Nhà thơ, nhà báo Thâm Tâm: Quăng tay chén khói tan thành trời mưa – Vương Tâm

Trước khi làm báo Vệ Quốc quân trong kháng chiến chống Pháp, thi sĩ Thâm Tâm (1917-1950) là một gương mặt độc đáo trong nhóm thơ Tam Anh (Gác Sơn Nam) Khâm Thiên – Hà Nội, cùng Nguyễn Bính và Trần Huyền Trân. Họ đại diện cho trường phái thơ lãng mạn đậm chất cổ phong nặng trĩu tình đời.

Nhà thơ, nhà báo liệt sĩ Thâm Tâm (1917 – 1950)

Hồn thơ của Thâm Tâm đầy bi phẫn cùng với những trăn trở về thế thái nhân tình. Ông có tên khai sinh Nguyễn Tuấn Trình và cũng dùng làm bút danh trong những bức tranh hay minh họa trên báo chí. Trong suốt chặng đường 10 năm (1936-1946) tuổi trẻ, ông hiện thân là một nhà thơ đầy dấn thân trong sự nghiệp văn chương với bút danh Thâm Tâm. Trầm tĩnh nhưng nội lực luôn dậy sóng trong tâm hồn nhà thơ với chí trai tìm đường “Nện cho vang tiếng chuông chiều/ Thù đem sức sớm đánh kêu trống đình”.

Đặc biệt, nhóm thơ Tam Anh mang hình ảnh những tráng sĩ áo bào gốc liễu nuôi chí đạp bằng những chông gai không tiếc chi đời. Họ xuất hiện trong giai đoạn thơ mới nhưng khác hẳn các nhóm thơ khác như Tự Lực Văn đoàn (Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận); hoặc nhóm Bình Định (gồm Yến Lan, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên và Bích Khê…Dòng thơ Tam Anh (Sơn Nam) luôn ẩn giấu nỗi niềm chia sẻ với những thân phận dưới đáy xã hội. Họ đứng về phe nước mắt của sự nghèo khổ và nung nấu ý chí bứt phá, giải thoát khỏi ách thực dân Pháp ngày đó. Cả ba nhà thơ Thâm Tâm, Trần Huyền Trân và Nguyễn Bính thường bộc bạch tâm trạng qua thể Hành với tiết điệu ngang tàng và đầy khao khát.

Nhà thơ Thâm Tâm vẽ chân dung nhóm bạn hữu rằng: “Một lứa chung tình từ tứ chiếng/ Hội nhau vầy một tiệc quần anh”. Hoặc trong bản “Tráng Ca” nhà thơ hát vang: “Bọn ta một lớp lìa nhà/ Cháo hàng cơm chợ, ngồi ca lúa đồng/ Hây hây tóc óng từng vòng/ Gió nào là gió chẳng mong thổi lùa”. Rồi mỗi lúc tâm trạng một cay đắng cùng số phận con dân nghèo khổ vang lên chát chúa: “Hỡi ôi! Huyết hãn triệu lê dân/ Chất lại ngoài biên một triệu lần/ Xây trọn Trường Thành muôn dặm vững/ Thì muôn trường hận đắp càng căm” (Vạn lý trường thành-1940). Riêng nhà thơ Thâm Tâm,  người rất thành thạo và ưa chuộng thể thơ Hành, trao gửi ý chí và ước vọng hành động với những bài ca như “Vọng nhân hành”, “Can trường hành”, “Tráng ca”, “Vạn lý trường thành”… Và nổi bật là “Tống biệt hành” được coi là dấu ấn đặc sắc của Thâm Tâm.

Tuyệt phẩm “Tống biệt hành” được in trên báo “Tiểu thuyết thứ bảy” năm 1940 gây xôn xao trong giới văn chương ngày đó. Khác hẳn với những bài thể “Hành” đầy bi phẫn số phận trước đó, “Tống biệt hành” thể  hiện hành động. Nếu hình tượng bi tráng Kinh Kha trong cố sử Trung Hoa hiện lên trong thơ Nguyễn Bính với nét phong trần “Kinh Kha giữa chợ sầu nghiêng chén/…Giầy cỏ gươm cùn ta đi đây” (Hành phương Nam); nhưng với Thâm Tâm lại vang lên bài ca hào sảng: “Ly khách! Ly khách! Con đường nhỏ/ Chí nhớn chưa về bàn tay không/ Thì không bao giờ nói trở lại!/ Ba năm mẹ già cũng đừng mong!”. Sau những câu hỏi ở khổ thơ đầu là những dấu chấm than đầy dữ dội trong cảm xúc.

Những câu thơ chan chứa ẩn ức: “Đưa người, ta chỉ đưa người ấy/ Một giã gia đình một dửng dưng”; Hình ảnh càng ngạo nghễ cháy lên trong tâm hồn tráng sĩ: “Người đi? Ừ nhỉ người đi thực!/ Mẹ thà coi như chiếc lá bay/ Chị thà coi là hạt bụi/ Em thà coi như hơi rượu say”. Đó mới chính là hình ảnh Kinh Kha hiện về trên bến Dịch Thủy trước khi vào chỗ chết: “Phong tiêu tiêu hề. Dịch thủy hàn/ Tráng sĩ nhất khứ hề, bất phục phán” (Gió đìu hiu sông Dịch lạnh lùng ghê/ Tráng sĩ một đi không trở về). Cùng với cảm xúc “Hành” của Thâm Tâm còn có Trần Huyền Trân trong nhóm cũng thể hiện dũng khí “Độc hành ca”. Nhưng ông vẫn chỉ dừng lại: “Khóc nhau ném chén tan tành/ Nghe vang vỡ cái bất bình thành thơ”.

Trong khi đó, Thâm Tâm lại tiễn bạn lên đường trong lưu luyến khôn lường: “Đưa người, ta không đưa qua sông/ Sao có tiếng sóng ở trong lòng/ Bóng chiều không thắm, không vàng vọt/ Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?”. Trong không gian bát ngát nỗi niềm ấy, người tráng sĩ ra đi không thể quên những tình thâm trong giọt lệ sầu man mác: “Ta biết ngươi buồn chiều hôm trước/ Bây giờ mùa hạ sen nở nốt/ Một chị, hai chị cũng như sen/ Khuyên nốt em trai dòng lệ sót”.

Đó là những ký ức đem theo vào giây phút linh thiêng chí trai không sờn lòng. Những hình ảnh đọng lại trên mỗi nẻo đường thời gian “Em nhỏ ngây thơ đôi mắt biếc/ Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay…”. Nhưng vậy đó, người tráng sĩ đã nguyện một lòng “Chí nhớn chưa về bàn tay không/ Thì không bao giờ nói trở lại!/ Ba năm mẹ già cũng đừng mong!”. (Tống biệt hành) ngỡ như chỉ là một cuộc tiễn bạn lên đường nhưng thực ra nhà thơ Thâm Tâm đã thể hiện ý chí và nỗi niềm tâm trạng của chính mình. Chí trai một đi không trở lại là lời ca cuộc đời của Thâm Tâm được hát lên bay bổng lãng du.

Kỳ diệu thay, hình ảnh người chiến sĩ Thâm Tâm khi đi vào trận mạc đã ngân vang: “Đêm nay ta gối đầu lên súng/ Trằn trọc nằm nghe máu nóng căng đầy” (Căm thù-1946). Đó là mạch thơ “Tống biệt hành” được hội tụ trên những nẻo đường ra mặt trận biên giới. Khi ấy, nhà thơ Thâm Tâm với vai trò là Thư ký tòa soạn báo “Vệ Quốc quân” (tiền thân báo Quân đội Nhân dân sau này). Ông sớm cùng nhóm Tam Anh tham gia kháng chiến từ năm 1945. Nhà thơ Thâm Tâm xung phong vào hàng ngũ quân đội tham gia chiến đấu và trở thành nhà báo. Nhà thơ như muốn quên đi quãng đời thơ của mình để dồn tâm trí làm báo quân đội. Người chiến sĩ Thâm Tâm muốn đổi mới cuộc đời mình. Chí trai lên đường cầm súng và cầm bút để cứu dân cứu nước trở thành hiện thực.

Những bài “Hành” ngày nào tuy là quá khứ nhưng luôn là động lực với công việc con chữ của nhà thơ trên chiến hào. Cây súng giờ đây là bản lĩnh của người lính hiên ngang bước ra mặt trận: “Súng ơi! Nặng cân giận dữ/ Xung trận diệt thù mấy cứ nóng ran/ Cùng ta vượt hết cơ hàn/ Cùng ta đau cái đau toàn dân đau…”. Và người đọc say với “Chiều mưa đường số 5” trên nỗi đau ấy. Tuy dành hết tâm sức làm báo nhưng chiến sĩ Thâm Tâm vẫn tràn trề cảm xúc trên đường tham gia chiến dịch. Khí chất “Hành” ngày nào trở nên tươi thắm trong trẻo: “Chiều mưa đường số 5/ Đôi mắt sao đăm đăm/ Chứa cả trời mây nặng/ Miền Việt Bắc xa xăm?”. Một chiều mưa ghi dấu hình bóng mẹ ngày nào tựa cửa trông chờ người con trở về: “Chiều mưa lùa các cửa/ Ngày bộ đội hành quân/ Mẹ già không nói nữa/ Nước mắt nhìn rân rân…”.

Ngược lại thời gian, cùng với “Chiều mưa đường số 5” người đọc không thể quên những áng thơ cùng những câu thơ tuổi trẻ đây khát khao lý tưởng của nhà thơ Thâm Tâm. Nếu điểm thêm những bài thơ được tìm lại, in năm 2024 (NXB Kim Đồng) của ông, người đọc phát hiện ra nhiều dấu ấn thi ca thực tài năng bên cạnh “Tống biệt hành”. Ngoài những câu thơ mang dấu ấn giai thoại liên quan “Hai sắc hoa Ti-gôn”, người đọc luôn bắt gặp những câu thơ hay trong sách.

Những liên tưởng mang dấu ấn tượng trưng vượt thời gian: “Dăm nàng gái nõn ngon như mứt/ Đi sánh hoa đào vẻ má nhung” (Bán hoa đào). Hay sự lấn át chất cổ phong đã dem lại hiệu quả nghệ thuật mà người đọc khó quên: “Hơi đàn buồn như trời mưa/ Các anh tắt nốt âm thừa đi thôi/ Giờ hình như ở ngoài trời/ Tiếng xe đã nghiến đã rời rã đi” (Các anh). Hoặc đôi khi, nhà thơ cũng trở nên siêu thực rằng: “Kìa, con quạ dọc chân trời/ Ngậm bờ Ngâu trắng tuyệt vời bay đâu”.

Nếu bên cạnh “Đưa người ta không đưa qua sông/ Sao có tiếng sóng ở trong lòng” (Tống biệt hành-1940); Thì sau đó, nhà thơ đã ghi dấu ấn tượng trưng không thua kém: “Chia tay, còn vẫn bóng sầu/ Mắt xanh ai giữ được màu thời gian?/ Sông sâu róc rách khuya tàn/ Lạnh nghe thổn thức hơi đàn biệt ly…” (Chào Hương Sơn-1942). Rồi nữa, với thi phẩm “Không đề” nhà thơ lại gây được vẻ đẹp kỳ thú khó ngờ: “Tôi đợi trăng tươi pha ngọt mắt/ Và chờ bóng lá đắp lòng đơn”. Và, ý chí lên đường đã được nhà thơ đóng triện son: “Sáng mai qua bến Ninh Cơ lạnh/ Sẽ thấy se lòng trận gió tê/ Giọng đàn lưu luyến làm chi nữa/ Tôi quyết đi rồi, tôi phải đi” (Lưu biệt-1944).

Thơ và cuộc đời làm báo của Thâm Tâm ít ai ngờ, trên đường ra mặt trận 5 năm sau, ông đã hy sinh vì căn bệnh hiểm nghèo (1950). Nỗi buồn ấy dâng lên trong trái tim đồng đội. Dường như những câu thơ ông viết bỗng hiện về như một ngày nào đó: “Biết mấy đời trai trong góa bụa/ Đêm ròng đứng thắp mẩu tầm hương/ Tro tàn có đốt không hồng nữa/ Thắt lạnh bên lòng nỗi hận thương” (Không đề). Ngôi mộ ông nằm lại dưới chân đèo Mã Phục lừng lẫy một thời. Đó cũng là một sự kỳ lạ. Đây là con đèo nổi tiếng với hình ảnh: “Con đèo dựng ngược hút trời mây/ Hơi thở giốc đường dài mệt mỏi/ Ngựa hý vang ngước nhìn lần cuối/ Rồi cúi đầu quỳ gục dưới chân người” (Hoàng Vy). Chuyện chân đèo gắn với lịch sử chàng thủ lĩnh Nùng Trí Cao đánh tan giặc Tống trở về tới chân đèo thì ngựa của chàng kiệt sức gục ngã.

Nhà báo, nhà thơ Thâm Tâm đã nằm lại nơi đây như một sứ mệnh mang hình ảnh hùng vỹ của con đèo. Đúng là cái vận được trời xui khiến chăng khi ông đã viết: “Đời người say tỉnh được bao dịp/ Xin cạn chén rượu để tôi đi” (Lưu biệt). Nhà thơ hy sinh vào đúng dịp cách mạng tháng Tám năm ấy. Thời gian ghi lại cột mốc vĩnh viễn “Mã phục” với hình ảnh nhà thơ cất tiếng ngâm: “Lòng thênh thênh nhẹ gió thu sơ/ Nghĩa khí ngàn năm gió chẳng mờ!” (Can trường hành).

Và đâu đó, trong ngọn gió hun hút dưới thung lũng, tiếng ca vọng lên trong tiếng đàn tính reo vang: “Phiếm du mấy chốc đời như mộng/ Ném chén cười cho đã mắt ta/ Thà với mãng phu ngoài bến nước/ Uống dăm chén rượu quăng tay thước” (Can trường hành-1942). Thiệt hay sao, thơ Thâm Tâm càng đọc càng thấy mới lạ vì vậy. Đời thơ khắc ghi liệt sĩ Nguyễn Tuấn Trình dũng cảm nằm dưới chân đèo Mã Phục một đi không trở lại. Thật đáng tạc lòng ghi dạ, một hồn thơ hiệp sĩ ngạo nghễ Thâm Tâm.

VƯƠNG TