Miền Nam chiến đấu diễn ca – Tập thứ nhất

MIỀN NAM CHIẾN ĐẤU DIỄN CA

Tập thứ nhất

(Từ 23 tháng chín đến ngày hoãn chiến 30-9-45)

Việt Nam dân chủ cộng hòa

Năm đầu vừa dựng nước nhà chưa yên.

Triệu người một tiếng thét lên:

Quyết xây độc lập trên nền máu xương!

Chiến khu mở khắp biên cương

Nhà quê kẻ chợ chật đường võ trang.

Mừng trông trước mắt huy hoàng

Bóng cờ đỏ ối sao vàng rọi soi.

Kể từ tháng Tám hồng tươi

Hòa bình trở lại với người năm châu.

Bởi coi hạnh phúc làm đầu

Dân ta cũng chỉ mong cầu bình an.

Nhưng căm thay lũ hung tàn,

Thực dân nọc độc chưa tan lòng xà.

Việt Nam vàng nhị hồng hoa

Đất thơm ai khiến mũi tà đánh hơi!

Vừa trông lặng bể êm trời

Đã nghe âm ĩ hiệu còi tàu Anh.

Xa khơi đầy một màu xanh

Ngờ đâu quân Pháp ma ranh lận lừa.

Núp lưng bám vạt áo thừa

Mượn oai nước bạn lên bừa bến Nam.

Ấy phường phản động tham lam

Xưa nay vẫn thói rông càn khó chơi.

Tuy nhiên đất Việt muôn đời

Dễ đâu dân Việt để người dòm nom.

KHỞI CHIẾN

 

Hăm hai tháng chín Sài Gòn

Bắt đầu va chạm ôm sòm thép gang.

Lộn sòng từng lũ xài lang,

Súng Anh mũ Nhật nghênh ngang giở trò,

Thừa khi phố vắng đêm mờ

Dập nhau một loạt chiếm kho đoạt nhà.

Nhùng nhằng đến sáng hăm ba,

Chúng canh hết các cầu ra ngoại thành.

Bập bùng mùi lửa chiến tranh,

Mạnh ai người nấy chạy nhanh gạo tiền.

Còn mong gì sống bình yên

Mất căm đều đỏ sọng lên một màu.

Tầm vông gậy vót từ lâu

Mũi thuôn quyết hẹn xóc đầu giặc Tây.

Súng dài súng ngắn liền tay,

Sườn đeo lựu đạn lòng say máu rồi.

Hầm sâu, bụi rậm náu ngồi,

Bạnh quai hàm đợi nghiến mồi sói lang.

Dân quân hai vạn sẵn sàng,

Đầy khu thuyền thợ, chật đàng thanh niên.

Đàn bà hiền thắm là hiền,

Gặp cơn nguy cũng gan liền, dắt dao.

Đương cơn gió cả ào ào,

Tinh thần như sóng càng cao vượt bờ.

 

ĐỘI THẦN BINH BÀ CHIỂU

 

Gương treo sáng chói sắc cờ

Trận đầu ta đánh quân thù đã kinh.

Khu Bà Chiểu đội thần binh,

Nửa đêm bị giặc thình lình bổ vây.

Súng rèn khạc đạn luôn tay,

Một niềm cố giữ Xã Tây đến cùng.

Tức thay đạn chỉ có chừng

Sức còn mà súng còn dùng được đâu!

Giặc càng ập tới rất mau,

Anh em hét lớn bảo nhau không hàng!

Cũng không chết bởi sài lang!

Sa cơ còn tấm can tràng sắt đanh.

Trước khi hàng ngũ tan tành,

Thà tay mình giết lấy mình đỡ căm.

Thế rồi tiếng nổ bặt tăm…

Trong đêm, nào biết dò thăm thế nào!

 

VÒNG VÂY NGOẠI THÀNH

 

Rạng mai trời chửa tàn sao

Hung hăng giặc đã càn vào phố đông.

Tước tre, sắt, bắt đàn ông,

Sở treo cờ Pháp ta không chịu vào.

Dân tình ngơ ngác xôn xao,

Đó đây nhiều cuộc máu trào đổ ra…

Giặt đi Phú Nhuận khôn qua,

Lui về Cầu Kiệu quân ta bắn liền…

Chừng mười giờ rưỡi chưa yên,

Đã trông thấy lửa đốt miền xóm Gianh.

Ba mươi quân địch hoành hành.

Phá nhà cướp của dân lành thảm thương.

Cầu Bông ta đánh chặn đường

Xe thù khó vượt, chán chường phải lui…

Chiều hun khói lửa sập sùi,

Châu Thành u uất gợi mùi chiến tranh.

Ta ken chiến lũy vâynhanh

Sài Gòn Chợ Lớn vòng quanh mạn ngoài.

Địa phương du lịch cũng dài

Mấy tỉnh miệt mài tập dượt dân quân.

Máu sôi tám vạn công nhân

Tiền phong thanh, thiếu niên, năm vạn người.

Liều gan coi chết như chơi,

Sáu ngàn lao động miệng cười nhẹ thênh.

Tầm vông gậy vót chênh vênh,

Ấy là khí giới thô kềnh của ta.

Tiền Giang rồi Hậu Giang xa

Khắp đều các tỉnh tre già chặt trơ.

Cây tre cứu quốc đâu ngờ

Quân thù kiềng hãi đâu ngờ vì tre.

Thật là châu chấu đá xe ,

Đánh cho sức địch nặng nề cũng tan.

Chẳng lo quân Pháp sáu ngàn,

Với hai vạn Nhật bạo gan giúp bừa.

Nhưng căm tụi chúng vào hùa,

Thêm gió bão lùa bốn vạn Ấn Anh.

Ngày đêm toan vượt Châu Thành

Song le phần thắng vẫn giành về ta.

BÌNH XUYÊN PHẤT CỜ

 

Chiều hai mươi bốn tà tà

Bóng người lẫn với bóng nhà bóng cây.

Bình Xuyên phất lá cờ bay,

Rùng rùng tiến đánh quân Tây khắp thành.

Tiếng la theo súng càng đanh,

Kẻ thù nghe, chửa giao tranh, đã chờn.

Dân quân vào giữa Sài Gòn,

Chiếm xong bóp chính đánh luôn quân Nhì.

Nơi đây máu nhuộm quốc kỳ,

Một anh bỏ mạng ngay khi kéo cờ.

Tiếp tay, chị bạn đâu ngờ

Đạn thù veo véo thừa cơ hại mình.

Trước hai người sớm hy sinh

Em kia bước bước chông chênh cũng liều.

Rút dây cờ rướn như diều

Chuán cả bóng chiều, em nhỏ kéo lên.

Thế là súng giặc lại rền,

Và em ngã xuống chết bên cột cờ.

EM NHỎ BẾN THÀNH

 

Bến Thành cuộc đánh càng to,

Bình Xuyên quân mạnh mấy giờ dọc ngang.

Đón đường hét một tiếng vang

Có em ôm đóa sao vàng trong tay,

Trèo lên mái chợ giơ tay

Phất tung ra lá cờ gay gắt hồng.

Hoan hô quân đội thẳng xông

Gợi cho dân phố nức lòng hùa theo.

Thương ôi, trên chỗ ngặt nghèo

Em khôn tránh nổi đạn vèo vào lưng.

Hét lên một tiếng cuối cùng

Càng ghi khi nóng đương bùng ngoài kia.

Nhà nhà quên hết trời khuya

Mở tung cửa lớn mà chia việc làm.

Thanh niên máu chiến đường ham,

Sái cả quai hàm gân cổ ó la.

Con dao, cái gậy vùng ra

Một hai đánh áp lá cà thử chơi.

Trẻ con, ông lão mê tơi

Sướng chi bằng sướng được sợi đầu thù.

Sấm Nam đã nổi ầm ù

Dậy đi, dậy giữ vững khu Bến Thành.

Đẵn cây lấp lối cho nhanh,

Ngã ba, ngã bốn quanh quanh đều rào.

Ngổn ngang xe chổng, bàn nhào,

Ghế chèn, ván chặn, giặc vào chết toi.

Đàn bà lại nghĩ xa xôi:

Đánh nhau quá nửa đêm rồi chửa xong.

Muốn cho chiến sĩ no lòng,

Nhà ai lửa bếp cũng giong rập rờn.

Nồi hông nấu rõ đầy cơm,

Ăn thì bát vại cố đơm chặt lèn.

Sức sung, tay chiến càng quen,

Dân quân khắp ngả tiến lên ào ào.

Nóc nhà ga vút vút cao,

Ngọn cờ rọi mãi vầng sao sáng ngời.

Lửa bùng cháy bốn năm nơi

Phe thù như chuột không rời khỏi hang.

Đoàn quân Tân Định cũng sang,

Càng cay mắt khói đánh càng vào sâu.

TRÁI BOM Ở TÂN BÌNH

 

Tân Bình ta chửa đi đâu

Ở mà giữ lấy nhà nhau cho toàn.

Nửa đêm tiếng súng kêu ran ,

Sông sôi nước giận, dân tràn máu hăng.

Vệ binh chia đóng dăng dăng,

Tầu giặc đằng đằng sát khí kéo vô.

Đôi bên bắn xả hàng giờ

Bao nhiêu lính địch chết xô một dòng.

Biết cơ lên bến không xong

Lừ lừ quay mũi giữa sông tầu chuồn.

Có anh cảm tử không chờn,

Mặc dầu đạn nổ vẫn ròn bên tai.

Đã sinh ra với chút tài,

Gặp khi dùng đến đời trai cũng liều.

Một hơi bơi sải nước triều,

Một tay ôm trái bom theo bên mình.

                        Phút giây tan xác cá kình,

Đập cho cả chiếc tầu binh vỡ nhào.

Chôn xương dưới đáy sông đào.

Người dân quân ấy ai nào dám so?

TẢN CƯ

 

Trong khi quằn quại bóng cờ,

Sài Gòn khói lửa mịt mờ chưa nguôi.

Chân mây bốn hửng ánh trời,

Ta bèn tự bỏ các nơi, rút dần.

Biết bao nhiêu những nhà dân

Ùa theo quân đội không cần đắn đo.

Trên lưng khăn gói hẹn hò

Một trời bão táp mấy bờ chông gai.

Thép thù rình xiết đôi vai,

Lửa thù rắp đốt xuống tai, xuống đầu.

Lòng găng, họ sợ gì đâu,

Trận này quyết thắng về sau đàng hoàng.

Lối đi vết máu còn loang,

Quạ kêu xác giặc nằm hoang giữa trời.

Tiếng chim chừng cũng ngạt hơi,

Đầy thành khói cháy chưa ngơi than tàn.

Dầu kho Phú Nhuận đầy gian,

Bàn tay lao động tiêu tan một giờ.

Lửa còn đốt xưởng cao su,

Và tiêu hủy gạo kho thù sạch không.

Trận này du kích, hỏa công,

Thắng rồi, ta mới kéo dông vẹn tuyền.

GƯƠNG BÌNH XUYÊN

 

Gương nêu sáng chói Bình Xuyên,

Xưa kia cuối bến cội thuyền khách danh,

Giang hồ một lũ đàn anh,

Cách sông, khinh hết lính canh, mã tà,

Bước xần dẫm cỏ ngùi ca

“Đời không có nước, có nhà vì Tây”.

Chim kia giương cánh xa bay,

Người ngồi xăm dấu chàm tay nhớ thù.

Giờ đây tạnh trắng mây mù,

Nước to dềnh cả ao tù ra sông.

Chiều thu man mát bóng hồng,

Toàn dân cả phá tan vòng cùm nô.

Bình Xuyên có nước để thờ,

Có nhà để ở, giang hồ phải thôi.

Rừng xanh giũ sạch tên rồi,

Những con lạc lõng về ngồi quanh cha.

Rồi đùng một lệnh chuyển ra

Sang sông lườn lượt như là đàn le.

Quản đâu cánh gãy chân què,

Dằng dai chống với sóng đè gió lôi.

KHỦNG BỐ

 

Vòng vây đã thắt thêm người,

Quân thù bực tức càng sôi máu cuồng.

Già tay bắt bớ khác thường,

Ngục đầy, trói đứng ngoài đường mà tra.

Có anh còn náu trong nhà,

Quần xanh sắc thợ ắt là đáng nghi,

Còng chân cùm xích dong đi,

Bước đau xéo nặng như chì đổ khuôn.

Tay thù lại sắt đanh hơn,

Tát cho bạt tiếng căm hờn trong tai.

Ừ đui điếc cả đời trai,

Không ưng hé miệng van nài sói lang.

Có anh trốn lẩn trễ tràng,

Con dao cái gậy buộc ràng tội thân.

Tay thù hung hãn nổi gân,

Tóm người, lột áo, lưng trần trầy ra.

Lấy dao rạch suốt lên da,

Đánh dấu đến già chữ máu: Việt Minh.

THIẾU SINH LỘC

 

Nghe tin, không thể trùng trình,

Bên ta lại gửi quân mình tới chơi.

Kẻ thù ruột rối gan bời,

Vừa trông khuất bóng mặt trời đã lo.

Bỗng nghe vẳng tiếng reo hò,

Giật mình, mũi súng thập thò cũng run.

Dân quân tiến tới ùn ùn,

Chẳng ngơi lựu đạn, chưa cùn dao găm.

Biết rằng bao chục bao trăm?

Chỉ trông thấy rặt bóng thầm vùng lên.

Rồi qua những tiếng nổ rền,

Khói tuôn bóng lửa cháy bền từng nơi.

Dân quân chiếm quận Sáu rồi,

Thiếu sinh Lộc tuổi mới mười bốn thu.

Nghèo, đau, chất giận quân thù,

Lòng hăng một phút vụt vù cao dâng.

Trèo lên chót vót thượng tầng,

Phất cờ lia lịa reo mừng anh em.

Tinh thần bộ đội vững thêm,

Đuổi đoàn Pháp Ấn suốt đêm chạy hoài.

Tờ mờ sương tỏa sớm mai,

Ta theo chiến thuật liệu bài tạm lui.

Giữa đường, em Lộc tưởng vui,

Bỗng nhiên gió thoảng khét mùi máu tanh.

Rầm rầm một đạo quân Anh

Cầm đầu là lão râu xanh mặt càn.

Nhằm ta, định bắn trưởng đoàn.

Thấy nguy em Lộc cả gan chặn liền.

Xốc tay gậy nhọn đâm xiên.

Quân Anh bắn hoảng hết lên trên trời.

Bên ta chẳng thiệt một người,

Lại nhân trong lúc rối bời, rút luôn.

Ngờ đâu thân nhỏ đáng buồn,

Mang về trong thịt hai hòn đạn sâu.

Thuốc men trọn mấy ngày sau,

Vết thương đuối mãi, ngực hầu tàn hơi.

Lộc đi, để lại mấy lời:

“Các anh nhớ liệm xác tôi bằng cờ”.

GÁI ĐƯA ĐÒ

 

Còn câu chuyện gái đưa đò

Vầng trăng kia vẫn lững lờ tìm soi.

Một đoàn gồm có hai mươi

Tráng sinh Tân Qúy Đông, nòi cần lao

Chia đôi nửa súng, nửa dao,

Nửa đi bắn phá, nửa vào đốt thiêu.

Nhà Đèn, mưa đạn veo veo,

Tiếp gần, nhà Rượu nổ theo lửa vàng.

Nói riêng anh Giới can tràng,

Quá hăng nên đã lạc sang đường thù.

Vòng vây dồn lại mịt mù,

Một anh bắn giết trơn tru bốn đầu.

Nhưng rồi đạn hết, tay đau,

Chạy mang giọt máu tới cầu Rạch Ông.

Quân thù đuổi riết bên sông.

Đã neo bước trốn, lại không thuyền chờ.

Bỗng nghe mấy tiếng dội bờ

Gọi anh rằng muốn sang đò thì sang.

