Những bông cỏ may – Tản văn của Tuấn Trình

NHỮNG BÔNG CỎ MAY

Tuấn Trình

Em đã tìm thấy những gì khi mùa thu bắt đầu lạnh?

Chẳng phải đâu, em! Những cánh hoa vàng tháng chín, những chiếc lá đỏ thứ nhất, những hồ biếc cũng biếc như mắt em, cũng chẳng phải nữa những lằn mây bạc xóa ở chân trời ùn ùn nổi để báo trước một cơn gió heo may sắp tới! Không! Mùa thu, tháng chín, khi quýt ửng đỏ, khi bắt đầu rao bán những trái hồng mơn mởn như màu ân ái và những mớ cốm xanh rợi và đẹp như một lời hứa hẹn, thì, ở trên cánh đồng héo vì gió, em có một chiều nào ngẩn ngơ đi tìm lẽ sống của TÌNH YÊU, và đã xéo lên những ngọn cỏ trắng như bông mà người ta gọi là bông may?

Những bông may ấy, cứ mỗi khi gió tây lướt qua, lại rào rạt nghiêng chiều như mái tóc bạch kim ai rũ dài trên cỏ. Và đã có những kẻ xéo lên như em, hay ngắt lên, hay những kẻ đem in vào tâm tưởng, hay buồn rầu mang ép khô trong một quyển sách.

Em ơi! Anh biết lắm! Anh biết đã có ngày em gặp bông may nở trong sương chiều lạnh ngắt, đã có ngày em nhớ nó trong lòng và đã có ngày em giở đến hình xác nó trong trang sách cũ, để tưởng mơ một thuở xa xăm không còn có!

Hôm nay anh muốn tặng em những bông cỏ may sắp tới của mùa thu này.

*

*   *

Mùa thu, tháng chín, thuở quýt rất thắm, thuở người ta mua cốm mua hồng “sang chơi”… Thuở ấy, gió may đến giục cỏ may nở bông, và những bông mong manh đậu trên đầu những cành rất yếu kia đã từ xa đến gần làm bạc đầu những cánh đồng thu êm ả. Ấy là khi loài chim cuối mùa bay đi để tránh phương trời giá lạnh. Nắng dần dần yếu… Những cặp tình nhân hay những người cô trích đi tìm lại một chút hương thừa còn vương sót trong gió, có lúc ngồi nghỉ, đều thấy những bông cỏ may tơi tả rụng trong lòng…

Ở trong vườn anh có hai bông cỏ may đã nở trước nhất và gần nhau. Những giờ lê minh, nắng thu nhuộm cho đôi đầu cỏ ấy một màu hồng ngà như sắc má khi ân ái, những cánh bướm sặc sỡ thường đến tô điểm và lưu luyến giắt theo những sợi tơ trời óng ánh, hình như để ràng buộc “đôi mái đầu” thêm dài vương vấn ra…, những con chim, ríu rít tới đậu một bên, và cả bầu trời êm á, trong hơi gió, như đưa lại lời ca tụng… Những bông may rùng mình, nó nghiêng vào nhau. Hơi gió đi qua hay hơi thở thổn thức? Sự tiếp xúc nhẹ và thấm thía như hôn, làm cho đôi đầu rung động… Nhưng ở đâu cũng nhạt ngày, ở đâu cũng có những buổi chiều. Nên sự ly tan đã đến, vì một cơn gió lạ thổi mạnh đến đời êm lặng!

Trong sương, trong mù, hôm nay gió lạnh đã làm rụng bao nhiêu ngọn bông may. Đôi ngọn bông may, vì thế, đã bị bứt đỉ tan tác, và vì sức nhẹ, những “điểm tiêu sơ” bay lên không khí rồi lạc đi và rơi tàn khắp chốn, hy vọng một cuộc tương hợp vĩnh viễn thế là hết, dù mới có nửa chừng!

Có ai đã trông thấy chưa: một ngày thu lạnh hiu hắt, buồn như nỗi thất tình, mây bạc vẫn ở cuối trời mang lại đây những luồng gió héo. Vì gió, những bông có may bay lên như bươm bướm, chập chờn, rồi đến lúc sức tàn khẽ rơi xuống như cánh hoa rụng không tiếng… Từng cánh một, bông may hoặc nằm yên như một định mệnh an bài, hoặc lăn ra xa rồi bị cuốn vùi đi tất cả đều tan tác hết vì đã đoạn giờ đoàn tụ.

Nó rụng vì phải rụng, vì phải chia, giữ làm sao được?

Em ơi! Những bông may trong lòng ta nếu có phải chia lìa, sao em không hiểu, mà còn khóc làm gì nữa?

Tiếng gió thu sẽ lại, vì mùa đi chứ mùa không chết! Anh cũng muốn đôi mái tóc ta được vấn vương nhau vĩnh viễn, cho đến một ngày đã bạc như sương và phơ phất như bông may già úa. Song trên đồi Tình Ái, cỏ tơ duyên vì thời tiết sẽ héo đi, những bông may hay những mảnh lòng ta, vì gió bất ngờ, không còn sum họp nữa!

Tiểu thuyết thứ năm, Số 2, 13-10-1938

Chú thích: Người cô trích (孤謫) là một từ Hán Việt cổ mang nghĩa là người bị cô lập, bị trục xuất hoặc tự tách mình ra khỏi số đông trong sự đơn độc, cô quạnh.

NHỮNG BÔNG CỎ MAY – KHÚC BI CA DỊU BUỒN VỀ TÌNH YÊU VÀ SỰ CHIA LÌA

Trong dòng văn xuôi lãng mạn những năm cuối thập niên ba mươi, Những bông cỏ may của Tuấn Trình là một tản văn nhỏ nhưng để lại dư vị bền lâu. Không có cốt truyện, không dựng nên những xung đột gay gắt, tác phẩm chỉ mượn hình ảnh một loài cỏ dại rất đỗi bình thường của đồng quê để nói về một điều muôn thuở: tình yêu đẹp bao nhiêu thì chia ly cũng mong manh bấy nhiêu. Chính vì thế, bài văn giống một bản nhạc thu trầm lắng hơn là một thiên tùy bút miêu tả cảnh sắc.

Ngay từ những dòng mở đầu, tác giả đã không dẫn người đọc vào mùa thu bằng những hình ảnh quen thuộc như lá vàng, hồ biếc, mây bạc hay gió heo may. Những biểu tượng vốn đã trở thành ước lệ ấy liên tiếp bị phủ định: “Chẳng phải đâu, em!… Không!” Sau hàng loạt phép phủ định, mùa thu hiện ra bằng một phát hiện rất riêng: những bông cỏ may trắng mịn trên cánh đồng héo gió. Cách lựa chọn ấy cho thấy cái nhìn tinh tế của người nghệ sĩ. Vẻ đẹp của mùa thu không nằm ở những gì ai cũng nhìn thấy, mà nằm ở những điều nhỏ bé, bình dị, chỉ những tâm hồn biết rung động mới nhận ra.

Bông cỏ may trong tác phẩm không còn là một loài thực vật vô danh mà trở thành một biểu tượng nghệ thuật xuyên suốt. Nó tượng trưng cho tình yêu tuổi trẻ: mong manh, trong trẻo, gắn bó nhưng không chống nổi trước những biến động của số phận. Khi hai bông cỏ may đứng cạnh nhau trong khu vườn, nhà văn đã nhân hóa chúng như hai con người đang yêu. Chúng “nghiêng vào nhau”, “rùng mình”, sự tiếp xúc “nhẹ và thấm thía như hôn”. Những hình ảnh ấy vừa giàu chất tạo hình vừa chan chứa nhạc điệu, khiến thiên nhiên mang linh hồn của con người. Nhưng hạnh phúc chỉ tồn tại trong khoảnh khắc. Một cơn gió lạ xuất hiện, hai bông cỏ bị bứt rời, những sợi bông li ti bay tan vào không gian. Hình ảnh ấy không chỉ là quy luật của thiên nhiên mà còn là ẩn dụ về quy luật của đời người: nhiều cuộc gặp gỡ đẹp đẽ vẫn không tránh khỏi chia lìa.

Điều đáng chú ý là tác phẩm không dừng lại ở nỗi buồn chia ly mà hướng tới một sự chiêm nghiệm bình thản. Câu văn “Nó rụng vì phải rụng, vì phải chia, giữ làm sao được?” là điểm kết tinh tư tưởng của toàn bài. Tác giả nhìn sự tan tác như một quy luật tự nhiên, cũng giống như mùa thu đến rồi mùa đông sẽ sang. Bởi vậy, lời nhắn gửi với người yêu ở cuối tác phẩm không còn là tiếng than mà là lời an ủi: nếu những bông may trong lòng cũng phải chia lìa thì đừng khóc nữa. Sau nỗi buồn vẫn thấp thoáng một niềm tin rằng mùa sẽ trở lại, gió thu sẽ còn về, bởi “mùa đi chứ mùa không chết”. Chính ý nghĩ ấy đem lại cho tác phẩm một vẻ đẹp nhân văn: con người biết chấp nhận mất mát để gìn giữ những ký ức đẹp của tình yêu.

