Thuở ấy “Tam anh” – Quang Hưng

Đời sống văn chương Việt Nam có những mối thâm tình nghề nghiệp, huynh đệ, bằng hữu thắm thiết giữa các “ngôi sao”, như Xuân Diệu và Huy Cận; như Tô Hoài với Nam Cao; nhóm “Thất tinh” gây dựng Tự lực Văn đoàn… Nhóm “Áo bào gốc liễu” của “Tam anh” Trần Huyền Trân, Nguyễn Bính, Thâm Tâm cũng là một trường hợp như thế.

Mẹ mất sớm ở Hải Dương, cậu bé Nguyễn Tuấn Trình theo bố và các chị lên Hà Nội nấu kẹo, lám bánh, đóng sách mưu sinh. Tuấn Trình năm 1933 – 16 tuổi, đã vẽ tranh bút sắt, mực màu bày bán ở hồ Gươm, thêm cả vẽ truyền thần. Ý thức tự học hỏi đã sớm bộc lộ qua những bức tranh kiếm sống đó, để rồi mấy năm liền, thi sĩ “Tống biệt hành” tương lai sẽ vẽ bìa, minh họa và cả viết cho tuần báo Bắc Hà do nhà thơ Trần Huyền Trân làm chủ bút. Cái chất ham tìm tòi, thử sức ấy cũng là nguyên cớ cho những cuộc “vẽ khuôn mặt mình” rõ hơn sau này của Tuấn Trình –  Thâm Tâm với thơ, truyện ngắn, truyện dài, tiểu thuyết, kịch và báo chí.

Ngồi vẽ bên hồ, Tuấn Trình quen nhà thơ Nguyễn Bính cũng đang lang bạt và sớm đồng cảm khi biết người bạn hơn một tuổi cũng mất mẹ từ nhỏ, bố lấy vợ khác, hai anh em được người cô ruột đón về nuôi. Rồi đôi bạn quen nhà thơ Trần Huyền Trân khi đó “sung túc hơn” bởi có nhà mẹ ở ngõ Cống Trắng, phố Khâm Thiên, nơi mà mấy anh em thường kéo về tụ tập, gọi là “gác Sơn Nam”. Hết tiền thì thổi ít gạo, ăn rau muống là thành bữa. “Rủng rỉnh” một chút thì đi ăn quán, hát cô đầu.

Nhà thơ Trần Huyền Trân sinh năm 1914, hơn Tuấn Trình ba tuổi. Năm 1934 – 20 tuổi, ông theo bạn đi Lào chơi trên Luongprabang, trở về viết được tiểu thuyết trinh thám diễm tình “Công chúa Lào”, vốn hồi đó là mảng đề tài hút người đọc, nhờ Tuấn Trình vẽ bìa và minh họa. Ông còn viết tiểu thuyết ngắn “Phát súng lục”, học theo cốt truyện nước ngoài. Những việc đó đều trở thành một cái gì đó thôi thúc với Tuấn Trình. Năm 1935, Trần Huyền Trân thuê tuần báo Bắc Hà, làm được 5-6 số thì đứng tên chủ bút trong hai năm 1936, 1937, cho đến năm 1938 thì trả lại chủ cũ. Bắc Hà đăng nhiều nội dung kỹ nghệ, kinh tế, có một phần văn chương, và “Tam anh” như các bạn văn chương gọi, cùng tham gia viết cho Bắc Hà.

Cũng trong thời gian này, Tuấn Trình bắt đầu tập viết kịch. Trước đó, “Xuân mộng” có thể coi là truyện ngắn đầu tiên của chàng trai trẻ. Ông cũng đã tập làm thơ, cho đến khoảng năm 1940, 1941 mới lấy bút danh Thâm Tâm. Những năm 1941, 1942 cũng là thời gian “Tam anh” trở thành những cây bút viết chủ đạo cho ấn phẩm Tiểu thuyết thứ bảy, tờ tạp chí mang nhiều tư tưởng mới, phổ biến tri thức cho quốc dân, khơi mở ước vọng cho thanh niên.

Cái tên “Áo bào gốc liễu” của nhóm được tạm xác định ra đời năm 1939, khi những làn gió mang không khí cách mạng thổi tới lớp văn sĩ trẻ nhiệt huyết. Từ cái nghèo, sự bất công của xã hội và của chính mình, họ dần chuyển mình theo tư tưởng mới. Gắn bó với nhau qua những năm tháng ấy, “Tam anh” có chung ước mơ thay đổi, muốn làm một điều gì đó cho xã hội trong cảnh lầm than. Điều này lý giải việc Trần Huyền Trân, Nguyễn Bính, Thâm Tâm đều tham gia phong trào Văn hóa cứu quốc và sau này trên con đường riêng của mình, mỗi người đều có đóng góp cho cách mạng.

Năm 1943, Nguyễn Bính ra đi từ ga Hà Nội, vào Nam cho đến năm 1955 mới trở ra Bắc. Ông đi tìm con đường sinh sống, rồi hoạt động cách mạng, theo kháng chiến, sáng tác nhiều bài thơ đấu tranh đầy chất hùng ca, trong đó có bài “Cửu Long giang” năm 1950, trở thành lời bài hát “Tiểu đoàn 307” nổi tiếng của nhạc sĩ Nguyễn Hữu Trí. Cũng năm 1943, Trần Huyền Trân và Thâm Tâm tham gia Việt minh. Ngôi nhà Thâm Tâm ở phố Đoàn Trần Nghiệp (Hà Nội) ngày nay từng là nơi đi về của nhiều cán bộ cách mạng: Lê Quang Đạo, Lê Liêm, Lê Thu Trà… Đội trừ gian của nhạc sĩ Văn Cao cũng qua lại nơi này, người em ruột của Thâm Tâm là Nguyễn Tuấn Bích cũng tham gia hoạt động. Không khí hoạt động sôi sục khi đó đã tràn vào ca khúc mới của Văn Cao viết cho thanh niên, như “Thăng Long hành khúc ca”, và sau là “Tiến quân ca” bất hủ. Còn Thâm Tâm thì viết “Vọng nhân hành”, “Can trường hành” “Tráng ca”. Khát vọng đấu tranh của thanh niên Việt Nam đã bộc lộ rõ ở Trần Huyền Trân, Thâm Tâm. Họ sáng tác về sự ra đi, niềm mong chờ thay đổi, ban đầu người xem còn chưa hiểu rõ, sau này mới biết ở đó ngầm ẩn tinh thần cách mạng. Thâm Tâm có bài “Thơ lên đường” ghi “Đề tựa thơ Trần Huyền Trân”. Thơ rằng: “Chàng say màu son sắt/Lại khát ánh hoa sương/Nửa đời khôn ném bút/Dăm chuyến vẫn chê hương//Thơ chàng cho lính thú/Lính thú ngút trùng dương/Thơ chàng cho xuân nữ/Xuân nữ lười đoạn trường//Hôm nay thơ lên đường/Hồn chàng ra thiên hạ/Ta vừa nghe lã chã dòng sương/Ngâm thôi/Quăng bút cười ha hả/Đây một loài hoa khác hải đường”.

Qua nhiều thăng trầm dâu bể, khi những người cha đã yên ngủ từ lâu, ba người con của ba thi nhân mới có duyên gặp nhau khi tóc đã bạc. Nhà thơ Nguyễn Bính Hồng Cầu, con gái nhà thơ Nguyễn Bính từng dành nhiều năm sưu tầm tài liệu về nhóm “Áo bào gốc liễu”. Giảng viên nhiếp ảnh Trần Kim Bằng, con nhà thơ Trần Huyền Trân thì bỏ rất nhiều công tìm lại các tờ tuần báo Bắc Hà mà cha mình từng làm, qua đó phát hiện lại vai trò họa sĩ với những đóng góp liên tục của Thâm Tâm trên ấn phẩm này. Nhà thơ Nguyễn Bính Hồng Cầu và ông Nguyễn Tuấn Khoa, con trai nhà thơ Thâm Tâm xúc động khi nghe ông Trần Kim Bằng kể, hồi chưa mất, trên bàn làm việc của cha ông vẫn thường để một cái khay với ba chén rượu. Bây giờ ngày giỗ chạp, ông Bằng vẫn rót đều ra ba chén dâng lên bố và hai người bạn thi nhân như thế. Họ cùng nhau xem bài “Thơ Nguyễn Bính gửi Trần Huyền Trân” được “thi sĩ chân quê” viết năm 1963 khi đã ra Bắc từ lâu và về quê sinh sống. Bài thơ ấy như thế này:

“Nhớ xưa hồi còn trẻ

Thâm Tâm, Trân với mình

không Đào Viên kết nghĩa

nhưng cũng thành tam anh

Tiếng tăm thật là nổi

nhưng cũng thật là nghèo

gác Sơn nằm nhịn đói

cùng đọc thư người yêu

Hễ có tiền trong túi

đời lại làm ông hoàng

đập vỡ quán Lã Vọng

đốt cháy lầu Mộng Hoàn

Những lúc trốn hè phố

trở về đầm Liên Hoa

gió buốt chân Kỳ, Ký

mưa run lều mẹ già

Rồi mùa thu khởi nghĩa

rồi Cách mạng vùng lên

rồi chín năm kháng chiến

rồi một trận Điện Biên…

Rồi hòa bình lập lại

tóc chúng mình còn xanh

tưởng đời ta sẽ dược

đẹp như người trong tranh

Tất cả là ánh sáng

tất cả là hoa hồng

cuộc đời cứ tiếp diễn

không có màn cuối cùng

Những cái oan Thị Kính

những cái dại Xúy Vân

chỉ còn trên sân khấu

mỗi khi chèo mở màn

Ta vẫn là nghệ sĩ

ta vẫn là nhà thơ

nghệ thuật vẫn chung thủy

không chết yểu bao giờ

Sớm nay buổi đầu xuân

gặp nhau bờ sông Vị

đời chúng mình đẹp nhỉ

tiếc không còn Thâm Tâm.

Năm 1954 tại Hà Nội, nhà thơ Trần Huyền Trân viết bài thơ “Đi dưới mưa xuân”, đề “Khóc Thâm Tâm”. Bài thơ có đoạn: “Mùa xuân đã biếc trên mồ/Rừng xanh thác đổ… Bây giờ biển xanh/Ở đâu đã nát xương anh/Gió lùa cửa mộ tâm tình nằm trơ/Xuân về lên thịt da xưa/Anh đem hoa đến muôn nhà là đây/Nhớ người không uống rượu cay/Mưa rơi mái tóc mà say trong lòng”.

Thời nay, số Xuân Giáp Thìn 2024

Phát hiện mới về “nghi án văn chương” “Hai sắc hoa ti-gôn” – Nguyệt Hà

Vừa qua, đại diện gia đình cố nhà thơ, liệt sĩ Thâm Tâm đã vui mừng thông báo việc tìm thấy bản in lần đầu tiên của bài thơ “Tống biệt hành” và “Hai sắc hoa tigôn” trên tuần báo Tiểu thuyết thứ Bảy. Gần 90 năm kể từ khi bài thơ “Hai sắc hoa ti-gôn” ra đời, đến nay đây vẫn là một nghi án văn chương đặc biệt được độc giả và giới nghiên cứu phê bình quan tâmvẫn chưa xác thực được tác giả của “Hai sắc hoa tigôn” thực sự là ai…

Trong “Thi nhân Việt Nam” của Hoài Thanh – Hoài Chân xuất bản năm 1942, Thâm Tâm (1917 – 1950) chỉ xuất hiện với duy nhất bài thơ “Tống biệt hành” và vài dòng giới thiệu ngắn ngủi. Sau ngày Toàn quốc kháng chiến, Thâm Tâm đi theo cách mạng và hi sinh khi mới ngoài 30 tuổi, nên di cảo văn chương ông để lại trong gia đình hầu như không có gì. Ông Nguyễn Tuấn Khoa – người con trai duy nhất của nhà thơ Thâm Tâm cho biết, sau 3 năm tìm kiếm sưu tập các tác phẩm của Thâm Tâm, gia đình đã sưu tầm được 52 bài thơ, 101 truyện ngắn, 33 vở kịch, 29 truyện vừa và tiểu thuyết. Ngoài ra, trong quá trình tìm kiếm, gia đình đã phát hiện nhà thơ Thâm Tâm còn là một họa sĩ rất chuyên nghiệp. Trong nhiều năm liền ông là người vẽ bìa, vẽ minh họa cho tuần báo Bắc Hà với rất nhiều tranh vẽ giàu tính thẩm mĩ.

Mới đây, chị Nguyễn Mỹ Trang – cháu nội cố nhà thơ Thâm Tâm vui mừng thông báo, sau một thời gian dài nỗ lực tìm kiếm với sự giúp đỡ của nhiều người, gia đình đã tìm được bản in lần đầu tiên của 2 bài thơ “Tống biệt hành” và “Hai sắc hoa ti-gôn” trên tuần báo Tiểu thuyết thứ Bảy. Ở bản in lần đầu tiên của bài thơ “Tống biệt hành” trên tuần báo Tiểu thuyết thứ Bảy số 325, ra ngày 7/9/1940 so với các bản được lưu truyền trong các sách vở, tài liệu và trong cả sách giáo khoa phổ thông, đã có một số câu chữ được thay đổi và thiếu đi khổ cuối, không rõ nguyên do là từ đâu. Nhưng với bài thơ “Hai sắc hoa ti-gôn” thì từ bản in đầu tiên cho tới các bản in được lưu hành sau này đều tương đối thống nhất, hầu như không có sự thay đổi.

Vậy là kể từ lần xuất hiện đầu tiên trên tuần báo Tiểu thuyết thứ Bảy, số 179 ra ngày 23/9/1937 đến nay, đã gần 90 năm trôi qua, bài thơ “Hai sắc hoa ti-gôn” vẫn là một “nghi án văn chương” tốn nhiều giấy mực bậc nhất trên văn đàn. Trong “Thi nhân Việt Nam” của Hoài Thanh – Hoài Chân xuất bản năm 1942, ở phần nói về T.T.Kh tuy không giới thiệu bài thơ “Hai sắc hoa ti-gôn” nhưng đã dành 2 trang để nói về “nghi án văn chương” này. Hoài Thanh – Hoài Chân viết: “Hồi tháng 9/1937, tiểu thuyết thứ Bảy đăng một truyện ngắn của ông Thanh Châu: “Hoa ti-gôn”. Ít ngày sau, tại tòa báo nhận được một bài thơ nhan đề “Bài thơ thứ nhất”, rồi lại nhận được một bài nữa “Hai sắc hoa ti-gôn”. Hai bài đều ký tên T.T.Kh. Và đều một nét chữ run run. Từ đấy tòa soạn Tiểu thuyết thứ Bảy không nhận được bài nào nữa và cũng không biết T.T.Kh ở đâu. Nhưng sau khi hai bài thơ kia đăng rồi, xóm nhà văn bỗng xôn xao. Có đến mấy người nhất quyết T.T.Kh chính là người yêu của mình. Và người ta đã phê bình rất náo nhiệt. Có kẻ không ngần ngại cho hai bài thơ ấy là những áng thơ kiệt tác…”.

Từ đó đến nay, đã có biết bao giai thoại, đồn đoán, nghi vấn… về T.T.Kh, có cả những cuốn sách, công trình nghiên cứu về “nghi án văn chương” này như cuốn “Huyền thoại hoa Ti-gôn” của Ngọc Thiên Hoa (NXB Hội Nhà văn) dày đến gần 500 trang, những bài viết nghiên cứu trước đây của Nguyễn Vỹ, Thiên Tướng hay những bài viết ôn lại kỷ niệm của Tô Hoài, Vũ Bằng… nhưng đều không xác thực rõ được danh tính. Ông Nguyễn Tuấn Khoa – con trai nhà thơ Thâm Tâm phân trần: Trong bài “Bài thơ thứ nhất” ký tên T.T.Kh có mấy câu được nhiều người yêu thích: “Trở lại vườn Thanh có một mình/ Tôi yêu gió rụng lúc tàn canh/ Yêu trăng lặng lẽ rơi trên áo/ Yêu bóng chim xa nắng lướt mành…”, nên cũng có nhiều người phỏng đoán vườn Thanh là Thanh Hóa, mà mẹ tôi cũng có thời gian ở Thanh Hóa. Nhưng thực ra mẹ tôi chỉ ở Thanh Hóa trong thời gian đi tản cư từ năm 1948 đến 1951 và mẹ tôi cũng không biết làm thơ. Tôi có may mắn được trò chuyện với bác Thanh Châu và bác Ngọc Giao là thư ký tòa soạn tờ Tiểu thuyết thứ Bảy, nhưng cũng chẳng “moi” được gì từ các bác ấy cả, trừ câu bác Thanh Châu vuột miệng nói khi đang bực bội về chuyện bà Vân Chung: “Làm gì có cô Khánh nào?. Bố anh và các ông bạn giỏi bịa lắm!”.

Liên quan đến sáng tác của nhà văn Thanh Châu, đến nay gia đình cố nhà thơ Thâm Tâm cũng đã sưu tầm được bài “Những cánh hoa tim” của Thanh Châu đăng tháng 9/1939 viết về sự ra đời của truyện “Hoa ti-gôn” và sự ra đời của bài “Hai sắc hoa ti-gôn, trong đó có đoạn: “Truyện có gì đâu? Nhưng tôi đã viết với tất cả cảm giác trong trẻo, chân thành, tươi tốt đã có trong buổi chiều thu ấy, sau buổi đi chơi trong làng Mọc.

 Có lẽ vì thế, mà cách đây ít hôm, một buổi trưa, có 2 người đàn bà đến thăm tôi trong lúc tôi đi vắng, và để lại trên bàn những cánh hoa trong truyện. Những người đó, tôi đoán, là đã lấy làm bằng lòng câu chuyện tình ảm đạm kia, mà những cánh hoa để lại không ngoài cái ý nghĩa thưởng công cho người đã viết. (Dẫu sao tôi cũng đã có lời cảm ơn hai người không trở lại ấy trên mặt báo này rồi)”.

Nhưng điều làm tôi lấy làm sung sướng nhất là cùng dạo ấy, ở tòa soạn nhận được một bài thơ đầu của T.T.Kh kèm với một bức thư xin chữ ký của tôi. Bức thư giảng rõ vì sao nảy ra thi hứng viết nên thơ. Và bài thơ tả cái tâm sự não nùng thầm kín của một người đàn bà đã có gia đình nhớ lại tình duyên cũ…”.

Điều nhà văn Thanh Châu nói trong lúc “vuột miệng” ở trên xem ra là có căn cứ bởi vì trong cuốn hồi ký chân dung văn học “Những gương mặt” của Tô Hoài, trong phần kể về Trần Huyền Trân với nghi án văn chương “Hai sắc hoa ti-gôn” có nhắc đến người “Trở lại vườn Thanh có một mình” có đoạn: “Có lần tôi gặng hỏi Thâm Tâm, nhưng con người bé nhỏ âm thầm mà gai gạnh ấy chỉ nói: “Vườn Thanh là Thanh Giám, chứ không phải xứ Thanh đâu!”. Lại càng khó hiểu hơn.

Trên gác báo Bắc Hà, – Trần Huyền Trân thuê lại báo của ông Bùi Đức Dậu, làm được mấy số – phố Cao Đắc Minh trông sang Thanh Giám Văn Miếu. Bãi cỏ bậc thềm bậc đá, tường gạch vỡ, mái ngói rêu phong, những gốc đề, gốc muỗm cổ thụ và sự vắng lặng. Câu chuyện tình u ẩn mà nhiều báo nhiều thời bàn tán nào “Hai sắc hoa ti-gôn”, nào T.T.Kh, nào Thâm Tâm và Khánh, là hai người ấy hay là ai. Những éo le mơ hồ, các anh Thanh Châu, Thâm Tâm, Trần Huyền Trân, Nguyễn Bính – những đồng tác giả câu chuyện tình huyền thoại ấy hôm nay cũng còn có bạn có thể kể lại rành rõ được (hay là người ta cứ muốn để mờ ảo mãi như thế), tôi không quan tâm, mà chỉ muốn mách các bạn: không phải chỉ Nguyễn Bính làm thơ về T.T.Kh, mà riêng nhà thơ Trần Huyền Trân có đến bốn bài thơ viết ở “vườn Thanh”. Những bài “Thưa bà” – 1938 (Gửi một bà yêu thơ), “Tiếng đàn đôi ta” – 1938, “Có những mùa đông” – 1939 và “Trưa ấy qua rồi” – 1939, đều viết ở Thanh Giám…”.

Theo tìm hiểu của phóng viên, từ những tài liệu, sách báo mà ông Nguyễn Tuấn Khoa sưu tầm được đến nay gồm khoảng hơn 200 số báo Tiểu thuyết thứ Bảy và các ấn phẩm sao chụp được từ tuần báo Bắc Hà, nhà thơ – họa sĩ Nguyễn Tuấn Trình còn có các bút danh khác là, Thanh Giám, Trăm Năm, Trái Tim, T.G.Kh. Và đến nay gia đình đã tìm thấy bài thơ “Chút tình bỡ ngỡ” đăng trên Tân Việt văn đàn số 8 năm 1935 của ông ký là T.G.Kh được coi là bài thơ sớm nhất của Thâm Tâm xuất hiện trên báo, khi vừa tròn 18 tuổi! Đây đúng là một bất ngờ lớn với nhiều người, bởi lẽ cái tên T.G.Kh có gì đó rất gợi cho người ta nghĩ đến… “T.T.Kh”! Lần lại lịch sử trước đó, ông Khoa tiết lộ ông cũng tìm được khá nhiều chi tiết liên quan như: trên tuần báo Bắc Hà số 13 ra ngày 5/11/1936 có đăng bài “Đừng đan áo nữa” với tên nhân vật chính là Khánh. Sau đó 2 số, cũng trên tuần báo Bắc Hà ra ngày 19/11/1936 có trang bìa là tranh vẽ một cô gái đứng bên vườn Quốc Tử Giám ký Tuấn Trình (Thanh Giám). Ngay sau đó ở số 17, bài thơ “Phấn bướm” ký tên Tuấn Trình có câu: “Vườn Giám chiều nay gió lộng về…”. Và vườn Giám này có gì đó rất gần gũi với vườn Thanh trong “Bài thơ thứ nhất” đăng trên tuần báo Tiểu thuyết thứ Bảy ngày 20/11/1937 với câu thơ nổi tiếng “Trở lại vườn Thanh có một mình” đã được nhiều người biết đến…

Tuy nhiên, để khẳng định T.T.Kh có phải là Thâm Tâm – Thâm Tâm có phải là T.T.Kh hay không, có lẽ đến giờ này cũng không một ai dám xác thực. Bởi vì, những “người thơ” có mặt trong “nghi án văn chương” năm đó (theo lời của Tô Hoài) và bao gồm cả “ông chủ” của Tiểu thuyết thứ Bảy là Vũ Đình Long – một “cao thủ” trong làng báo những năm đó – đều đã trở thành “người muôn năm cũ”, đem theo bí mật ấy đến một miền xa lắc…

Báo Công an Nhân dân, 13-2-2024

Năm tháng vội vã tìm bóng hình cha – Nguyễn Tuấn Khoa

Tôi sinh ra ở Hà Nội vào mùa đông năm 1946. Toàn quốc kháng chiến, cha tôi lên đường vào bộ đội. Gia đình tôi tản cư về Hải Dương quê cũ. Năm 1948, cha tôi có chuyến công tác về Hải Dương, gặp mẹ con tôi, ra đời bài thơ “Chiều mưa đường số 5” và có chụp 2 bức ảnh tôi với ông nội. Đấy là lần trở về duy nhất của cha tôi.

2 năm sau cha tôi hy sinh trong chiến dịch Biên giới ở Cao Bằng. Bộ đội về Thanh Hóa báo tin, rồi dẫn đường cho gia đình tôi lên an toàn khu Định Hóa, Thái Nguyên, sau về chân đèo Khế, Đại Từ. Thỉnh thoảng các bác Nguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng tới thăm ông bà và mẹ con tôi, thấy gọi mẹ tôi là “chị Thâm Tâm”. Mẹ bảo tôi là bố con hy sinh rồi, tôi biết tôi là đứa bé mồ côi, cha tên là Thâm Tâm, nhà tôi cũng không có ảnh của cha. Tôi nghĩ chắc cha cũng giống như bác Nguyên Hồng,…

Ngày giải phóng Điện Biên, có chú bộ đội giải tù hàng binh Pháp về qua đèo Khế, dừng chân nghỉ uống nước tại quán nhà tôi. Rồi tình cờ, chú ấy là chiến sĩ cùng ở đơn vị với cha tôi, khi biết mẹ tôi là “chị Thâm Tâm” mới mở ví lấy ra chiếc ảnh chân dung cha tôi trao lại cho mẹ tôi. Mẹ tôi về Hà Nội chụp lại và giờ đây là chiếc ảnh phóng to trên ban thờ cha tôi. Vậy là tôi biết mặt cha. Lên 8 tuổi, tôi mới biết cha tên là Nguyễn Tuấn Trình, là người làm thơ, làm báo với bút danh Thâm Tâm.

Năm 1955, gia đình tôi trở về Hà Nội. Mấy năm sau có cán bộ tìm đến nhà tôi trao bằng Tổ Quốc ghi công Liệt sĩ Nguyễn Tuấn Trình, mấy cái huân chương. Tôi đã đi học và hiểu biết hơn. Mẹ tôi cho tôi xem những di vật của cha, giấy báo tử, và 6 bức ảnh đám tang cha tôi mà bộ đội mang về cho mẹ tôi từ hồi ở Thanh Hóa. Thế là tôi biết thêm về cha mình. Về sau, mẹ tôi và bác tôi còn kể rằng cha tôi ngày trước có làm thơ, viết truyện đăng trên một số tờ báo, rồi còn vẽ tranh bán ở Bờ Hồ, lấy các bút danh Tuấn Trình, Trăm Năm, Trái Tim, Thanh Giám,… và Thâm Tâm.

Năm 1960 có người mang đến cho mẹ tôi một cuốn sách, cuốn Hợp tuyển văn học Việt Nam 1945-1960, trong đó có bài thơ “Chiều mưa đường số 5”. Đấy là tác phẩm duy nhất của cha tôi mà tôi biết. Lên học cấp 3, tôi thấy có thầy dạy văn nhắc tới một bài thơ của cha tôi, bài “Tống biệt hành”, một số bạn nữ trong lớp có lưu truyền bài thơ chép tay nhan đề “Hai sắc hoa Ti gôn” của nữ sĩ T.T.Kh. nghe nói là người yêu của Thâm Tâm ngày xưa.

Mẹ tôi rất ít kể về cha tôi, nhưng hay dẫn tôi đến nhà các bác Lê Liêm, Lê Thu Trà,… bảo là bạn của cha tôi. Các chú Mai Văn Mạc, Hoàng Mười, ông Xuân Thủy,.. cũng thường đến thăm gia đình tôi. Năm học lớp 10, tôi được giải nhì học sinh giỏi văn thành phố, giải cao nhất học sinh giỏi toán toàn miền Bắc, và được phần thưởng của Bác Hồ, mẹ tôi lại dẫn tôi đi thăm các bác. Mẹ tôi muốn các chú, các bác ấy thấy tôi lớn lên ngoan ngoãn, chịu khó học hành, thế là mẹ tôi yên lòng.

Năm 1964, tôi vào học Đại học Bách Khoa. Thi xong học kỳ 1, sắp Tết. Một hôm tôi thấy Lớp trưởng báo tôi lên Văn phòng Khoa có việc. Ở đó, người ta trao cho tôi quyết định cử tôi đi học chuyển tiếp sinh ở Trung Quốc, tôi mang quyết định về nhà mới thấy người ký là ông Hoàng Xuân Tùy, tôi nhớ trong giấy báo tử cha tôi cũng là ông Hoàng Xuân Tùy ký. Ngày bé ở Thái Nguyên, các bác báo cho tôi đi học ở Khu học xá Trung Quốc, sau lại chuyển cho đi CHDC Đức, nhưng ông tôi nhất quyết không cho đi, vì sợ nước Đức ở xa quá, nhỡ cháu làm sao thì không gặp được nữa. Phải chăng các bác ở trên vẫn nhớ tới tôi, con trai duy nhất của Thâm Tâm.

Tôi tốt nghiệp đại học và đi làm. Nhà tôi có cái radio Vạn Tường vỏ gỗ để nghe đài, có lần thấy bắt được sóng đài Sài Gòn, tôi nghe những bài hát của vài nhạc sĩ trong Nam, và một lần thấy ai đó ngâm thơ “Tống biệt hành”. Có lúc khó nghe quá, tôi vặn to lên, mẹ tôi bảo “Không được nghe đài địch”, tôi liền tắt ngay. Tôi hỏi mẹ: “Sao họ lại ngâm thơ của bố?” Mẹ tôi mới kể rằng ngày trước cha tôi với mấy người bạn văn thơ rất thân nhau, gọi là nhóm Ngũ hổ, gồm Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, Thâm Tâm, Nguyễn Bính, Trần Huyền Trân. Sau Cách mạng và kháng chiến, ông Đinh Hùng vào Nam, phụ trách chương trình văn nghệ đài Sài Gòn, trong ấy họ vẫn đọc thơ Tống biệt hành, Hai sắc hoa Ti gôn. Sau 1975, bạn bè miền Nam và đồng nghiệp của tôi vào công tác Sài Gòn có gửi cho mẹ con tôi mấy cuốn tạp chí cũ viết về Thâm Tâm, Tống biệt hành và T.T.Kh. và cuốn tiểu thuyết “Thuốc mê”.

Năm 1988, anh Mã Giang Lân đã cất công sưu tầm, biên tập và xuất bản cuốn Thơ Thâm Tâm (NXB Văn học) tuyển được 16 bài thơ in trên Tiểu thuyết thứ bảy, 2 bài “Chiều mưa đường số 5” và “Căm thù” sáng tác sau Cách mạng và bài Hai sắc hoa Ti gôn trong phần Phụ lục. Anh đã mang cuốn Thơ Thâm Tâm tới tặng mẹ con tôi. Vậy là tôi được biết thêm khá nhiều tác phẩm thơ của cha tôi.

Sau thời kỳ đổi mới, trên báo có khá nhiều bài viết về Thâm Tâm và thơ Thâm Tâm. Ông Hoài Việt nhiều lần đến nhà tôi tìm hiểu thêm về Thâm Tâm để viết mấy cuốn sách về Thâm Tâm, Nguyễn Bính, T.T.Kh.,, Ông còn dẫn tôi đến gặp bác Thanh Châu, Ngọc Giao, Hồng Tranh,… và được nghe kể rất nhiều về cha tôi, về hai sắc hoa Ti gôn, về nhóm Áo bào gốc liễu,…

Năm 1990, Báo Quân đội Nhân dân kỷ niệm 40 năm ngày thành lập, tôi được mời đến dự, đọc bài thơ Tống biệt hành, gặp chú Vũ Cao, Vũ Tú Nam, và rất nhiều nhà văn nhà thơ quân đội. Về sau tôi có nhiều dịp tới thăm chú Vũ Cao và hầu chuyện. Có lần chú nhìn tôi rất lâu và bảo chú có cảm tưởng đang gặp lại cha tôi, nghĩa là tôi có nhiều nét giống bố.

Năm 1995, trong một dịp Họp mặt cựu hoc sinh trường Bưởi ở cơ quan tôi, ông viện trưởng giới thiệu tôi là người giúp đỡ tổ chức buổi họp mặt, là con Thâm Tâm, tôi mới được gặp các bác Bùi Hạnh Cẩn, Văn Cao, Đặng Vũ Hiệp… Các bác hỏi thăm mẹ tôi, kể nhiều chuyện cũ về cha tôi và từ đấy, tôi nhiều lần được trò chuyện cùng các bác. Bác Đặng Vũ Hiệp lại bảo tôi đến nhà chú Lê Hai để xin mấy tấm ảnh cha tôi và đồng đội Cục Tuyên huấn và báo Vệ quốc quân. Vậy là tôi có thêm mấy tấm ảnh có mặt cha tôi.

Năm 1999, sau những bài viết của bác Trúc Kỳ và chú Vũ Cao về Thâm Tâm, các anh chị Hội Văn học Nghệ thuật Cao Bằng tiến hành việc tìm mộ Thâm Tâm. Anh Hoàng Quảng Uyên, Y Phương, bác Vương Hùng, Thanh Châu, … đã góp rất nhiều công sức, và chính nhờ 6 tấm ảnh đám tang đã tìm thấy ngôi mộ cũ ở Pò Noa, Phi Hải, Quảng Uyên, Cao Bằng. Năm 2000, VTV đã làm phim “Nhớ Thâm Tâm” kỷ niệm 50 năm Chiến thắng Biên giới, tôi mới có dịp về thăm quê Hải Dương, được gặp lại mấy cụ bạn học ngày xưa của cha tôi. Các cụ đều bảo tôi giống bố. Vợ chồng tôi đã lên Cao Bằng,cùng đoàn làm phim, được viếng mộ cha và xin một nắm đất Pò Noa về đặt trên ban thờ.

Cha tôi là mấy tấm ảnh, là Tổ quốc ghi công Liệt sĩ, là thư ký tòa soạn Báo Vệ quốc quân trong hồi ký của bác Trúc Kỳ, là những di vật mẹ tôi còn giữ cùng những bức thư cha gửi về đã vàng ố và nhòa nước mắt. Cha tôi là nhà thơ với 18 bài thơ trong cuốn “Thơ Thâm Tâm”. Thế thôi.

Thế rồi một cú điện thoại của anh Văn Giá đã khởi đầu cho những năm tháng vội vã tôi đi tìm hình bóng cha mình. Anh Văn Giá điện cho tôi, tự giới thiệu và thông báo đã cùng với chị Nguyễn Thanh Hương phát hiện một số truyện ngắn của Thâm Tâm được lưu giữ tại Thư viện Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh dưới dạng microfilm, đã chụp ảnh nguyên bản từ những tấm film chất lượng kém rồi tiến hành đánh máy lại. Cuốn “Thâm Tâm truyện ngắn” gồm hơn 30 truyện đã đăng trên tờ Tiểu thuyết thứ bảy rải rác suốt từ năm 1941 đến 1944, đã được biên tập và xuất bản năm 1999. Anh Khang, Giám đốc Thư viện Quốc gia cũng gửi cho tôi danh mục các tác phẩm của Thâm Tâm có tại Thư viện Quốc gia, trong đó có một số truyện vừa, truyện thiếu nhi, mấy tác phẩm truyện ký, thơ, kịch sáng tác sau Cách mạng.

Công việc bận rộn, tôi dự định thu xếp thời gian tới Thư viện xin đọc các tác phẩm của cha mình, và có thể xin chụp lại, nhưng chưa làm được. Thật may những năm gần đây có Internet và mạng xã hội, các anh chị Ngô Thảo, Ngô Vĩnh Bình, Lưu Khánh Thơ, Lại Nguyên Ân,… đã mách bảo, động viên tôi tìm đến các cơ sở dữ liệu số hóa của Thư viện Quốc gia Việt Nam và Thư viện Quốc gia Pháp, để tìm kiếm các tác phẩm của Thâm Tâm. Tìm được các tác phẩm của cha mình, vợ chồng tôi lại tiến hành nhận dạng từ bản ảnh sang bản text, được các nhà xuât bản giúp đỡ biên tập và xuất bản Truyện ngắn Thâm Tâm, Truyện vừa Thâm Tâm, các truyện cổ tích, truyện dành cho thiếu nhi, tiểu thuyết, kịch,…

Và tôi đã thấy hình bóng cha khi còn là cậu bé được bà tôi chèo thuyền đưa đi học mùa lụt Hải Dương năm nào trong truyện “Cái tổ chim”, là chàng trai với đốm ánh thuốc lá đang đi cùng một ánh thuốc nữa xa dần, khuất dần trong đêm, đi về phía thay đổi cuộc đời, “lên đường” vì khát vọng tự do, độc lập trong truyện “Ánh thuốc lé trong bóng tối”, là cha tôi ngồi viết trong đêm, bên ngọn đèn dầu như hình minh họa bài thơ “Viết đêm” trên tờ Tiểu thuyết thứ bảy với hai câu thơ cuối :” Hoa đèn không hiểu lòng trang giấy / Soi mãi trên bàn cái vắng teo”, như một lời nhắn nhủ cho con cháu tìm về.

Ngày Hội nhà văn Việt Nam tổ chức ra mắt các tác phẩm mới sưu tầm của Thâm Tâm, tôi gặp hai chị em Kim Đính, Kim Bằng con bác Trần Huyền Trân, vợ chồng tôi tới thăm nhà và thắp hương tưởng nhớ bác. Rồi từ đấy, chúng tôi gặp Nguyễn Bính Hồng Cầu, con bác Nguyễn Bính, chia sẻ những kỷ niệm về các cụ tam anh “Áo bào gốc liễu”. Cũng từ đấy, tôi tìm được các số báo của Tuần báo Bắc Hà, Tân Việt Văn đoàn, những bức tranh vẽ bìa, những minh họa của họa sĩ Tuấn Trình, thơ và truyện của Tuấn Trình, Trái Tim, Thanh Giám, Trăm Năm, T.G.Kh., từ trước khi xuất hiện nữ sĩ T.T.Kh.

Cũng vì những phát hiện này, tôi quay lại Thư viện Quốc gia tìm kiếm các số báo Tân Việt Văn đoàn, Tuần báo Bắc Hà, và những tư liệu, tác phẩm của Tuấn Trình, Thâm Tâm sáng tác sau Cách mạng như “Lá cờ máu”, “Một người thợ”, “Mùa xuân mới”, “Miền Nam Chiến đấu diễn ca”, “Ngày đắc thắng”.

Mấy năm qua, con rể tôi Trần Thanh Tùng đã bỏ rất nhiều công sức và tiền bạc, tìm kiếm, liên hệ và mua được rất nhiều bản gốc các số Tiểu thuyết thứ bảy từ năm 1935 đến 1945, các truyện vừa của Thâm Tâm đăng trên Truyền bá,… Công việc này có sự giúp đỡ rất quan trọng của các nhà sưu tầm trong ngoài nước. Từ các bản gốc này, gia đình đã sưu tầm được thêm nhiều tác phẩm của cha tôi.

Cho tới nay, gia đình đã sưu tầm được 120 truyện ngắn in trong Tân Việt văn đoàn, Tuần báo Bắc Hà, Tiểu thuyết thứ bảy, Báo Quốc hội, NXB Văn hóa Cứu quốc, NXB Vệ quốc quân từ 1936 đến 1948, 28 truyện vừa in trên Truyền bá Phổ thông bán nguyệt san từ 1940 đến 1944, 2 tiểu thuyết Thuốc mê, Nỗi ân hận dài, Tân Dân xuất bản, 38 vở kịch, 50 bài thơ và 2 tập Miền Nam chiến đấu diễn ca, từ 1935 đến 1948, Hàng chục tranh vẽ bìa cho Tuần báo Bắc Hà, minh họa cho Tân Việt Văn đoàn và Tiểu thuyết thứ bảy từ 1935 đến 1944.

Ở nhà bác Trần Huyền Trân, trên bàn viết của bác ngày xưa, tôi thấy 3 cái chén. Anh Kim Bằng bảo mỗi khi rót rượu thắp hương bác đều rót thêm 2 chén nữa cho Nguyễn Bính và Thâm Tâm. Anh Bằng lại cất công tìm mua và mang đến chai rượu COINTREAU 1849, là loại rượu ngày xưa ba nhà thơ Trần Huyền Trân, Nguyễn Bính, Thâm Tâm thường cùng uống với nhau để thắp hương cho cha tôi. Tình bạn tam anh, tình cảm quý mến, sự mách bảo động viên và giúp đỡ của các bác các chú, các anh chị đã giúp tôi tìm thấy khuôn mặt, hình bóng cha cùng với bao người muôn năm cũ.

Năm 2004, Hải Dương có phố Nguyễn Tuấn Trình. Năm 2023, Hà Nội đặt tên phố Thâm Tâm.

“Người đi ừ nhỉ người đi thực

Mẹ thà coi như chiếc lá bay

Chị thà coi như là hạt bụi

Em thà coi như hơi rượu cay”.

Cha tôi ra đi năm 1946. Người đi từ đấy đã không về!

Ôi, một chữ thà!

“Hơi rượu cay” tôi đã được uống với các chú, các bác, bạn bè xưa của cha tôi, hơi rượu đã bay đi, bay vào khoảng trời tươi sáng hôm nay, chỉ để nhớ về “Ngoài phố mưa bay xuân bốc rượu/Tấc lòng mong mỏi cháy tê tê” ngày ấy.

“Hạt bụi” nào làm cay mắt chị, mắt em, mắt bạn bè đồng đội của cha tôi, cũng đã theo những dòng nước mắt trôi đi mãi, trôi vào lòng thương nhớ của bao người.

Nhưng vẫn còn “chiếc lá”, chiếc lá của người mẹ Hải Dương đã bay từ đường số 5, bay về Hà Nội, quấn quýt bên những chiếc lá thân thiết, bên bạn văn, bạn thơ, bạn rượu, để bật lên khát vọng lên đường, bay đi nữa, bay mãi tới bản nhỏ Pò Noa, Phi Hải, Cao Bằng thì rơi xuống. Anh Nguyễn Đức Mậu bảo rằng “Hơn bốn mươi năm, cây mục đá mềm/ Xương thịt con người lẫn vào cỏ dại”. Bác Trần Huyền Trân viết: “Mùa xuân đã biếc trên mồ/Rừng xanh thác đổ… Bây giờ biển xanh/Ở đâu đã nát xương anh/Gió lùa cửa mộ tâm tình nằm trơ/Xuân về lên thịt da xưa/Anh đem hoa đến muôn nhà là đây”. Vâng, chiếc lá ấy đã mục lâu rồi, để trên gò Pò Noa ấy giờ xanh mướt một màu non tơ của cây cối lúc sang xuân.

Tôi đã đi tìm và đã thấy bóng hình cha thật rõ nét, thật thân thuộc qua những con chữ, những tác phẩm, những câu chuyện của cha và về cha, qua những chiếc lá mướt xanh trên phố Nguyễn Tuấn Trình, trên phố Thâm Tâm và ở bản Pò Noa, Phi Hải xa xôi mà thật gần.

Cha tôi đã trở về!