Tiếng ai như tiếng chuông vàng?

Con thuyền đã lái nhẹ nhàng tới đây.

Xuống thuyền, Giới ngã xoài ngay.

Màu chân, anh lái giơ tay bồng vào.

Nhìn nhau chưa một tiếng chào

Trái tim anh lái đã trào máu ra.

Đạn thù vừa vút xiên qua!

Tức thì chị lái hét mà phóng dao.

Kẻ thù gãy gục thân cao.

Thuyền ai một lái vút vào mù sương.

Chết chồng, nhẽ rất nên thương,

Nhưng lòng chị lái khác thường tạm khuây.

Trông người chiến sĩ nằm đây,

Chị chưa muốn ngó đến thây của chồng.

Buông con thuyền nhẹ xuôi dòng,

Hãy lo cầm lại máu hồng cho ai.

Thiết tha xé vạt áo dài,

Tạm dùng băng bó lấy vài vết thương.

Rồi xuôi thuyền đến dưỡng đường

Trong Chu Chợ Rẫy thế đương vững bền…

GIẾT TRĂM RƯỞI MẠNG

 

Còn bao nhiêu kẻ không tên

Dậy trời chuyển đất một phen liều mình.

Trai trung dũng, gái kiên trinh,

Khiến cho quân địch khiếp kinh đến điều.

Chỉ trong một sớm đôi chiều,

Hai trăm giặc chết, rất nhiều bị thương.

Loanh quanh chẳng dám ra đường,

Còn đâu là tiếng Tây dương anh hùng.

Đêm hăm sáu ở Cầu Bông,

Quân ta hai mặt tấn công một giờ.

Vệ binh Tân Định hẹn hò

Cùng Tiền Giang nhận bóng cờ hiệp nhau.

Trận này xung sát không lâu,

Đánh lui quân địch khỏi cầu như chơi.

Sang sông ta vững thế rồi,

Ngoảnh dò tả hữu từng nơi ngoại thành.

Thị Nghè câu ấy phân tranh,

Súng thù rặt những liên thanh nổ rền.

Có anh Nguyễn Thái bò lên,

Tay mang súng máy đặt trên ụ dài,

Mắt nhằm sáng quắc không sai,

Giết trăm rưởi mạng đáng tài chiến binh…

 

TỰ THIÊU MÌNH

 

Thi gan, còn một thiếu sinh,

Quyết dâng cho nước thân mình nhỏ nhoi.

Ai can cũng chả nghe lời,

Mắt thèm thấy khói trong người bốc ra.

Tẩm dầu vô áo, vào da,

Lưng đeo mồi lửa chạy qua kho thù.

Reo reo cháy đỏ đêm thu,

Lửa thiêng một khối lù lù tiến sâu.

Lính canh nã súng chặn đầu,

Nhưng em cảm tử lòng đâu có chờn.

Một tia đạn véo qua sườn,

Ngã rồi em lại dậy luôn xông vào.

Bóng hình thần thánh biết bao!

Mất thủ ngó thấy như trào máu ra.

Lính Anh, linh Ấn, lính Chà,

Rập cùng lính Pháp bỏ nhà chạy bay.

Vì chưng lửa đã bén rây,

Cả kho thuốc đạn chất đầy nổ tan.

Thiếu sinh thành một hòn than

Qua cơn tung tóe vụn tàn ra tro.

Ngày mai dân chúng ngẩn ngơ

Biết đâu quê quán mà dò họ tên?

Chỉ hay rằng một thiếu niên,

Cảm vì cách mạng đã nên khác thường…

 

ANH, ẤN, NHẬT

 

Lại còn hai chỗ kho lương

Quân ta chia đánh hai đường chiếm xong.

Cựu binh hợp với Tiền Phong,

Trận đầu đã nổi tiếng dòng thanh niên.

Ngang qua sông lớn một triền,

Còn khu Cầu Kiệu cũng liền vòng vây.

Súng đoàn du kích trên tay,

Phá tan hàng ngũ lính Tây rã rời.