Một thành công nổi bật của Những bông cỏ may là nghệ thuật biểu tượng. Hầu như toàn bộ tác phẩm được xây dựng quanh một hình tượng duy nhất, nhưng hình tượng ấy luôn biến đổi ý nghĩa theo từng đoạn. Lúc là dấu hiệu của mùa thu, lúc là chứng nhân của tình yêu, lúc trở thành hình ảnh của kiếp người trước số phận, và cuối cùng là biểu tượng của ký ức không bao giờ mất hẳn. Nhờ sự thống nhất ấy, bài văn tuy không có cốt truyện vẫn tạo được mạch cảm xúc liền lạc.

Có một chi tiết: Tác giả đã đặt hai đối tượng có trạng thái tâm lý trái ngược nhau vào cùng một không gian mùa thu hoang hoải. Đó là Cặp tình nhân đi tìm sự lãng mạn, hơi ấm của tình yêu trong cái se lạnh của mùa thu và Người cô trích đi tìm lại “chút hương thừa” – những hoài niệm cũ, những mảnh vỡ ký ức đã qua để tự an ủi vết thương lòng của hiện tại. Họ đều thấy những bông cỏ may tơi tả rụng trong lòng… là một cái chạm đầy tinh tế. Dù là người đang yêu hay kẻ cô độc, trước cái úa tàn, bạc đầu của cánh đồng thu, họ đều chung một nỗi niềm trắc ẩn, một chút buồn thương thấm thía vào sâu thẳm tâm can.

Ngôn ngữ của tác phẩm giàu chất thơ. Câu văn dài, nhiều nhịp, giàu tính ngân vang, thường được tổ chức theo lối song hành và trùng điệp. Những hình ảnh như mái tóc bạch kim, màu hồng ngà, sợi tơ trời, cánh hoa rụng không tiếng… đều mang vẻ đẹp lãng mạn đặc trưng của văn học tiền chiến. Đặc biệt, tác giả sử dụng nhiều phép nhân hóa và so sánh, khiến thiên nhiên trở thành một thế giới biết yêu, biết nhớ, biết ly biệt như con người.

Giọng điệu cũng là một yếu tố tạo nên sức hấp dẫn của bài văn. Toàn bộ tác phẩm là lời trò chuyện với một nhân vật “em” không xác định. Cách xưng hô “anh – em” khiến thiên nhiên và triết lý không còn khô cứng mà hòa tan vào tâm tình. Đó là giọng thủ thỉ, tâm tình, có lúc say mê, có lúc nghẹn ngào, nhưng không bao giờ bi lụy. Những đoạn độc thoại nội tâm nối tiếp nhau làm cho bài văn gần với một bài thơ văn xuôi hơn là một thiên tản văn thông thường.

Xét trong bối cảnh văn học 1938, Những bông cỏ may còn cho thấy khuynh hướng thẩm mỹ của văn xuôi lãng mạn Việt Nam: lấy thiên nhiên làm tấm gương phản chiếu tâm trạng, lấy cái nhỏ bé để nói điều lớn lao, lấy cảm xúc làm trung tâm thay cho cốt truyện. Tuy nhiên, tác phẩm không chìm hoàn toàn vào sự ủy mị. Đằng sau vẻ đẹp mơ hồ của mùa thu vẫn là một cái nhìn tỉnh táo về quy luật của đời sống. Chính sự hòa quyện giữa cảm xúc và triết lý ấy đã làm nên giá trị lâu bền của thiên tản văn.

Đọc lại Những bông cỏ may sau gần chín mươi năm, người đọc vẫn nhận ra sức sống của một hình tượng nghệ thuật giản dị mà giàu ám ảnh. Bông cỏ may từ một loài cỏ ven đồng đã trở thành biểu tượng của những cuộc gặp gỡ ngắn ngủi, của những mối tình không trọn vẹn và của ký ức mà thời gian không thể xóa nhòa. Có lẽ vì thế, mỗi độ gió heo may trở lại, người ta vẫn dễ bắt gặp trong lòng mình một chút bâng khuâng như đang nhìn theo những cánh bông nhỏ bé bay đi giữa bầu trời mùa thu năm cũ.

Nếu đặt bài này vào toàn bộ sáng tác giai đoạn 1935–1939 của Thâm Tâm (Tuấn Trình), nó còn có một ý nghĩa khác rất đáng chú ý: đây là một trong những tản văn sớm cho thấy sự hình thành hệ thống biểu tượng nghệ thuật của ông. Sau này, trong thơ Thâm Tâm, những hình tượng như gió, mùa thu, mái tóc, con đường, chia ly, định mệnh… sẽ xuất hiện với tần suất cao hơn và mang sắc thái bi tráng hơn. Những bông cỏ may vì thế có thể xem như một “phác thảo” cho thế giới nghệ thuật của Thâm Tâm sau này, nơi thiên nhiên luôn là ngôn ngữ để nói về số phận con người và những cuộc biệt ly.

Nguyễn Tuấn Khoa

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *