã đăng mấy bài của T. T. Kh rồi, vậy đó là người đã đọc truyện “Hoa Ti-gôn” của tôi, hay đã yêu thơ của T. T. Kh. mà tìm đến?

Ông Thanh Châu còn nói thêm:

– Riêng tôi khi đọc lại thơ của T. T. Kh. Tôi ngạc nhiên thấy phong cách thơ của bà nầy khác xa thơ của ba ông bạn Thâm Tâm, Nguyễn Bính, Trần Huyền Trân cùng thời. Thơ của T. T. Kh. không có những chữ:

– Ly khách, cửa ải xa, xóm thanh bình, trường thành, quan san, trường đình, thét roi, cô phụ, đoạn trường… giống như Thâm Tâm.

– Rau tần, ngõ trúc, tương tư, giang hồ, nhân thế, biển dâu, khóm trúc, phong ba, hoa đèn, giọt dòng, lưu biệt, thiên thu, tịch liêu … giống như Trần Huyền Trân.

– Vương tơ, lão bộc, vật đổi sao rời, quay tơ, guồng tơ, hận tình, buồng the… giống như Nguyễn Bính.

Thơ của T. T. Kh. Kể chuyện mình một cách giản dị, không sáo ngữ, lúc thì thanh  minh:

– Ba năm ví biết anh còn nhớ

Em đã câm lời có nói đâu.

Có lúc lại trách:

– Trách ai mang cánh ti-gôn ấy

Mà viết tình em được ích gì!

Rồi có lúc lại than:

– Buồn quá hôm nay xem tiểu thuyết

Thấy ai cũng ví cánh hoa xưa

Có lúc lại hối tiếc:

– Nếu biết rằng tôi đã lấy chồng

Trời ơi người ấy có buồn không?

Thơ của T. T. Kh. không tìm chữ lạ, không làm dáng nên dễ đi vào lòng người, nhất là lòng bạn gái cùng cảnh ngộ, luyến tiếc thời thơ ngây của con gái, lắng nghe tiếng lá thu rơi mặt hè, tưởng tượng những bước chân người yêu trở lại, càng lo sợ. Tả cái giận, nói được nỗi lòng yếu đuối của mình đối với người yêu mà mình không rứt được …

Kết Luận:

Nhìn vào bối cảnh xã hội của những năm cuối thập niên 30, bắt đầu thập niên 40 quê hương ta chìm trong máu lữa chiến tranh, mọi thân phận con người sống ngày nay mà không biết ngày mai. Hoàn cảnh gia đình vô cùng phức tạp, chồng xa vợ, cha khóc con, vợ lìa chồng … giống như Thâm Tâm đã từng nói:

– Bọn mình sống cuộc đời như dỡn với tháng ngày.

Quả thật là như vậy, cuộc sống, và hạnh phúc gia đình của mỗi nguời dân trong lúc đó thật là mong manh, vì thế, có nhiều khối óc, con tim muốn làm một cái gì đó cho nhân loại cũng khó mà thực hiện. Ngay cả quyền yêu thương cũng bị hạn chế đến mức độ tối đa, để rồi biết bao nhiêu cậu thanh niên, cô thiếu nữ phải xa nhau trong đắng cay chua chát, dang dở. Thực tế luôn luôn lúc nào cũng cay đắng, chua chát, phủ phàng, cho nên con người chỉ có thể tìm thấy hạnh phúc trong tưởng tượng, trong lý tưởng. Thơ văn là môi trường có thể thực hiện dễ dàng trong lãnh vực tượng tượng một cuộc sống, hoặc một chuyện tình lý tưởng, vì thế chúng ta không ngạc nhiên khi câu chuyện tình lịch sử nầy xuất hiện trên văn thơ đàn Việt Nam và vẫn tồn tại trong lòng người trong mấy mươi năm qua.

Như trên chúng ta thấy, khi nói về T. T. Kh là ai, thì đã có những tranh luận sôi nổi trước đây, theo các khuynh hướng:

– T. T. Kh chính là Thâm Tâm

– T. T. Kh chính là Trần Thị Khánh

– T. T. Kh là người tình của Thâm Tâm và Nguyễn Bính

Và gần đây thì có đề cập đến:

– T. T. Kh chính là bà Vân Nương – Trần Thị Vân Chung ..v..v..

Nhất là sau khi cuốn sách T. T. Kh. Nàng là ai, của Thế Nhật ra đời, theo ông Hoài Việt  thì tính cho đến nay có tới 68 bài báo phản ứng về câu chuyện tình lịch sử nầy. Vì thấy tốn nhiều giấy mực mà sự thực vẫn không đi đến đâu nên ông Thanh Châu cũng có lần đã đề nghị:

– T. T. Kh là ai? Có lẽ ta cũng chẳng cần biết rõ đó là ai? Một người phụ nữ vào thời đó đã làm thơ, đã theo kịp trào lưu thơ mới, là điều đáng trọng. Tôi không tin rằng ai đó đã tìm được bà.

Và các ông Lương Trúc, Mã Giang Lân, Hoài Việt … cũng đồng một quan điểm:

– Ta hãy nên để cho cái tên T. T. Kh. được yên trong lòng bạn đọc xưa nay vốn hâm mộ người thơ.

Theo chúng tôi nghĩ: Về việc T. T. Kh. là ai? Có thật hay không thật. Có đúng là người tình của cố thi sĩ Thâm Tâm và Nguyễn Bính hay không? Nó không phải là vấn đề bàn thảo ở đây. Lý do mà chúng tôi góp nhặc những dữ kiện nầy sắp xếp chung lại cho bạn đọc, đọc cho vui vì thấy rằng:

– Sự kiện đã từng được các bậc tiền bối bàn thảo nhiều trong mấy mươi năm qua, nếu đây là một chuyện tình bí ẩn có thực trong cuộc sống thì đó là lẽ thường. Còn nếu không có thực thì chúng ta hãy cứ coi đây là Mối Tình Thơ Của Hai Nhà Thơ Xóm Áo Bào Gốc Liễu.

Tô Hoài viết về Nguyễn Bính

Nhà thơ Thâm Tâm giới thiệu cho tôi quen với Nguyễn Bính. Những năm ấy Nguyễn Bính đã được giải thưởng thơ Tự lực Văn đoàn và đương đăng nhiều thơ trên tuần báo Tiểu thuyết thứ năm. Tôi chỉ mới viết vài truyện ngắn đầu tay.

Ở cái nghề báo, nghề văn bát nháo hội này, lắm người vừa cầm bút, lại làm áp-phe, làm du côn, vay chẳng, chơi bừa, tống tiền, ăn tiền mật thám, người ở lẫn với ma, người nửa người nửa ma, không biết thế nào, cho nên cách người ta làm quen với nhau cũng lắm sự lạ. Có thể trông thấy thì quay mặt đi, lỉnh ngay. Có thể khệnh khạng không thèm giơ tay đáp lễ. Có thể xông luôn đến cho một cú “thôi sơn” quai hàm, mạng mỡ. Lại có thể sụp xuống, chắp tay “đại huynh mới là thiên tài, hân hạnh… hân hạnh…”. Tôi biết như thế thôi. Chứ tôi mới cầm bút, được làm quen với một bạn viết nào cũng là điều mình mong mỏi. Và với Nguyễn Bính, cũng thấy dễ chịu ngay, anh nhà thơ này dường như cũng tàng tàng, cảnh mình.
Còn nhớ Nguyễn Bính mặc bộ quần áo Tây trắng đã tã, gấu quần và ống tay áo lờm xờm như tóc tai, anh không cắp mấy quyển sách gì đó như mốt của những người viết trẻ lúc ấy. Nguyễn Bính lại còn cầm một hộp sắt Tây màu đỏ lựu – cái hộp đựng bánh bích quy.

Nhưng đây là cái hộp không đựng bánh. Những chiếc hộp này và những cái vỏ chai thường thấy các bà “chai bao chè đồng nát” mua ở các nhà Tây vứt đi, bồi bếp nhặt bán rồi người ta quảy đi bán rong ở các phố ta.

Tôi chưa hiểu Nguyễn Bính có cái hộp bích quy đựng gì.

Bắt tay rồi, Nguyễn Bính hỏi tôi: “Này, có tiền không?”

Như đã biết nhau từ bao giờ. Tôi cảm động được anh hỏi han thân tình như thế. Tôi mỉm cười. Thế là, cũng chẳng đợi tôi trả lời, có lẽ cái cười hiền lành của tôi đã khiến anh thấy tôi sẵn sàng, anh sai luôn: “Vào nhà bánh giò Đờ-măng chỗ kia, mua dăm chiếc nhé, năm chiếc cũng không thừa đâu. Từ sáng, tớ chưa được miếng nào vào bụng.”

Hàng bánh giò ngon có tiếng, ở xế cửa toà báo hàng ngày Trung Bắc tân văn gần vườn hoa Cửa Nam, bên cái nhà gì của Tây mà người ta gọi là nhà “Đờ-măng” và cũng thành tên hàng bánh giò cạnh đấy.

Nhưng cũng không phải Nguyễn Bính không có đồng nào trong túi. Buổi trưa oi nắng ấy, chúng tôi đem cả xâu bánh rúc vào một tiệm thuốc phiện đầu phố Nhà Hoả. Nguyễn Bính và Thâm Tâm không ai nghiện, nhưng đi hút, đua đòi đi hút cũng là một thói của thời thượng. Chúng tôi đánh trần ra, ngồi chầu rìa quanh tấm phản gỗ trong bóng tối ẩm thấp trần nhà bọc nhật trình thấp gần đụng đầu của cái tiệm hút cà khổ, vắng ngắt, thế mà dường như chẳng ai biết nóng bức thế nào. Kéo xong một điếu, Nguyễn Bính nằm gối đầu lên chiếc hộp bánh quy, mắt môi nhẫy lên, rợn như mắt mèo.

Chỉ một lát sau, tôi đã biết được sự tích cái hộp bánh quy, khi Nguyễn Bính ngồi lên, vuốt ve, xếp đặt lại các thứ trong ấy. Đấy là bản thảo những bài thơ của anh và những bức thư tình, một hộp thư tình. Tờ trắng, tờ xanh, vết tay mồ hôi mờ đọc đi đọc lại đã về vệt cả. Bao nhiêu thư của một mối tình, của những mối tình, anh xếp chật cái hộp. Có điều chắc chắn đấy là những cái thư cũ và những người ta ở những đâu đâu ấy đã “cho rơi” anh rồi. Chỉ còn lại những lá thư trong hộp. Cơ chừng, mỗi lúc canh tàn rượu tỉnh, lại lôi những của oan trái giời ơi trong cái hộp gối đầu ra.

Bây giờ nghĩ lại những ngày ấy, đứng ở góc nào mà ngẫm, khi vui khi buồn cũng thế, chỉ rặt một màu ảo não, mặc dầu khi đó chúng tôi đương vào lứa tuổi đôi mươi và mỗi bài thơ, cái truyện ngắn viết ra, các “thiên tài” lại bốc nhau lên mây, mặc dầu những cuộc chơi nghiêng lệch cả đêm ngày, bằng tiền của ai không biết, như lũ thiêu thân lao vào ánh đèn, chúng tôi đi, cứ đi, không biết đi đến đâu, bởi chẳng biết đi đến đâu cả. Không phải tôi nói bóng gió cao xa về sự nghiệp, về lý tưởng mà tuổi trẻ đi tìm. Tôi chỉ so sánh mọi việc bình thường ở mỗi con người. Người ta tuổi đương độ, ai mà chẳng ao ước được sống tử tế, trai có vợ, gái có chồng. Nhưng, với biết bao người, đấy chỉ là cơn mộng. Không biết nhà thơ Nguyễn Bính tích được đến mấy chiếc hộp sắt đựng thư và thơ tình của những ai ai đã tơ vương với anh, để anh cắp nách cả cái hộp kỷ niệm tha đi từ Bắc vào Nam, nhưng suốt một thời thanh xuân, tôi cũng chưa thấy anh một lần nào lấy vợ. Dẫu cho những bức thư tình kia là những bằng chứng sống về lời thề sông cạn đá mòn, có lúc doạ cắt tóc đi tu và uống thuốc phiện dấm thanh cho chết, nhưng chẳng có người con gái nào yêu thơ rồi say mê người làm thơ đến bỏ nhà đi theo không. Còn anh chàng thì không làm sao lo nổi tiền cưới, ở cái thời mà những thói tục phiền nhiễu và đồng tiền to hơn nghìn vạn lần tình cảm và tóc thề, trăng thề của con người.

Tôi nghĩ mãi cũng không ra được câu trả lời nào khác hơn là đem cái kết luận dung tục, phũ phàng kia mà phủ lên những mối tình xếp vào hộp gối đầu của kẻ si tình. Nhưng mà tuổi trẻ vẫn nhởn nhơ những gặp ai tìm ai. Chán nằm trong cái ngõ Sơn Nam tiểu thuyết Sau ánh sáng nhà Trần Huyền Trân chỗ Cống Trắng Khâm Thiên, lại xuống ăn báo một người bạn chài lưới yêu thơ ở đầm Linh Đường, rồi đến nhà Chu Ngọc “mà ai cũng tá túc được” ở phố Hàng Đồng, rồi có khi kéo lên Nghĩa Đô. Những lúc ấy túng bấn nhất. Chơi bời có bao nhiêu, nhưng ở đâu cũng không vùng vẫy khỏi cái cảnh tương tự ngày ngày ra bờ sông Tô Lịch mua xu rau muống, có hôm xin được mớ rau của cô bơi thúng hái rau sinh hảo tâm bởi đã thuộc lòng cả bài “Lỡ bước sang ngang”.

Mà mải mê đến thế. Tối đến, hình như mọi việc mới bắt đầu. Chúng tôi với Cương và Lập mấy anh em trai làng lại nhởn khắp vùng đến rạc cẳng. Các làng Bưởi làm nghề giấy, từng dãy tàu seo đêm seo đèn, từ dọc bờ sông vào suốt dãy làng Đông sang Cầu Sau, ra Hồ Tây. Ánh đèn quang treo giữa lều tàu, những cái đèn chai xách lúc hết seo, như đom đóm bay. Những chàng trai, những Cương, Lập và cả Nam Cao ló mặt ra trong ánh đèn thấp thoáng, tiếng cái khuôn liếm khua vào thành tàu đã kiệt nước đổ rả rích lẫn liếng cười canh khuya, như xé cơn buồn ngủ của những cô thợ seo. Chỉ có thế mà cứ săn đón nhau suốt, đêm nào cũng như đêm nào.

Lại nhớ những hôm rét mướt vào áp Tết, chúng tôi chen chúc ngồi đánh tam cúc trong ổ rơm. Đánh chơi ăn đẹt mũi, búng tai mà thôi. Những cô Tý, cô Mơ, cô Hứa – gái làng canh cửi, thuộc Kiều lại cũng thuộc cả “Lỡ bước sang ngang”. Khi cười thì cười ngặt nghẽo tít con mắt lá dăm. Tưởng như dứt cơn cười, những cô gái đa tình ấy vứt cả lồng tơ khung cửi mà đi theo cái anh làm thơ tài đến thế. Nhưng cũng chỉ vậy thôi.

Những ngày lang thang, những thất vọng và vô vọng bất đắc dĩ. Ở đâu cũng thế. Lại cái lần đi Sài Gòn với Vũ Trọng Can tìm Nguyễn Bính – lại “chữ một đi không bao giờ về”. Chẳng phải qua sông Dịch đâm chém ai đâu. Ấy mượn câu thơ xưa để nói bóng cho đẹp và buồn cái nỗi chỉ xoay được tiền vé tàu hoả đủ suất vào đến Sài Gòn mà thôi.

Có lẽ đây là một việc làm ngỗ ngược và ngây ngô nhớ đời, mà ý nghĩa của nó thật bao thảm thương.

Ở trên tàu bước chân xuống ga xe lửa Mỹ giữa thành phố. Chẳng có người quen đến mức phải ra ga đón và trong túi không đứa nào còn một xu. Chợ Bến Thành với cái bãi bùng binh trước mặt, người ăn uống rào rào như tăm ăn rỗi. Làm thế nào được bây giờ? Rồi tìm được Nguyễn Bính. Nhưng cũng đương ăn nhờ ở đậu.

Vũ Trọng Can nghĩ ra một kế hay hay. Mắt anh trố ra, ngơ ngác một cách hồn nhiên.

“Ờ mà phải như thế. Sẽ làm ra tiền, có tiền hẳn hoi. Chúng ta sẽ diễn thuyết thu tiền nhé. Đúng, diễn thuyết thu tiền. Cả ba thằng lần lượt sẽ diễn thuyết. Tổ chức diễn thuyết thu tiền người đến nghe. Được lắm chứ.”

Nguyễn Bính hay cợt nhả, như thói quen của anh:

“Ừ, cũng được, như đi hát xẩm. Không phải xẩm mù, mà xẩm chợ, xẩm sáng. Còn thiếu cái nón, cái nón ngửa ra, hay là làm cái nong cho người ta ném tiền thưởng vào.”

Vũ Trọng Can không chấp câu mỉa mai, lại hăng hái hơn:

“In vé, in vé. Ta sẽ bán vé. Có người bán vé cẩn thận. Một công việc lương thiện.’’

Vũ Trọng Can còn cắt nghĩa nhiều lần, trong khi chúng tôi không tỏ ra vồ vập, cũng không phải là ngãng ra. Viết sách, viết báo, bán chữ lấy tiền, thì người ta có thể bán nói. Thế rồi làm thật. Vũ Trọng Can đã tìm được một người bạn làng, anh Nguyễn Văn Tập. May mắn sao anh Tập đã sốt sắng tận tình lo liệu cho cuộc diễn thuyết kiếm ăn này. Một tập vé từng tờ con con như cái vé chợ, vé xe điện. Trong đó là những hàng chữ in: “Sáng ấy… sáng ấy…, từ giờ…, tại rạp Thành Xương, văn sĩ Vũ Trọng Can, tác giả truyện ngắn “Màu hoàng yến’’ đã đăng trên báo Ngày nay của Tự lực Văn đoàn, mới ở Hà Nội vào nói chuyện về… Kính mời… Giá vé…”.

Nơi diễn thuyết tại rạp Thành Xương mới ghê! Tuy vậy, những rạp hát vào buổi sáng thường bỏ không. Giá thuê rạp chẳng bao nhiêu. Nhưng bởi vì chẳng có cách nào – nghĩa là không đào đâu thêm tiền, cho nên không thể thuê đăng báo hay in cáo bạch. Chỉ viết được hai tờ quảng cáo rồi thuê chỗ mà dán vào tấm bảng gỗ cổng rạp và ở bùng binh cửa chợ. Trước giờ sớm hôm ấy, mỗi người chúng tôi cầm một nắm vé, đi các phố xung quanh, từ đường Ga-li-ê-ni sang ga xe lửa, chợ Bến Thành, đường Ét-banh, hễ thấy người nào ăn vận vẻ chững chạc dân thày, bèn chìa xếp vé ra: “Mời thầy đi nghe diễn thuyết… Văn sĩ… Giá vé một cắc, có một cắc thôi mà… Xin mời…”

Tôi không thể hình dung lại được cái quang cảnh cuộc diễn thuyết lấy tiền có một không hai này ra thế nào. Cả đến hôm ấy Vũ Trọng Can nói những gì, cũng không nhớ. Nhưng tôi lại nhớ như nguyên vẻ lộn xộn từ hăng hái đến rầu rĩ của luôn mấy hôm. Chúng tôi chia ra, người đứng cửa bán vé, người soát vé, người mời khách vào. Diễn giả ra đứng ngay trước cửa, tóc chải bi-ăng-tin uốn lượn, thắt chiếc cà-vạt màu hoàng yến. Từ ngày Vũ Trọng Can có cái truyện “Màu hoàng yến’’ đăng báo, anh hay đeo cà-vạt màu hoàng yến, mỗi lần lại phải đi mượn, mà cũng cứ cầu kỳ khó nhọc thế.

Diễn thuyết bán vé, kể cũng thật lạ và hình như chẳng mấy người, bước vào. Ở nách rạp Thành Xương có cái trường nữ học, Nhật đã đóng, có lính nguỵ Ấn gác cổng mà người ta gọi là lính oẳn Bô [1] . Hai người lêu đêu mặt bồ hóng, đầu quấn khăn thừng, tay cầm chiếc côn gỗ, thơ thẩn nhìn người qua lại. Người đi chợ, người đi đường tò mò xúm xem mấy “anh chín” quấn thừng có phần đông hơn người vào rạp. Chốc chốc, hai cái đầu xe lửa kéo lũ toa ngược xuôi chạy rầm rầm ngoài kia.

Tôi chỉ nhớ bằng cái cảm tưởng nhộn nhạo buồn bã như thế. Không nhớ được hôm ấy đông hay vắng, vé còn ế một xấp hay mấy xấp. Nhưng không bao giờ có buổi diễn thuyết thứ hai, thứ ba mà chúng tôi cũng phải đăng đàn như Vũ Trọng Can đã dọa. Chỉ một buổi ấy thôi, một buổi ấy thôi. Đấy cũng là một điều quả nhiên không vui vẻ như ý rồi.

Chỉ đi ăn vài bữa cơm thố, bấy giờ cơm thố còn là loại cơm mạt hạng rẻ nhất như cơm đĩa bây giờ, lại đã hết tiền. Ngày ấy, cạn túi lắm mới phải đi quán cơm thố của mấy chú chiệc Chợ Cũ. Cơm thố chưa cầu kỳ lắm món. Có một xu cơm ca la thầu với nửa xu canh cải cúc – như hàng cơm đầu ghế ở các cổng chợ ngoài Hà Nội.

Thế rồi chúng tôi lại chia tay. May mà cũng êm ả, không có xô xát, cũng không cãi cọ to tiếng cấu xé nhau, đánh nhau như thường cái cảnh bè bạn mỗi người mỗi ngả khi đương cơn túng bấn.

Vũ Trọng Can và tôi lại trở ra Hà Nội.

Nguyễn Bính trôi nổi trong ấy cho tới 1945 rồi đi kháng chiến.

Năm 1976, tôi trở lại Sài Gòn. Năm ấy anh Nguyễn Văn Tập còn sống, anh vẫn nghèo, làm ăn nhì nhằng như ngày trước. Tình cờ, tôi đi nhậu với Nguyễn Quang Sáng và Đoàn Minh Tuấn. Gặp anh trong cái quán thịt chó gần chợ Đũi mỗi tuần chỉ bán có ba buổi ở hẻm đường xe lửa của một bà già người Bắc xưa kia làm ả đào, anh Tập ngồi ăn một mình, cái ô đen dựng cạnh bàn, anh móm hết răng, chỉ còn nhai bằng lợi được món ăn dựa mận quá lửa. Tôi hỏi vui về cái ngày anh in vé giúp cho Vũ Trọng Can diễn thuyết tang thương ấy. Cũng là bên chén rượu, hoài cổ chơi thôi.

Anh lắc đầu, anh nói anh chẳng nhớ. Có lẽ anh vẫn nhớ – trí nhớ người ta khi trẻ thường nhớ dai, nhưng dường như anh không muốn nhớ; chẳng còn hào hứng nói lại nữa. Cũng như những chuyện bông lông chìm nổi như trên về Nguyễn Bính có thể kể hết đêm, trời sáng rồi trời lại tối, câu chuyện lại bắt đầu, những thương đau của đời người trong xã hội ấy bao giờ cạn được.

Chỉ biết cái thời ấy nó thế. Muốn có miếng cơm tử tế mà không được, muốn yên thân cũng không thể yên. Chứ đâu phải bệnh giang hồ – đấy là những lời đẹp tự trang trí hoa mỹ mà thôi. Chúng tôi chưa ai nghĩ có khi nào có thể có một cái xe đạp. Ôi chao?

Tất cả những điều ấy sống trong mộng mị và đã thành thơ. Từ cuộc đời phũ phàng đến thế, từ những ước ao thực như thế, đã thành thơ. Đấy cũng là tâm sự, là mộng của vô vàn người trong xã hội lúc ấy. Điều đó nói được tại sao thơ Nguyễn Bính nhiều người đọc, nhiều người thuộc. Bạn đọc và người thơ đã gặp nhau, hai người cùng sống trong thơ, cái làng Thiện Vịnh trong thơ Nguyễn Bính cũng chỉ là một bóng mơ. Làng Thiện Vịnh thật có giữa vùng chiêm khê, mùa thối đất Nam Định, đâu đâu cũng xơ xác, nước trắng đồng, gió lùa sóng đồng cồn lên, quằn lại, lật thuyền mảng, cả đến người ra cứu lúa cũng chết đuối. Mỗi năm, mỗi mùa, biết bao người đã bỏ làng đi tha phương. Nhà thơ bó gối nhìn vào trong đêm. Chỉ nghĩ lại cũng đã se lòng. Nhà thơ tưởng tượng, trên những khổ cực ấy, phấp phới những lứa tuổi đương tơ, hoa cải vàng tháng chạp, mưa dây mưa dợ, trang rằm sáng như ban ngày và những đêm chèo hát…

Thơ là niềm khát khao, là ước nguyện của con người. Khi chưa quen Nguyễn Bính, tôi cũng không thật hiểu được những bài thơ viết về đồng quê của Nguyễn Bính và cũng chưa phân biệt được đâu là chút lòng mộc mạc thiết tha của người làm thơ, đâu là cái hoa hoè hoa sói của chàng trai quê ra tỉnh. Rồi mỗi khi gặp chính trong cuộc sống khốn khó hàng ngày tháng như chẳng liên quan gì đến những bài thơ quê đẹp nõn như lụa của Nguyễn Bính, tôi lại rõ ra ý nghĩa sâu thẳm của mỗi câu thơ với quê hương. Chỉ có quê hương mới tạo nên được từng chữ, từng câu Nguyễn Bính. Trên chặng đường ngót nửa thế kỷ đời thơ, mỗi khi những gắn bó mồ hôi nước mắt kia đằm lên, ngây ngất, day dứt không thể yên, khi ấy xuất hiện những bài thơ tình tuyệt vời của Nguyễn Bính.

Những lịch lãm, những trải biết con người tất bật giữa cuộc sống bon chen cùng với những lặn lội từ tấm bé đã làm cho Nguyễn Bính thành con người như mọi con người, con người của làng xóm cả đời trong lũy tre, nằm mơ có quyển sách ước gối đầu mà những điều to tát nhất cũng chỉ là ba gian nữa lá, giàn đỗ ván, cái chuôm, tháng chạp chuôm cạn nước thì cấy cần. Mộng đẹp nho nhỏ ấy cũng chưa bao giờ có được cho riêng mình.

Thì trong thơ có cả.

Nguyễn Bính chẳng khác một người tài kể chuyện, cứ nhẩn nha nói về mọi cái quen thuộc quanh mình mà khiến ta phải chú ý. Ở mỗi làng quê, thường thấy những bác thợ cày, thợ cối, thợ rèn, thợ ngõa, bà hàng nước nụ vối, nước chè tươi, hầu như vùng nào cũng có những người giỏi đặt vè, nói tiếu lâm, pha trò kể chuyện khéo đến đỗi “con kiến trong lỗ cũng phải bò ra”, ai cũng thích nghe, ví như cuốn truyện hay, đọc chẳng bao giờ muốn thấy trang cuối, Nguyễn Bính là một người tương tự. Cái thần của sáng tạo chính là cũng ở một người ấy, việc ấy, cảnh ấy, ngòi bút đã tìm ra những dáng vẻ riêng biệt, trong khi ta trễ nải nhác qua, chẳng thấy khơi gợi được điều gì mới mẻ khác lạ.

Con người Nguyễn Bính trông nhôm nham lắm. Tay chân thô nhám, quềnh quàng, lúc nào cũng lừ đừ thủng thỉnh, như “ông từ vào đền”, như người thong thả đi giữa làng. Lại lam lũ như vừa lướt mướt từ đồng sâu mà lên, dẫu cho anh đương mũ áo chững chạc trên đường phố. Khi nào anh cũng là người của xứ đồng, của cái diều bay, của dây hoa lý, của mưa thưa, mưa bụi giữa mọi công ăn việc làm vất vả sương nắng. Bởi đấy là cốt lõi cuộc đời và tâm hồn thơ Nguyễn Bính.

Quê hương là tất cả, mà cũng là nơi in đậm dấu vết đời mình. Ở Nguyễn Bính, tình quê là hình bóng đất nước, những nơi anh đã đặt chân với vô vàn kỷ niệm và quê anh cũng là vùng chiêm trũng mênh mông Phú Xuyên, Bình Lục, Ý Yên, Vụ Bản – cái rốn nước đồng bằng sông Hồng, ở đấy, nhà thơ thân thương của chúng ta đã lênh đênh thân con cò, con diệc đồng sâu.

Sức mạnh sáng tạo của Nguyễn Bính cũng từ nơi đồng đất trắng trời, trắng nước này. Làng Thiện Vịnh, làng quê chôn rau cắt rốn của anh, cái làng đồng trũng mà chắc đến mùa nước thì con đường, con đê lên huyện kia chỉ còn là một sợi chỉ mỏng manh bên làn nước giữa gò đất, bờ bụi, tre pheo. Sao mà cái lần tôi về Thiện Vịnh hôm ấy lắm gió thế, gió trên đồng đêm ngày giật lên, gào lên từng cơn. Làng nước xám ngắt, quang cảnh tiêu điêu lam lũ, ám đạm, nheo nhóc.

Thế mà:

Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay,
Hoa xoan lớp lớp rụng rơi đầy.

Tầm vóc thật, tầm vóc mỗi câu thơ Nguyền Bính.

Trong cuộc sống triền miên đồng trắng nước trong cả đời người ta vẫn đợi chờ mong ngóng những rộn ràng óng á của một Hội chèo làng Đặng đi qua ngõ. Tinh thần và triết lý ấy, nhìn suốt đáy thơ Nguyễn Bính – thấy được từ mỗi ước vọng hàng ngày của người ta. Tài năng và sức mạnh sáng tạo của nhà thơ là một với cội nguồn thơ. Từ những dằn vặt, những mơ tưởng nhỏ nhoi đọng lại. Mùa này mất trắng lại mong cho đến mùa sau được thấy mặt hạt thóc. Cái củi rều trôi qua ngoài sông, không vớt được, cũng tiếc. Vợ chồng cãi nhau, người vợ ôm mặt, than thở: “Giá như ngày ấy tôi theo cái người dưới Đông thì chẳng đến nỗi nào, khổ cái thân tôi…”. Hoa xoan và mưa bay giữa hội chèo làng Đặng đã sinh ra từ những chuyện như thế. Người ta than thân trách phận, nhớ tiếc, ước ao, ở giữa làng mà tưởng như quê mình tận đâu đâu kia.

Được như thế mới là Nguyễn Bính. Thơ và cuộc đời, những con người và cuộc đời. Nguyễn Bính biết làm thơ từ bé. Vừa thuộc mặt chữ đã đọc ra thơ, tài năng thơ bẩm sinh. Cho đến khi thành những bài thơ đầu tiên, những bài thơ hay nhất của Nguyễn Bính.

Thật rõ ở Nguyễn Bính, năng khiếu trong thơ được khơi từ cuộc sống chân thực, lý trí và bản năng nhà thơ hoà một tấm lòng, khi ấy thơ Nguyễn Bính tuyệt trần.

Hôm nay dưới bến xuôi đò
Thương nhau qua cửa tò vò nhìn nhau
Anh đi đấy, anh về đâu?
Cánh buồm nâu, cánh buồm nâu, cánh buồm…

Nguyễn Bính kể những câu thơ anh viết ở Thái Nguyên. Cũng chẳng ai chờ đợi, chẳng có đò có bến, chỉ là tưởng tượng ra sự chờ đợi cho được có nỗi nhớ nào viết chuyến này rồi bồng bềnh đi đâu. Tình cảnh tang thương của một lớp người. Chuyến lang bạt kỳ hồ ấy cũng không khác mọi cuộc đi kiếm ăn. Nguyễn Bính có người anh em lên vỡ đất làm ruộng trên Thái Nguyên. Thuở ấy, lên đến vùng chè Đồng Hỷ, Tân Cương đã là vào đất đồng rừng xa xôi và người đồng chiêm tìm lên đường ngược vào ở đồi như thế, làng nước xót xa cho con người phải bỏ làng đi quê người.

Thế mà lại còn phải đi theo những người tha phương, xem may ra kiếm được việc, có tìm được chỗ ngồi bảo học kiếm cái ăn. Nhưng mà cũng lỡ, lại đi.

Bỏ đất quê, lại nhớ đất quê, đi đâu cũng lẽo đẽo, thui thủi một nỗi buồn. Những cái gì không tới được thì nhớ. Những ước vọng thiết tha và xót xa ấy gắn bó trong tâm hồn người làm thơ.

Nguyễn Bính làm thơ thật nhiều. Và sinh sống bằng thơ. Dẫu gặp mọi khốn khó, phải long đong chạy vạy, nhưng Nguyễn Bính vẫn lần hồi có cái ăn do tiền bán thơ, chứ không chỉ nhờ bạn bè hoặc phải lấy tay khác nuôi thơ, trong khi nghề viết thời ấy chưa hề được coi như một công việc ngay ngắn, mực thước.

Tinh hoa của tài năng con người nảy nở vào một khi sức lực nhất – có thể chỉ nổi lên ở một bài thơ, thậm chí ở một câu thơ. Một văn tài lỗi lạc đến mấy cũng không thể cả đời lúc nào quanh mình cũng lung linh hào quang những sáng tạo tầm cỡ. Sức mạnh sáng tác cũng ví như sức khoẻ con người, không phải và không thể lúc nào cũng sung sức nhất được.

Nguyễn Bính chỉ thật riêng một góc trời ở những bài thơ với những mảnh đất quê. Trong đời thơ của anh, đáng lẽ đến hết thời kỳ hồn nhiên năng khiếu phải được nâng cao hơn nữa – như bây giờ ta nhận xét hoặc nói cách khác, sự rèn luyện tâm hồn và ngòi bút phải được, cái tài trời phú lên hơn, mới bồi đắp được độ bền và sức sống của sáng tạo. Nguyễn Bính không tới dược cơ hội ấy. Dù trong kháng chiến và cho đến bài thơ cuối cùng, Nguyễn Bính vẫn thường viết về quê hương, nhưng tinh hoa chỉ có một thời, và thời ấy đã qua rồi.

Nhưng thôi, chẳng nên nhận xét thơ và công việc làm thơ của Nguyễn Bính với con mắt sắp đặt trong sự việc hôm nay. Tìm ra cái tinh hoa của Nguyễn Bính, hãy trở lại cuộc sống và thơ từ ngày ấy.

Khi tâm hồn và sự chân thực đi cùng thơ, Nguyễn Bính đạt tới sự toàn bích. Rồi Nguyễn Bính bôn ba đây đó Hà Nội và Sài Gòn, rồi cuộc sống tự nhiên thế nào, mà Nguyễn Bính trải biết đều phản ánh trong thơ anh.

Nguyễn Bính không cắt nghĩa được số phận đời người và đời mình ở những nơi đó. Nguyễn Bính cũng không bao giờ biết như thế, không bao giờ biết mình đã phí hoài những chân chất tình quê, thơ anh lạc vào những “bụi kinh thành”, “vua nước Bướm” “hồn trinh”, “mây Tần”, “đốt đường sạn đạo”. Anh ngỡ đấy là thiết tha, nhưng thật ra, lại là hời hợt. Ở Nguyễn Bính, mỗi khi thơ sa vào câu chữ sẵn lại chính ở những bài thơ tình yêu “một nghìn cửa sổ, “mười hai bến nước”, những bài thơ “bụi bậm kinh thành”. Tôi nhớ lại. Ở quãng phố gần vườn hoa Cửa Nam, lần đầu tiên gặp anh với chiếc hộp bích quy đựng thơ và những bức thư tình. Bao nhiêu cuộc tình tưởng não nùng tê tái kia chẳng qua chỉ là hờ hững và nó đã đẩy thơ anh ngoi ngóp vào những đau thương hình thức mà thôi.

Thơ và cuộc đời ràng buộc nhà thơ. Trước sau và mãi mãi, Nguyễn Bính vốn là nhà thơ tình quê, chân quê, hồn quê.

Thơ Nguyễn Bính, một trường thơ. Một khoanh tre trong luỹ tre làng thơ. Có thể dễ dàng nhận thấy hiện tượng ấy ở thơ của anh và bè bạn anh trước cách mạng và thơ Nguyễn Bính trên sách báo những ngày đầu kháng chiến tại các chiến khu Nam Bộ.

Đấy cũng là thực tế phong trào Thơ Mới phát triển đa dạng trước và sau những năm 1940. Thơ Việt Nam ở thời kỳ này hoàn toàn đổi mới. Các nhà Thơ Mới đã nhanh chóng chiếm được trận địa thơ với sự chấp nhận, cổ vũ và tin yêu của mọi người đọc thơ. Không phải bằng chiến công những cuộc tranh cãi, mà bằng sự ra đời những bài thơ dân tộc. Nghiễm nhiên, tức khắc Thơ Mới bay vào quỹ đạo thơ, thơ Việt Nam.

Thơ Nguyễn Bính là một nhành hoa trong trào lưu cách tân thơ. Và cùng với Nguyễn Bính, xuất hiện một trường thơ, một phái thơ.

Còn nhớ, vào mùa sen, có khi cả phiên chợ Mơ, chúng tôi về ở trong cái lều canh sen trên hồ Linh Đường, phía nam thành phố. Chúng tôi đọc thơ rồi cãi nhau về thơ. Chúng tôi chế giễu cuộc thi thơ bát cú có đầu đề và hoạ vần “Nghìn năm văn vật đất Thăng Long” mà rải rác còn có báo đăng, như những bài thơ chết đuối. Chúng tôi công kích những bài thơ son phấn màu mè cầu kỳ một câu cộc lốc và những bài bắt chước “mười hai chân” Tây của Nguyễn Vỹ.

Bài thơ “Chân quê” của Nguyễn Bính không phải chỉ là đôi lời than thở của anh ả gặp chị ả nào đó. “Chân quê” đã tuyên bố quan điểm của phái thơ này trong trào lưu thơ đương rầm rộ:

Hoa chanh nở giữa vườn chanh,
Thầy u mình với chúng mình chân quê.
Hôm qua em đi tỉnh về,
Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều.

Tôi đã được thấy như thế ở thơ và hành động trong đời làm thơ của Thâm Tâm, của Trần Huyền Trân, các bạn thơ Nguyễn Bính. “Đưa người ta không đưa qua sông”…, và “Nhớ nhau vảy bút làm mưa gió”… Những áng thơ phảng phất “thét roi cầu Vị” kỳ thực mang trong lòng hình ảnh tâm sự của người cầm bút thời đại, giữa khi cả đất nước và dân tộc đương chuyển biến.

Ở trường thơ ấy, mỗi người thể hiện một phong cách. Thâm Tâm và Huyền Trân sừng sững và cũng cô đơn như gốc đa, con đò một mình. Nhưng Nguyễn Bính in đậm ảnh hưởng vào thơ của các bạn bè, vang vọng dư âm trong lòng một lớp độc giả rộng rãi.

Không phải ngẫu nhiên mà Nguyễn Bính đi vào kháng chiến ở Nam Bộ. Bởi đấy là triển vọng của những điều mơ ước về quê hương.

Tô Hoài

“Những gương mặt – Chân dung văn học”

Nguyễn Bính, một thi sĩ suốt đời mắc bệnh tương tư – Vũ Bằng

Hình như đa số các nhà văn đều theo một công lệ đã được vạch sẵn từ bao giờ không biết: là mỗi khi nhắc nhở đến một bạn đồng nghiệp nào khuất bóng thì hết lời ca ngợi và không quên nhắc đi nhắc lại là mình có cảm tình hết sức nồng hậu với nhà văn, nhà thơ đó.

Tôi muốn ăn ngay, nói thẳng hơn một chút. Về NGUYỄN BÍNH, tôi phải thú thực liền: tôi không có cảm tình với anh ta trong những buổi đầu gặp gỡ. Tôi nhớ rõ như mới ngày hôm qua: chúng tôi gặp nhau  lần đầu vào một ngày mưa dầm, tháng bảy.

Mưa suốt đêm ngày, tôi ru rú ngồi sửa bài trên một căn gác nhỏ. Thâm Tâm, Trần Huyền Trân và Ngọc Giao đưa Nguyễn Bính đến thăm tôi , cả ba đều ướt, gặp ngày mưa lòng mình đã chán chường, lại thấy ba ông bạn đến thăm vào chính lúc mình không chờ đợi, tôi không thú mấy. Trần Huyền Trân, Ngọc Giao và Thâm Tâm là bạn quen biết trước, đến bất ngờ như thế không sao, nhưng Nguyễn Bính đối với tôi “nhất kiến vi kiến” tôi cảm thấy hơi khó chịu.

Đã thế, tôi lại thấy Nguyễn Bính không có cái duyên đối với riêng tôi, ngay từ câu xưng hô đầu tiên mà tôi cho là lố lỉnh. Bính nói :” Bính còn có vài bài thơ chưa được đăng đâu, để hôm nào rảnh, gửi anh đăng lên “Tiểu thuyết thứ bảy” hay “Phổ thông bán nguyệt san” tùy ý! Lúc đó tôi còn trẻ, tôi hơi khó tính , thấy một người đàn ông con trai tự xưng tên mình lên với người quen như thế , tôi cho là không được. Ngay các cô thiếu nữ tự xưng tên mình như thế , tôi cũng đã không “thương” được rồi. Có lẽ chính tôi lố lỉnh vì có thành kiến về cách xưng hô như thế, nhưng đó là sự thực tôi cảm giác về Nguyễn Bính.

Sau đó ít lâu, tôi tìm đọc một vài bài thơ của Nguyễn Bính đăng trên “Hà nội báo” xem ra thế nào thì tôi vẫn duy trì ý kiến của tôi : không có cảm tình với Bính cả về người lẫn thơ. Tôi phải thú thực tôi là một người xem thơ không sành. Qua mấy bài thơ của Nguyễn Bính tôi được đọc, tôi thấy anh làm vè chứ không phải là thơ. Thơ, theo tôi quan niệm : phải kết tinh ý nghĩ trong ít lời, ít chữ, nhưng những chữ, những lời ấy mỗi mỗi phải là hình ảnh, đọc lên phải là nhạc gợi lên nhiều ý nghĩa sâu xa, lắng đọng . Nói một cách khác, tôi chỉ chịu những bài thơ khó khăn một chút , chớ làm dễ dàng , đọc dễ dàng thì tôi không tán thưởng. Đem ý kiến nầy ra bàn với Thanh Châu, Ngô Hoan các anh cũng tán thành ý kiến nầy, do đó tôi lại càng coi thường Nguyễn Bính…

Cho đến một ngày kia, dự một cuộc hội thảo về thơ mới, thơ tự do ở “ngoài kia” tôi mới thấy hơi nao núng về quan niệm thơ của mình và bắt đầu ngờ Nguyễn Bính là một nhà thơ có tài thật, chớ không phải là một anh soạn vè.

Hôm ấy cuộc hội thảo gồm nhiều tay tiểu tư sản trong hàng ngũ kêu là “trí thức”. Nguyễn Đình Thi đưa vấn đề  Thơ mới ra hỏi anh em … vì Nguyễn Đình Thi  là một nhà thơ bênh vực thơ tự do, thơ mới đến kỳ cùng. Một số lớn anh em nói huỵch toẹt là “không thể thương được loại thơ kỳ cục đó”. Tôi còn nhớ Phan Khôi lửng khả, lửng khửng có nói sỗ như sau: ”Tôi không có ý kiến khen chê gì hết, nhưng tôi chủ trương nên đổi tên thơ tự do ra làm : Thơ văn xuôi xuống dòng thì hơn . Một anh khác nói : Thơ mà không có nhạc, nói lăng nhăng, lít nhít thì gọi là thơ làm gì cho nhục chữ thơ đi, tôi thấy rằng muốn làm thơ gì cũng được, nhưng phải ngâm nga mới được, đọc lên một vài lần, tôi phải thấy réo rắc, uyển chuyển và làm cho tôi nhớ, để khi nào buồn tôi ngâm ngợi cho tôi nghe hay người khác nghe, thì mới có thể gọi là thơ. Nguyễn Đình Thi uất quá, xin một ý kiến của ông cụ.

Ông cụ bảo : Thế tôi hỏi chú câu nầy nhé ! Chú đã nghe thấy ăn mày họ kêu đường chưa?

Mọi người ngạc nhiên, không biết ông cụ nói gì. Mãi sau mới biết : Ăn mày muốn lôi kéo người ta, làm cho người ta rung động, để cho tiền cũng phải làm thơ. Thơ của họ như thế nầy :” Lạy ông đi qua, lạy bà đi lại … cho tôi xin đồng tiền, bát gạo … con cá nó sống nhờ nước, con sống nhờ ơn của ông bà …..”

Chê Nguyễn Bính, người ta vẫn thuộc thơ Nguyễn Bính

Cuộc hội thảo hôm ấy làm cho nhiều anh em buồn cười. Riêng tôi, còn nhớ rất lâu mỗi khi chợt nhớ đến thơ của Xuân Sanh, Đoàn Phú Tứ, Nguyễn Đình Thi … Ờ ! thơ như thế, có lẽ không là thơ thực , nhưng là một cái gì kỳ cục lạ thế, sao vè của Nguyễn Bính lại không thể là thơ được? Mà thơ của Nguyễn Bính người ta đọc, người ta nhớ, người ta ngâm sao lại không bảo là thơ hay được?

Bàn về nghệ thuật viết tiểu thuyết, ông Hàn Georges Duhamel đã viết :”Ôi chao, viết tiểu thuyết, ông muốn dùng ngôi thứ 1, ngôi thứ 2, thứ 3 tùy ý, ông viết theo kỹ thuật mới hay cũ, tùy ý luôn, độc giả chỉ cần có mỗi một điều là tiểu thuyết của ông cám dỗ tôi, làm cho tôi thích thú, thế là được, ngoài ra họ không cần gì cả, ngay cả sự ích lợi hay triết lý cao siêu mà ông muốn gói ghém trong tiểu thuyết “.

Có lẽ về thơ cũng thế. Từ đó để ý thêm một chút nữa, tôi thấy rằng trong các bạn bè tôi, một số rất đông vẫn chê thơ Nguyễn Bính là vè, là thơ dễ dãi, thơ “rẽ tiền”, tự nhiên , có hôm không biết lòng nao nao buồn, vì cơn cớ gì buộc miệng ngâm vang thơ Nguyễn Bính, mà chính vào những lúc ngâm nga như thế thì họ quên khuấy mất họ là những người chê bai Nguyễn Bính hăng say nhất. Tôi có thể nói rằng sau truyện Kiều, sau thơ Tản Đà có lẽ thơ Nguyễn Bính được nhiều người tìm đọc và ngâm nga nhất.

Có cô con gái ở vườn lên làm công cho người ta, lãnh tiền, lấy việc mua một tập “Lỡ bước sang ngang” của Nguyễn Bính là công việc “cần phải làm đầu tiên”. Buổi trưa oi bức, mẹ đưa võng ru con bằng thơ Nguyễn Bính, đi kháng chiến, đeo ba lô đi trong rừng ngâm thơ Nguyễn Bính luôn. Hai anh chị cán bộ đêm trăng ngồi ngoài sân thơm ngát mùi hoa bưởi trao tình cho nhau bằng thơ Nguyễn Bính, chị lái đò, cô hàng xén, bà bán rau cải, cô nữ sinh được ngày nghĩ về thăm nhà bên kia cầu Bến Lức, mấy ả phong lưu  những đêm thiếu bạn … chẳng vẫn thường ngâm một mình:

Lạ quá làm sao tôi cứ buồn.

                              Làm sao tôi cứ khổ luôn luôn.

                              Làm sao tôi cứ tương tư mãi.

                              Người đã cùng tôi lạt ước nguyền.

                                      Chị từ lỡ bước sang ngang,

                               Trời giông bão, giữa tràng giang lật thuyền.

                                       Xuôi dòng nước chảy liên miên.

                               Đưa thân thế chị đến miền đau thương,

                                       Mười năm gối hận bên giường.

                               Mười năm nước mắt, bữa thường chan canh.

                                       Mười năm đưa đón một mình.

                               Đào sâu chôn chặt mối tình đầu tiên.

                                       Mười năm lòng lạnh như tiền.

                               Tim đi hết máu, cái duyên không về .

                                 Tương tư thức mấy đêm rồi.

                            Biết ai cho biết, ai người biết cho.

                                 Bao giờ bến mới gặp đò.

                            Hoa khuê các, bướm giang hồ gặp nhau ?

Có thể nói rằng hầu hết các nhà văn, nhà thơ dù chê, dù không ưa Nguyễn Bính, cũng đều nhờ đại khái mấy câu thơ sau này của Bính, nó làm cho người ta không muốn nhớ mà phải nhớ, cũng như ta nhớ tục ngữ, ca dao vậy

                                        Nhà em có một vườn trầu.

                                  Nhà anh có một hàng cau liên phòng,

                                       

                                         Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông,

                                         Một người chín nhớ mười trông một người.

                                   Trời mưa ở Huế sao buồn thế ?

                                   Cứ kéo dài ra đến mấy ngày.

                                   Xa xôi ai nhớ mà thương nhớ,

                                   Mà nhớ, mà thương đến thế nầy !

Gió mưa là bệnh của trời.

                                              Tương tư là bệnh của tôi thương nàng .

Bệnh tương tư của NGUYỄN BÍNH

Có lúc ngồi suy nghĩ về thơ Nguyễn Bính, tôi cố tìm hiểu tại sao Nguyễn Bính lại được ưa chuộng thế. Anh “ăn” vì hai đặc điểm :

1) Anh đã nói lên tiếng nói chân thật của lòng với lời lẽ bình thường của dân gian, không cầu kỳ, không kênh kiệu.

2) Anh đã nhắm chung vào cái bệnh của loài người là cái bệnh tương tư : trai gái tương tư nhau, người dân mất nước tương tư quê hương, người con gái lấy chông tương tư dòng sông cũ, người đàn ông không được yêu tương tư người yêu lý tưởng, người bị tình phụ tương tư người đã phụ mình … Có thể nói tất cả văn, thơ thời tiền chiến của Bính đều nhắm vào BỆNH đó. Sở dĩ được như thế, chính vì anh là người mắc bệnh đó thật, vì ai đã biết  Nguyễn Bính đều không chối cãi  được điều nầy : bắt gặp ai anh cũng mê, mê người thương mình, mê người có thể yêu thương được mà luôn cả những người mà mình không có quyền yêu thương. Yêu quá lố. mê quá xá, rốt cuộc không làm gì được thì tương tư. Người đàn bà trong “Lỡ bước sang ngang” mà Bính gọi là chị Trúc Đường là một người anh con chú, con bác với Bính. Trên con đường tản cư về khu Tư với tôi, xác nhận rằng chính “chị TRÚC” mà Bính nói đó là vợ, tức chị Trúc Đường, nhưng vì danh giáo không thể yêu như thế, nên Bính tủi hờn sầu khổ mà tạo nên bài thơ “Lỡ bước sang ngang”.

Có lúc tôi đã hỏi Trúc Đường:

– Thế Bính có biết rằng anh biết rõ là Bính yêu chị ấy không?

Trúc Đường trả lời tôi:

– Biết chứ, chính nó nói thực với tôi là khác. Nhưng tôi mặc kệ, bởi vì cái tính nó si mê như vậy, ngăn cấm nó có khi nó đi tự tử, mà tôi mặc kệ cũng không phải là không có cớ, vì tôi biết chắc rằng Bính cũng chỉ tiến tới cái mức mê vớ, mê vẫn thế thôi.

Câu chuyện mê chị Trúc chỉ là một điển hình.

Yêu những người mà đa số người cho là không đáng gởi tình yêu , Bính cũng si mê như thế. Bây giờ còn có những người bạn giao du với Bính lúc anh dời Bắc vào Nam và từng chung sống với anh thuật chuyện rằng có hôm Bính dành trọn ngày để làm một cái khung kính lồng một cái hình của một người kỹ nữ một đêm mà anh quen biết  và chính anh cũng biết sẽ không có còn có cơ hội gặp lại nữa. Rồi làm thơ thương nhớ, tương tư, y thể như bạn gái cố tri, ăn đời ở kiếp, có khi lại tủi thân khóc một mình hỏi người yêu sao không đến với mình, để ban cho mình một lời thương, một nụ cười:

                                     Xé bao nhiêu lụa rồi,

                                     Em không cười nửa tiếng.

                                     Đốt bao nhiêu lửa trời.

                                     Em không cười nửa tiếng.

Bảo là gàn thì Nguyễn Bính quả là một thi sĩ gàn : đầu thì bù, ăn mặc xốc xa, xốc xếch, đi thì nhìn lên trời mà nhìn ngang, ăn nói bướng không chịu được, nhưng khó chịu nhất là bập vào cô nào cũng mê và tưởng tượng người ta cũng yêu anh lắm. Cái mối tình “Tú Uyên” cũng là một thứ tình vẫn vơ như thế . Nguyên hồi ấy Nguyễn Bính ở chung gác trọ với Thâm Tâm và Trần Huyền Trân. Cả ba cùng là tay mơ, có tiền đi hát. Vớ vẩn Bính quen với một cô đầu đội đèn, tên là Ngọ. Thi vị hóa cô ả, Bính đặt tên là Tú Uyên, bịa là nàng theo đạo Thiên Chúa và làm thơ xin Chúa cho được lấy nhau:

Lậy Chúa con xin Chúa một giờ.

                                Mười hai giờ Ngọ của tình xưa.

                                Hai đứa con đây : Uyên và Bính.

                                Thường hẹn hò những buổi ban trưa.

                                 . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

                                Chuông ngọ từng hồi chuông ngọ đổ.

                                Từng hồi chuông ngọ đổ chơi vơi.

                                Con nghe chuông đổ rồi con khóc.

                                Cứu rỗi linh hồn con ! Chúa ơi !

Theo chỗ biết của riêng tôi thì chính Thâm Tâm và Trần Huyền Trân đã xếp đặt và thần thánh hóa cô Ngọ để Bính say mê làm một trò cười, nhưng chính Bính , có lẽ đến lúc chết cũng vẫn không biết thế và vẫn cứ yêu người đẹp Tú Uyên.

Về cái bệnh tương tư vơ vẫn của Bính, thi sĩ Vũ Hoàng Chương đã có lần nói lên những ý nghĩ tương tự tôi vừa nói trên kia. Nhưng dù sao, ta cũng phải nhận rằng chính cái bệnh ấy đã góp cho phần lớn sự phát triển thi tài của Bính, để giúp cho Bính nói ra được một khía cạnh của lòng u uẩn muôn đời của con người.

Nhưng mề đay nào mà chẳng có hai mặt? Vì cứ yêu vớ vẩn, bạ ai cũng tương tư như thế nên Nguyễn Bính nhiều phen đã thành ra chính nạn nhân bịnh tương tư của mình. Đó là trường hợp lúc Bính dời Bắc vào Nam, sống nhờ vào nhà một ông công chức ở Rạch Giá, có lẽ Bính thực thà tin rằng “mình có trái tim thì không ai có quyền cấm mình yêu, ngăn mình nhớ … “, nên ông công chức nọ ghen với Bính… Thêm nữa bà vợ ông công chức  cả ngày ru con, rửa chén, rửa đủa lại cứ ngâm xa xả thơ của Bính, nên ông công chức nọ chịu không được, phải mời Bính ra khỏi nhà.

Đây là cái đoạn đời cực khổ nhất của Bính : anh phải ra ở đình Nguyễn Trung Trực, ngủ ở sân gạch, không có một cái sơ mi lành lặn để mặc, mặc quần cụt, đi guốc lê la ở Rạch Giá, điếu thuốc không có mà hút, chén cơm nhiều khi không có mà ăn. Tất cả gia tài của Bính thu vào mấy cuốn sách và một hai cái áo gói vào tấm giấy nhật trình. Cả tháng không tắm, Bính mỗi buổi sáng thức dậy lại ra một cái cầu tre ở trước đình Nguyễn Trung Trực vục tay xuống sông rửa mặt và lấy năm đầu ngón tay làm lược chài đầu.

Đoạn đời nầy, thi sĩ Kiên Giang hiểu rõ Bính hơn ai hết vì chính anh đã sống với Bính và “cưu mang” Bính. Chính Kiên Giang đã viết về Bính trong thời kỳ ấy như sau:

“ Sau khi biết tình cảnh của Bính, tôi bàn cùng Bính nên tìm một nơi nào khác mà ở để còn viết lách. Cả hai đồng ý thuê một ngôi nhà của ông giữ sân banh Rạch Giá. Ngôi nhà nầy chỉ hơn được cái nóp một chút thôi, nghĩa là siêu vẹo, tiều tụy như một ngôi nhà hoang . Người ta phải dùng một cây đòn lớn để chống đỡ hàng cột giữa, hàng ba, hàng nhì. Chỉ có ba hàng cột mà hàng nào cũng siêu cả thì không hiểu có nên gọi cái nhà nầy là cái nhà không ? Thôi cứ tạm gọi là Lều Thơ cũng được. “

Đặc biệt nhất là Nguyễn Bính khổ cách mấy cũng không phàn nàn. Hình như anh thành thực quan niệm rằng cái kiếp nhà thơ là phải nghèo, phải khổ, đó là một định luật không nên oán thán. Anh chỉ oán lòng người bạc ác, cam đành hưởng thụ vinh hoa phú quý ở bên cạnh những đồng bào cực khổ, nghèo nàn hoặc những người bạn ngày nào bây giờ sung sướng đã quên mất người bạn thuở hàn vi, đói rách với nhau:

Từ độ về đây sống rất nghèo.

                                   Bạn bè chỉ có gió trăng theo.

                                   Những thằng bất nghĩa xin đừng đến.

                                   Hãy để thềm ta xanh sắc rêu !

                                   . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

                                   Trọc phú tí toe bàn thế sự,

                                   Đĩ già tập tểnh nói văn chương .

                                   Đã coi đồng bạc to hơn núi.

                                   Còn học đòi theo thói Mạnh Thường .

                                    . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

                                   Chao ôi, giả dối, ôi mai mỉa.

                                   Sống chật phồn hoa, một lũ Mường.

                                   Chị ơi ! tất cả là vô nghĩa.

                                   Chả nhiễu điều nào phủ giá gương.

                                    . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

                                   Tay trắng bạn bè đều tránh mặt,

                                   Sa cơ, thân thích cũng khinh thường,

                                   Sông lạnh, thấy đâu người gọi gió.

                                   Trăng tà … tìm mãi kẻ mài gươm.

MÀI GƯƠM vẫn không hết tương tư

Phân tích Nguyễn Bính, nhiều người bạn còn sống bây giờ quan niệm Nguyễn Bính chỉ là một người có tinh thần cách mạng chứ không phải là một người hành động. Tinh thần cách mạng ấy bắt nguồn từ chổ mới ra đời anh đã thấy cảnh giàu nghèo bất công và người ta có thể nói rằng cái tinh thần ấy đã bàng bạc trong vở kịch đầu tiên của anh viết với Yến Lan, một thi sĩ miền Trung, nhan đề là: BÓNG GIAI NHÂN.

Chính Nguyễn Bính đã trình diễn vở kịch nầy lần đầu tiên ở Hải Phòng cùng với Thâm Tâm, Trần Huyền Trân và Vũ Hoàng Chương. Trần Huyền Trân thủ vai đạo sĩ, Vũ Hoàng Chương vai tráng sĩ, còn Nguyễn Bính thủ vai mài gươm trong kịch.

Đến cái người mài gươm, tượng trưng cho tinh thần cách mạng, Nguyễn Bính vẫn không được cái bệnh tương tư cổ truyền, thỉnh thoảng trong kịch lại có một “bóng giai nhân” hiện lên không nói năng gì, nhưng ai cũng biết cái anh mài gươm kia nung nấu chí báo thù chỉ là vì hình bóng giai nhân đó.

Tôi không hiểu trong đời sống thực, Nguyễn Bính sau thời kỳ ở Rạch Giá ra bưng theo kháng chiến là vì lòng yêu nước hay là vì bóng giai nhân nào, nhưng anh em đều nhận thức rằng : đến giai đoạn nầy thì thơ Nguyễn Bính chuyển hướng.

Không phải chuyển hướng về từ, nhưng về ý.

Thơ Nguyễn Bính vẫn dài dòng như cũ, từ vẫn đẹp như cũ, nhưng ý thì khác trước, thay vì những vần nhớ nhung, than khóc, bắt đầu từ thời kỳ ra bưng kháng chiến chống Pháp năm 1947 – 1948, Nguyễn Bính bắt đầu làm những bài thơ hùng mạnh như : “Xuân vẫn tha hương”, “Hành phương Nam”, “Đồng Tháp Mười”, nhưng thực ra trong đời sống thực, Nguyễn Bính không có mấy lúc được vui vẽ, thảnh thơi vì anh không chịu sống trong khuôn nếp, sống theo qui luật, há chẳng phải Bính vẫn thường nói với các bạn bè thân ở ngoài bưng rằng : lề lối chỉ đạo văn nghệ ở “ngoài nầy” đã bóp méo hứng cảm của thi sĩ?

Sau hiệp định Geneve, Nguyễn Bính để lại một người vợ miền Nam ở lại Sài gòn trở ra Bắc cùng với một số cán bộ văn nghệ tập kết, nhưng vốn là người “sống ở trên mây”, “có nhiều chất thơ hơn người”. Nguyễn Bính vẫn cứ bất mãn như thường. Điển hình cho lòng bất mãn nầy có người thường đọc lại mấy câu thơ sau đây của Nguyễn Bính trích trong bài “Tiếng sáo diều”:

                              Kịp ngày cải cách quê tôi,

                          Nỗi oan cha muốn kêu trời, trời cao .

                              Đêm dài mờ mịt trăng sao .

                          Cánh đồng quê, tiếng sáo diều bật tăm.

                              Bụi đầy, miệng sáo nín câm.

                           Dây treo, chuột cắn, khung nằm, mối xông .

Trong thời kỳ nầy, ở đây thỉnh thoảng do nguồn tin nầy, do nguồn tin khác, tôi nghe thấy nói Nguyễn Bính đau, rồi xuất bản tạp chí “Trăm Hoa”, rồi “tỉnh giấc chiêm bao” cuộc đời Bính như bèo trôi trên nước phù sa, nhưng tôi không lấy làm ngạc nhiên quá mức.

Một người như Bính là một thứ Tản Đà thu nhỏ lại, chỉ để ngồi uống rượu, làm thơ, hút thuốc lào vặt và nói ngông ngênh, kênh kiệu, tô điểm cho đời thêm đẹp và thỉnh thoảng lại gẩy lên trong lòng người ta một khúc nhạc đầm ấm, lâm ly thì quả không chê vào đâu được, nhưng Tản Đà mà làm báo, Nguyễn Bính lại tổ chức “Văn Hóa Cứu Quốc Rạch Giá” và làm chính trị thì chỉ có thất bại và bất mãn, thêm nữa lại mất một tên tuổi đã từng tạo được những câu thơ đẹp như là những ca dao ngày xưa để lại:

Nhà em có một giàn trầu.

                              Nhà anh có một giàn cau liên phòng.

                                   Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông.

                              Cau thôn Đoài nhớ giàn không thôn nào ?

                                    Bảo rằng cách trở đò giang.

                               Không sang là chẳng đường sang đã đành.

                                     Nhưng đây cách trở đầu đình,

                               Có xa xôi mấy, mà tình xa xôi !

                                     Thế là tàn một giấc mơ,

                               Thế là cả một bài thơ não nùng,

                                     Tuổi son, má đỏ, môi hồng.

                               Bước chân về đến nhà chồng là thôi,

                                      Đêm qua mưa gió đầy trời,

                               Trong hồn chị có một người đi qua .

Thay vì những câu thơ đẹp nõn nà như thế mà lại đi sáng tạo những câu thơ tuyên truyền như:

                                       Chim kia có cánh thì bay,

                                   Con ơi ! có nước thì mày phải thương .

                                        Thà rằng chết ở chiến trường,

                                   Còn hơn chết ở trên giường thê nhi.

                                         Hỡi ai dòng giống Lạc Hồng,

                                    Hãy hy sinh hết cho nòi giống ta,

                                          Hãy nên vì nước , quên nhà.

                                    Coi thường thân sống, mới là trượng phu.

Lang thang tìm một hướng đi, Nguyễn Bính thất vọng lại trở về thất vọng, rút lại đến những ngày cuối cùng anh lại trở lại làm người thi sĩ của thời tiền kháng chiến và lại tương tư, rồi cứ tương tư như thế cho đến chết:

Trông vời viễn núi xa xanh,

                              Tưởng trông rõ mái nhà mình phương Nam.

                                    Tưởng chừng người vợ tào khang,

                              Đương nhìn lên thấy sao nàng nhớ anh.

                                     Trong mơ con bú chưa rồi.

                              Lưỡi con đưa đẩy, đôi môi còn thèm.

                                     Giật mình con bỗng thét lên,

                              Hai tay chới với quơ tìm mẹ đâu !

 

Biết bao tâm sự, mấy chờ mong.

         Bến cũ, đò xưa chuyện thủy chung .(1)

 

Một cuộc đời rút lại còn mấy tập thơ

Lúc Nguyễn Bính mất đi, có người thương xót anh, bàn rằng anh là một người “ra tê”, một người không may trên đường văn nghiệp, vì “cái mới đến rồi nhưng chưa ở lại hẳn, còn cái cũ vẫn còn ở lại, chưa chịu dứt ra mà đi, hơn thế Bính chưa thấy hết cái bản chất cách mạng của cái mới cho nên ông không đủ lửa thật cháy để truyền vào thơ ông.

Suy luận về đời thơ Nguyễn Bính như thế cũng có phần nào đúng, nhưng đứng hẳn về phương diện văn nghệ thuần túy thật quả là tội cho Nguyễn Bính. Cả một đời không được hưởng thụ một chút gì, chỉ lang thang, vất vưởng đi tìm một lối đi như một người mù rồi đến chung cục thì lầm, quay lại với cái tôi của chính mình thì đã muộn. Phải chi Nguyễn Bính biết được cái mạnh và cái yếu của mình, giữ lấy cái mạnh và không chạy theo cái yếu thì đời thơ của Bính chắc còn phong phú hơn nhiều , chớ đâu cả một đời vất vả lao đao chỉ thu vào có chừng ngót một trăm bài thơ in thành vài tập mỏng , một vở kịch và một truyện dài không quá 80 trang in?

Nói như thế không phải là trách cứ, nhưng đó là cả một sự xót xa. Nguyễn Bính một thi sĩ bình dân nhất, có nhiều thơ được truyền tụng nhất, nhưng chung thân không may mắn một lúc nào. Bây giờ các cô nội trợ, các bà, các sinh viên, nữ sinh, các anh em chiến sĩ ngâm thơ thép súng, nhưng khi buồn vẫn hát bài thơ phổ nhạc “Cô lái đò” của Bính, có lúc nào sực nhớ  rằng người đã giúp cho bạn ngâm những câu thích thú cho lòng, người đã vì nợ áo cơm phải trả đến hình hài đó, chỉ là một thứ Francois Villon sa đâu là nhà , ngã đâu là giường, chỉ ao ước có một tình yêu thành thực mà không bao giờ có, không bao giờ được? không ai thèm ban cho?

Ở chòi hẹp, nhưng hồn trùm vũ trụ.

                                Trái tim đau nhưng thương cả loài người.

                                . . . . . Mắt quần lại, đêm đêm ròng rã thức.

                                 Da xanh xao vì muỗi thật nhiều.

                                        Nầy của riêng, soát lại có bao nhiêu.

                                        Chiếc khăn tắm, bộ áo quần trong nóp.

                                        Ba năm rồi chưa xỏ chân vào guốc,

                                        Ăn cơm thiu vì ẩm ướt mưa đêm.

Có phải vì thế, muốn làm thơ kháng chiến đến chừng nào, Nguyễn Bính vẫn không thể bật lên mà cho đến bây giờ, người ta còn thương Nguyễn Bính, yêu thơ Nguyễn Bính chỉ là những câu thơ chứa chất một tấm lòng tương tư não nùng, lê thê có từ ngày xưa và sẽ còn tồn tại mãi đến ngàn sau.

Trăm năm đã lỡ hẹn hò,

                           Cây đa bến cũ, con đò còn không ?

                                Tình cờ gặp giữa phố Đông.

                           Em đi ríu rít, tay chồng, tay con.

                                Nét cười âu yếm, môi son.

                            Áo bay nhắc buổi trăng tròn sánh vai.

                                      Chín năm bão tối mưa ngày.

                            Nước non để có hôm nay sáng trời.

                                       Em đi hạnh phúc hồng tươi,

                            Anh nhìn tận mắt cuộc đời đẹp thay !

                                        . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

                                       Anh về viết lại thơ anh.

                             Để cho bến mắt cây xanh đôi bờ,

                                       Cho sông, cho nước tự giờ,

                             Chẳng còn lỡ chuyện con đò sang ngang (2)

Sài gòn tháng Bẩy 1969  VŨ BẰNG

(1) Mấy câu thơ nầy trích tập “Đêm sao sáng” của Nguyễn Bính do “Văn Học” xuất bản ở Hà Nội năm 1963. Ba năm sau khi xuất bản tập thơ nầy Nguyễn Bính mất ở Hà Nội (20-01-1966).

(2) “Tỉnh giấc chiêm bao” đăng trong báo Trăm Hoa xuất bản tại Hà Nội ngày 09-12-1956.

Trích tạp chí “ VĂN ‘ số 189 xuất bản tại Sài gòn.

Nguồn: NGUYỄN BÍNH, MỘT THI SĨ SUỐT ĐỜI MẮC BỆNH TƯƠNG TƯ của VŨ BẰNG

Người ra đi có trở lại – Nguyễn Mỹ Trang

Trên mục “tao đàn” của Hương đầu mùa (Vòm xanh lao xao) mở cuộc thi bình thơ với bài Tống biệt hành của Thâm Tâm.

HDM kỳ này giới thiệu bài viết của bạn NGUYỄN MỸ TRANG – cháu nội nhà thơ Thâm Tâm. Bài đoạt giải ba cuộc thi BÚT TÍM

Xuất hiện lần đầu tiên trên báo Tiểu thuyết thứ bảy năm 1940, có thể nói Tống biệt hành là một sáng tác thành công nhất của Thâm Tâm và có lẽ, nó đáng được xếp vào hàng những bài thơ mới hay nhất của nền thơ Việt Nam trước cách mạng.

Nửa thế kỷ qua, đã có biết bao bài phân tích, bình phẩm, biết bao khám phá đầy tinh tế, và cũng có biết bao ý kiến đánh giá rất khác nhau về Tống biệt hành. Phải chăng tất cả bắt nguồn từ cái lạ lùng riêng biệt của bài thơ và tác giả? Đúng như nhận xét của giáo sư Hoàng Ngọc Hiến, “Biệt ly là một chủ đề trung tâm trong sáng tác của Thâm Tâm”, nhưng điều đáng chú ý là ở chỗ, cuộc chia ly trong thơ ông không bi thương đầy nước mắt như cảnh lưu biệt của những kẻ tình nhân, cũng không rầm rộ, hừng hực hào khí như sự lên đường ra mặt trận của các chiến sĩ cách mạng đương thời. Tất cả chỉ là một tình cảm thâm trầm, lắng đọng nhẹ nhàng, một thứ tình cảm rất Thâm Tâm!

Đưa người ta không đưa sang sông
Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
Bóng chiều không thắm, không vàng vọt,
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?

Một bến sông, một buổi hoàng hôn, một người đi, một kẻ ở lại… dường như Thâm Tâm đã là họa sĩ vẽ nên bức tranh chia ly vào lòng người. Hô sóng vào lòng, gọi hoàng hôn lên mắt, Thâm Tâm lại thoắt trở thành nhà phù thủy thổi hồn vào bức tranh ấy. Trong lịch sử văn thơ, chắc chắn “sóng trong lòng” và “hoàng hôn trong mắt” đã xuất hiện ít nhiều đâu đó, nhưng ngoài Thâm Tâm, đã có ngòi bút nào viết nên những câu hỏi tu từ mang đầy tính lãng mạn tuyệt vời như thế hay chưa? Hỏi đấy, mà đâu cần trả lời, bởi hoàng hôn đong đầy “trong mắt trong” chính là nỗi rưng rưng, là niềm xúc động trong lòng người ra đi. Nhưng vì sao tất cả những cảm xúc nội tâm ấy lại được bao bọc bằng một cái vỏ có vẻ như ngang tàng, bất cần đời:

Đưa người, ta chỉ đưa người ấy
Một giã gia đình, một dửng dưng…

khiến cho không ít người đã lầm tưởng rằng người ra đi hoàn toàn “dửng dưng”, đối lập với sự xao xuyến, thảng thốt của kẻ đưa tiễn? Theo tôi, chẳng có lý do gì hơn ngoài cái “chí lớn” của người đi. Cái “chí lớn” ấy có thể khiến con người ta trở nên hùng dũng, dứt khoát đến mức:

Chí lớn chưa về bàn tay không
Thì không bao giờ nói trở lại
Ba năm mẹ già cũng đừng mong

có thể thổi bùng cái chí khí của người trai để “Mẹ thà coi như chiếc lá bay, chị thà coi như là hạt bụi, em thà coi như hơi rượu say”, nhưng lại không thể ngăn được người buồn từ “chiều hôm trước”, buồn tới cả “sáng hôm sau”. Những ý thơ tả tâm trạng người đi đã được đan lồng khéo léo vào cảnh vật, vào thời tiết, thiên nhiên khiến người đọc đôi khi cảm thấy như có một sự đột biến nhưng lại không hề làm rối ý bài thơ. Ai cũng biết rằng cuối hạ sen tàn, nhưng không hẳn là đã hết, ai chẳng hay rằng trời sắp sang thu nhưng vẫn còn “tươi lắm thay”. Bởi cho dù là chỉ còn lại thưa thớt, nhưng những đóa sen muộn mằn vẫn cứ nở và “một chị, hai chị” cũng muộn mằn như sen cuối hạ, những người chị đã khóc cạn nước mắt nhưng vẫn còn lại một “dòng lệ sót” khóc nốt trong ngày đưa tiễn em. Cái “dòng lệ sót” ấy chứa chan bao nỗi thương em, đong đầy bao nỗi nhọc nhằn đời chị, nhưng liệu nó có thể giữ chân người ra đi vì chí lớn hay không? Cũng một mạch thơ ấy, tiết trời sắp sang thu tươi sáng đã gợi sự liên tưởng tới “đôi mắt biếc” ngây thơ của đứa em, nhưng những thương nhớ “gói tròn” trong chiếc khăn tay nhỏ bé kia chẳng thể nào ngăn nổi “Người đi? Ừ nhỉ, người đi thực!”. Cả cuộc chia ly với bao nỗi niềm thương nhớ đã trải dài theo suốt bài thơ, để đến cái phút cuối này chợt giật mình bừng tỉnh, chợt ngỡ ngàng nuối tiếc. Phải chăng tận đáy lòng người đưa tiễn vẫn đọng lại một niềm hy vọng, cho dù ngàn lần mong manh, rằng người đi sẽ ở lại? Nhưng dù sao, cái giây phút thảng thốt cuối cùng này rồi cũng phải qua đi, nhường bước cho cái “chí lớn” bao trùm cả bài thơ. Ở đây, tôi không đồng ý với nhận định rằng: “ở lại thì bế tắc, nhưng ra đi chưa thấy  gì là tươi sáng” (Vũ Quần Phương – Thơ với lời bình, NXB Giáo dục, 1990), bởi người ra đi là người ôm mộng lớn, là người biết hy sinh những tình cảm riêng tư cho sự nghiệp. Hơn nữa, trong cả bài thơ, không có một ý nào khẳng định rằng sự ra đi này là “một đi không trở lại”, điều đó chỉ xảy ra khi “chí lớn chưa về bàn tay không” mà thôi!

Theo tôi, Tống biệt hành là một chiếc cầu nối giữa văn thơ lãng mạn và văn thơ cách mạng, vì thế, cho đến khổ cuối thì từng dòng thơ vẫn toát lên một âm điệu rắn rỏi, dù là sự rắn rỏi trong nỗi bùi ngùi lắng đọng bị kìm nén. Và người đi ngày ấy đã ra đi… Nhưng tôi đã thấy những người ra đi ấy trở về. Họ trở về trong mắt mẹ, trong mắt chị, trong mắt em và trong mắt ai người trông ngóng…

Nguyễn Mỹ Trang
(11B Chuyên Hóa, ĐHTH Hà Nội)
Hoa học trò – Hương đầu mùa sinh viên
Số tháng 2 – 1995, tr. 14-15

Ba nhà thơ, một thời ở Cổng trắng Khâm Thiên – Ngô Văn Phú

Trần Huyền Trân, có câu thơ tự giới thiệu nơi ở của mình thuở trước Cách mạng tháng Tám 1945, trong bài: “Mưa đêm lều vó”:
Tôi ở lều tranh, Cống Trắng này,
Chạnh lòng cá nhảy với chim bay
Đêm sầu kẽo kẹt ngư bà thức
Giăng phải hồn tôi một lưới đầy!

Nhà văn Thanh Châu, một người bạn thân của nhóm Tam anh (ba người tài hoa) ở Cống Trắng Khâm Thiên Trần Huyền Trân – Nguyễn Bính – Thâm Tâm, khi viết về người bạn thân họ Trần này như sau:

“Quãng 1938-1939, tôi mới gặp Trần Huyền Trân cũng như Thâm Tâm… Và khi đã quen đã thân, tôi mới biết tên thật của Trần Huyền Trân là Trần Kim, và tên thật của Thâm Tâm là Nguyễn Tuấn Trình. Hai ông này luôn có đôi ở bất cứ đâu, họ quấn quýt nhau vì cùng nghiệp thơ văn, nhưng còn vì hoàn cảnh gia đình, vì bản thân mỗi người, rất gieo neo trong đời sống.

Trần Kim mồ côi sớm, mẹ chỉ có một cái lều vó kiếm cá, quăng đầm ao sau Cống Trắng phố Khâm Thiên. Trần Kim làm đủ nghề để nuôi em, đỡ mẹ, dạy tư mở báo Bắc Hà với một số bạn, đều thất bại. Có lần anh còn làm thợ chiếu phim, được thuê đi chiếu khắp nơi, rốt cuộc cũng về tay trắng.

Ngày nay ai qua phố Khâm Thiên, rẽ vào ngõ Văn Chương, thấy những nhà cao tầng, những cơ quan, trường học, nhà cán bộ từng ngăn riêng biệt, dáng dấp có cái như biệt thự, mấy ai ngờ đó là ao đầm ngày trước chỉ chứa đọng nước tù, bèo sen với bóng con thuyền thúng hái rau muống mà nhà thơ gọi đó là rau tần…”. (Trần Huyền Trân, tài hoa và bất hạnh – Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 1992, trang 30, 31).

Cái gian lều hẹp nhà Trần Huyền Trân được ba người bạn, ba nhà thơ nghèo thường tụ họp gọi cái tên sang là gác Sơn Nam… Thuở ấy, nhiều nhà thơ hay đề ở dưới bài thơ những lầu, những gác kiểu như thế: Lầu Hoàng Hoa, Gác Linh Hương v.v… Trong một bài thơ tặng Trần Huyền Trân, Nguyễn Bính nhớ lại cái thời nhóm Tam anh ở Cống Trắng Khâm Thiên đầy kỷ niệm:

Nhớ xưa thời còn trẻ,
Thâm Tâm, cậu và mình
Không đào viên kết nghĩa
Nhưng cũng thành Tam anh.
Tiếng tăm thật là nổi
Nhưng cũng thật là nghèo.
Gác Sơn Nam nhịn đói,
Nằm đọc thơ người yêu.
Hễ có tiền trong túi
Là chén như ông Hoàng
Đập vỡ quán Lã Vọng
Đốt cháy Lầu Mộng Hoàn
Những lúc trốn nợ phố
Trở về đầm Liên Hoa
Gió buốt chân kỳ ký
Mưa run lều mẹ già…

Theo thơ của Nguyễn Bính thì nhóm Tam anh này tụ tập ở nhà Trần Huyền Trân, Cống Trắng Khâm Thiên, dẫu thời đó cả ba đều nghèo, nhưng, bởi họ cùng là những người viết văn, viết báo. Họ thường viết cho Tiểu thuyết thứ bảy, và cũng thường viết sách cho nhà sách Tân Dân mà ông chủ là Vũ Đình Long, có tiếng. Cho nên có bữa “Gác Sơn Nam nhịn đói, nằm đọc thơ người yêu…”, nhưng khi có nhuận bút thì họ cũng kéo nhau đi hưởng những thú vui của đám người tài tử đương thời. Đó là “Đập vỡ quán Lã Vọng”… Lã Vọng tức là quán chả cá nổi tiếng… và “Đốt cháy Lầu Mộng Hoàn”.

Mộng Hoàn là một chủ cô đầu (hát ả đào, ca trù) nổi tiếng ở Khâm Thiên, tức là Tam anh cũng rủ nhau đi, không phải “Chiến Lã Bố” như một chương của Tam Quốc diễn nghĩa, Lưu Bị, Trương Phi, Quan Văn Trường, mà đi hát ở xóm cô đầu…

Cái đầm Liên Hoa, đầm hoa sen, đâu có phải là sen thật như ở Hồ Tây, mà đó chỉ là cái đầm đầy bèo Nhật Bản (còn gọi là bèo sen), mà thôi… Có lẽ thời gian này là thời gian kiết xác nhất của mấy chàng thi sĩ… Trần Huyền Trân cũng có bài “Gió gác Sơn Nam” viết năm 1943, nhớ lại thời kỳ không thể quên này:

Gió lên về gác Sơn Nam,
Áo thơ gió thổi, đèn tàn gió lay.
Ý thơ lộng gió còn bay
Ba ta ba chiếc bóng gầy. Đèn khuya.
Đêm dài tù túng đi về
Ngọn đèn trang giấy còn chia cái nghèo.
Dầu hao, bấc lụi, gió vèo
Cháo rau ấm bụng, thơ gieo ấm lòng.
Gác Sơn Nam, gác đèo bòng,
Có ba mái tóc bềnh bồng bên nhau.
Gió đời chưa nổi biển dâu
Gió trời thổi mãi mái đầu nằm mơ
Sơn Nam, những ngày gió lộng, 1943 Nhưng những năm tháng này, dẫu nghèo túng, họ gắn bó bên nhau, làm văn, làm báo và sự nghiệp văn chương của Nguyễn Bính, Trần Huyền Trân, Thâm Tâm, đều nở rộ ở thời kỳ này…

Tập Rau tần của Trần Huyền Trân, tập thơ đã làm nên phong cách riêng và sự nghiệp thi sĩ của ông, đại bộ phận cũng viết ở giai đoạn này. Những bài thơ nổi tiếng Mưa đêm lều vó (1938), Với Tản Đà (1938), Sầu chung (1942), Đêm trừ tịch (1943), Đôi ta (1943), Chiều loạn (1943), hầu hết được viết trong gác Sơn Nam, ở Cống Trắng Khâm Thiên…

Trần Huyền Trân còn viết văn xuôi… Những truyện vừa Đời kỹ nữ (1940) và Kẻ phụ tình (1939), sau này được Nhà xuất bản Hà Nội xuất bản năm 1990, chứng tỏ sức viết của ông thời này khá dồi dào…

Còn Thâm Tâm, thời này nổi tiếng với thể hành, một loại tráng ca đầy hùng khí. Nhận xét về thơ Thâm Tâm, Hoài Thanh viết: “Thơ thất ngôn của ta bây giờ thực có khác thơ thất ngôn cổ phong. Nhưng trong bài thơ dưới đây (tức bài Tống biệt hành – NVP) lại thấy sống lại cái không khí riêng của nhiều bài thơ cổ.Điệu thơ gấp. Lời thơ gắt. Câu thơ rắn rỏi, gân guốc. Không mềm mại uyển chuyển như phần nhiều thơ bây giờ. Nhưng vẫn đượm chút bâng khuâng khó hiểu của thời đại (Thi nhân Việt Nam, NXB Văn học 1988, trang 284).
Những Tống biệt hành (1940), Vọng nhân hành (1944), Can trường hành (1944), Tráng ca (1944), Vở kịch một hồi Sương tháng tám của Thâm Tâm in trên Tiểu thuyết thứ bảy của nhà in Tân Dân, năm 1939, đều xuất hiện cùng lúc với những tác phẩm của Nguyễn Bính và Trần Huyền Trân. Thơ Thâm Tâm với một tâm trạng khao khát muốn đi tìm đường, muốn có những đổi thay, được lớp trẻ đương thời rất thích, tìm thấy ở đó có tâm trạng của mình”.

Nhưng thời kỳ này, Thâm Tâm còn rất nổi tiếng trong vụ việc những bài thơ tình “Hai sắc hoa Ti-gôn”, “Bài thơ thứ nhất” “Bài thơ cuối cùng”, của T.T.Kh cùng bài thơ Các anh của Thâm Tâm viết trả lời Bài thơ cuối cùng của T.T.Kh… mà những nghi vấn về tác giả T.T.Kh. là ai, còn treo lại đến tận bây giờ…

Thế là cái thời “Cống trắng Khâm Thiên” là thời kỳ, dẫu gian nan, nghèo khó, nhưng có thể coi là thời rực rỡ nhất của nhóm Tam anh…

Nhóm “ba người tài hoa”, hoặc theo cách nôm na là “ba anh chàng” này, không hẹn mà gặp, còn đi xa hơn nữa. Bởi sẵn có những suy tư, những khát khao về những chuyển động của thời cuộc, nên cả Trần Huyền Trân, Nguyễn Bính, Thâm Tâm, đều hướng về cách mạng.

Trong bài Thay lời nói đầu, nhà văn Nguyễn Đình Thi viết: “Vào đầu mùa hè năm 1945, trong lúc Hà Nội mỗi ngày vẫn đầy xác người chết đói, một hôm trên căn gác nhà anh Nguyễn Huy Tưởng, sau chợ Đức Viên, tôi được cùng mấy anh trong Hội Văn hóa cứu quốc soạn bài cho tờ Tạp chí Tiên Phong số 1.

Báo bí mật nên bài vở gửi đến cũng không ký tên thật, chúng tôi làm công tác biên tập, không ai hỏi nhau điều gì tò mò về tác giả, tuy đọc văn nhưng cũng thầm đoán được phần nào. Tôi còn nhớ, phần nghị luận, mở đầu là bài Văn hóa là gì? (của anh Đặng Thai Mai), phần truyện có Buổi chiều xám (của Nguyên Hồng) và đến phần thơ, thì bài được chọn là Những người chưa chết, sau này sửa tên là Chân trời đã rạng – Riêng tôi lúc ấy, chưa biết tác giả là ai và cũng chưa hiểu nhiều về thơ, nhưng đọc những câu lục bát ấy, tôi nghe những lời thơ như những bàn tay nắm lại, bài thơ nặng sức dồn chứa của tình hình như nồi nước sôi lúc bấy giờ…”. Bài thơ ấy của Trần Huyền Trân.

Và những năm ấy, Trần Huyền Trân đã tham gia những nhóm bí mật của Hội Văn hóa cứu quốc, một tổ chức tập hợp các trí thức, văn nghệ sĩ của Mặt trận Việt Minh… còn Thâm Tâm,  tháng 8/1945 cũng tham gia ở Hội Văn hóa cứu quốc và còn là biên tập viên của Báo Tiên Phong; Nguyễn Bính, được Tô Hoài kể lại trong lời giới thiệu tuyển tập thơ Nguyễn Bính (văn học, 1986), trong một lần đi Sài Gòn với nhà thơ và nhà viết kịch Vũ Trọng Can vào Sài Gòn: “… Chỉ đi ăn vài bữa cơm thố, bấy giờ cơm thố còn là loại cơm mạt hạng, thì lại hết tiền. Ngày ấy cạn túi lắm mới phải đi quán cơm thố của mấy chú chiệc chợ cũ…

Ít lâu sau, Vũ Trọng Can và tôi trở ra Hà Nội, còn Nguyễn Bính ở lại và trôi nổi cho tới Tổng khởi nghĩa 1945…”. Ba chàng trai bạn thân thường tụ tập ở nhà Trần Huyền Trân, ở gác Sơn Nam, Cống Trắng, Khâm Thiên đều đi theo cách mạng… nhưng mỗi người một nẻo đường kháng chiến.

Thâm Tâm vào bộ đội rồi làm Thư ký tòa soạn Báo Vệ Quốc Quân và mất ở Việt Bắc năm 1950. Nguyễn Bính ở lại tham gia kháng chiến ở Nam Bộ, mãi năm 1954 mới tập kết ra Bắc. Còn Trần Huyền Trân, tham gia kháng chiến ở Việt Bắc và dần dần chuyển hẳn hoạt động sang ngành Sân khấu.

Những năm này, họ tiếp tục làm thơ và có những bài thơ được lưu truyền mãi về sau. Trần Huyền Trân có Hải Phòng 19/11/1946, Nguyễn Bính có Tiểu đoàn 307, còn Thâm Tâm có Chiều mưa đường số 5.

Nghe tin Thâm Tâm mất, Trần Huyền Trân làm thơ khóc bạn:

Về khuya, mưa bụi như sương,
Tôi đi còn vọng trên đường bước anh.
Mưa xuân từng hạt long lanh
Ai hay bông ngát hương tình ngày mai.
Ai hay giá lạnh đôi vai,
Lòng tôi ấm những tên người bạn xưa.
Mùa xuân đã biếc trên mồ,
Rừng xanh thác đổ… bây giờ biển xanh.

(Đi dưới mưa xuân)

Năm 1954, Nguyễn Bính về gặp lại Trần Huyền Trân. Nhà thơ Bùi Hạnh Cẩn, anh họ Nguyễn Bính nhớ lại: “Tôi gặp lại Trần Huyền Trân tại nhà Nguyễn Bính – một căn phòng nhỏ ở phố Lê Văn Hưu, dạo ấy, Nguyễn Bính đang viết truyện thơ “Am Cô Son” (một cô gái ở vùng Hồ Tây được tuyển làm cung phi của Minh Mạng, nhưng vì dám ngẩng mặt nhìn vua, nên mắc tội “khi quân” và bị đuổi về quê với điều kiện “suốt đời không được lấy chồng”.

Trần Huyền Trân dạo ấy đang quản lý đoàn chèo Cổ Phong. Trân và Bính, hai người bàn nhau viết một vở chèo (tức là vở “Cô Son”, vở này về sau có sự tham gia của một người khác, được Đoàn chèo Hà Nội công diễn…”. Tình bạn của họ khăng khít như thế đấy.

Nhận xét về sự nghiệp thơ ca của bộ ba Tam anh, thiết tưởng không gì bằng những lời của Tô Hoài, một trong những người bạn cùng thời với họ khi Tam anh đều là những nhà thơ lọt vào mắt xanh của Hoài Thanh trong Thi nhân Việt Nam, viết về phong trào thơ mới: “Ở trường thơ ấy, mỗi người đã thể hiện một phong cách độc đáo. Thâm Tâm và Trần Huyền Trân sừng sững và cũng cô đơn như gốc đa, như con đò một mình. Nhưng thơ Nguyễn Bính in đậm ảnh hưởng vào thơ các bạn bè và gây không ít dư âm trong lòng của một lớp độc giả rộng rãi”. (Lời giới thiệu Tuyển tập Nguyễn Bính, NXB Văn học, 1986, trang 24).

Ngô Văn Phú