Hơn ba mươi mạng lìa đời,

Chúng kêu nhau chạy ời ời rõ xa,

Trận ngừng, điểm lại bên ta

Trúng làn đạn giặc có ba, bốn người.

Dưới kia đèn rọi vàng tươi.

Miệng ai chảy máu còn cười vẻ vang.

Lái Thiêu, Gò Vấp mượn đàng,

Quân Anh lại chở súng sang Sài Gòn.

Chín xe khí giới đen ngòm,

Những toan giúp Pháp một đòn nện ta.

Đón chừng xe chúng vừa qua,

Vệ binh một tá trổ ra thình lình.

Mười hai chiến sĩ bên mình,

Giết mười một mạng hùng binh sạch làu.

Băm nhăm lính Nhật cúi đầu,

Xuống xe dàn dạt cùng nhau quy hàng.

Ngày hai mơi tám vừa sang,

Ta lại đón đàng chặn bốn xe Anh.

Dân quân bủa đánh vòng quanh,

Không cho chúng vượt vào thành giúp Tây.

Bốn xe khí giới chất đầy,

Bỗng như cả gió cỏ may rã tàn.

Nổi hung, quân địch bắn càn,

Dân lành Phú Đức chết oan chục người.

Bị thương chừng độ hai mươi,

Ai ai cũng rít lên lời hờn đau.

Rồi qua một khoảnh khắc sau,

Quân thù chẳng kịp cứu nhau, cùng lùi.

Bẩy tên linh Ấn đen thui

Chết thay cho lũ thầy dùi Hồng mao.

Chiều về, chén rượu lầu cao,

Tướng Anh được Pháp xôn xao thết mời,

Nhớ chi lính Ấn chết rồi,

Lại sai lính Nhật trấn nơi hiểm nghèo.

Giữ đường Tân Định, Lái Thiêu.

Ép cho họ đến cùng liều đánh ta.

Dàn quân bước vướng chông chà,

Nhìn quanh bốn phía gian tà mà đau!

Nghĩ chi cho lửa đốt dầu,

Phải coi trong trận đối nhau là thù.

 

SÀI GÒN TAN NÁT

 

Sài Gòn tan nát về thu,

Một tuần qua, lớp hỏa mù chửa quang.

Sông dài không lối tràn sang,

Giặc càng bó cẳng lại càng ngứa tay.

Nhung nhăng sục kiếm đêm ngày,

Bắt dân phố xá nhốt đầy nhà giam.

Đàn ông đã thoát lưới giàm,

Duy còn ra trẻ, từng đoàn ngẩn ngơ.

Mẹ lương cho bú con thơ,

Người đau ốm, kẻ đui mù, bắt đi!

Dọc đường tiếng khóc như ri,

Xó lao roi vọt trăm kỳ khảo tra.

Đêm đêm hồ động tiếng xa,

Lại tin nhất định đó là cứu binh.

Dĩ nhiên lực lượng quân mình

Vẫn thừa gieo nỗi hoảng kinh từng giờ.

Bình Xuyên trăm chị giả vờ

Gánh rau quẩy đậu lửng lơ vào thành.

Nhưng trong những mớ lá xanh,

Lựu đạn đã dành ném giặc chết quay.

Mấy em bán lạc, ai hay

Cũng đem lựu đạn giết Tây đã nhiều.

Xin ăn từng kẻ ốm meo,

Ấy đoàn do thám, giả điều ngẩn ngơ.

Chợ đêm le lói đèn mờ,

Bến Thành còn ù đống tro nóng hồng.

Chị kia bươn bả gánh gồng,

Đôi mắt nhãn lồng, mà bán chè xôi.

Đó đây tiếng gọi ời ời,

Chợt quang bỗng gẫy, chợt nồi bỗng văng.

Chè xôi đã hóa dầu xăng,

Đốt luôn góc chợ bầng bầng cháy to.

Lửa lên nhịp với bóng cờ,

Thanh niên từng toán reo hò thị oai.

Nghe ran tiếng Việt bên ngoài,

Nao lòng quân địch liệu bài ẩn thân.

Lưng tôm cong náu trong hầm

Vu vơ bắn dọa mấy làn đạn suông…

 

EM NHỎ XÓM TRUNG SƠN

 

Trung Sơn lại nhớ con đường,

Thợ thuyền khu đó ngày thường nhởn nhơ.

Từ khi giặc hạ mất cờ,

Xóm im ỉm một giấc mơ hãi hùng.

Máu oan thấm đất từng từng,

Nỗi căm còn gửi tiếng trùng siết rên.

Dục cho khí giận bùng lên

Trong đời trốn tránh một em không nhà.

Lạc loài ngái mẹ thương cha,

Chiếc thân mười bốn tuổi hoa nặng hờn.

Chiều chiều ngó nẻo Trung Sơn,

Mắt đen lay láy mong cơn gió ào.

Ngày kia súng đạn rào rào.

Gió lên, em cũng lên cao với cờ.

Cầu thang ngoắt ngoéo đâu ngờ,

Giặc trên giặc dưới đang chờ từng giây.

Thấy người là bắn liền tay,

Thương ôi, em nhỏ mải say sao vàng.

Vì cờ đã chết vẻ vang

Trong khi chóp cột rõ ràng cờ giương.

 

CẢM TỬ CHIẾN KHU HAI

 

Lưới vây chung một mối giường,

Toán quân nào cũng có gương anh tài.

Kìa người ở chiến khu Hai,

Tuổi vừa hăm mốt, hơn ai tấm lòng.

Một phen tình nguyện xung phong,

Dấn thân mang lửa đốt trong kho dầu.

Rồi nhờ tiếp cứu lẫn nhau,

Anh còn sống sót dù đau đớn nhiều.

Đen thui từng mảng da seo,

Đầu trơ sọ bóng, tóc thiêu trụi rồi.

Mắt vương mãi khói dầu sôi,

Tay chân ri rỉ không ngơi nước vàng.

Nằm trên giường bệnh trong làng,

Càng nghe rộn súng lại càng nóng tay.

Giọng khản vẫn đượm hơi say,

Phổi khô thấy khát máu rây trả hờn.

Anh còn ao ước gắt hơn,

Mỗi khi nghe hỏi nguồn cơn đốt dầu.

Rằng mong chóng khỏi dấu đau,

Lại ra mặt trận đánh nhau đến cùng.

Chân trai gân cứng chưa chùng,

Tay vồng bắp mạnh há ngừng máu sôi.

Lời anh đáng giá vàng mười,

Chuyện anh là chuyện muôn người dân quân.

Những trưa nắng vã lưng sần,

Với đêm gió xối đầu trần giãi sương.

Vai mang cây súng lên đường,

Đói ăn sém nguội, khát thường uống khe.

Lăn hoài bụi móc, bờ tre,

Mà mơ khối trận chiếm xe đoạt tàu.

Lòng hang, đáy hố, gậm cầu,

Áo đen bùn ngấu, da đầu khói pha.

Lừ lừ mỗi lúc xông ra,

Một luồng gió lửa ào qua lũy thù.

Quân thù như cỏ mùa thu,

Hanh hao khôn lấn sang khu ngoại thành.

 

HOÃN CHIẾN

 

Trong vây, kém thế rành rành,

Chúng xoay nhờ cậy tướng Anh dàn hòa.

Đánh nhau suốt tám ngày qua,

Bỗng rằng hoãn chiến thì ta cũng ừ.

Biết đâu là thực hay hư,

Có khi mưu đợi chần chừ viện binh!

Nhưng ta cũng thuận điều đình,

Đặng xây dựng cuộc hòa bình năm châu.

Chỉ đưa một tiếng yêu cầu:

Pháp phải bắt đầu công nhận nước ta.

Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Hoàn toàn độc lập như là đã nêu.

Bằng không miễn nói chuyện nhiều,

Lòng dân đã ngả theo chiều tự do.

Máy bay, súng cối, tàu bò,

Đánh tan sao nổi tiếng hò Một! Hai!

Toàn dân chống đánh lâu dài,

Lời ta sẽ thét inh tai quân thù!

NXB Văn hóa cứu quốc, 1-7-1946

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *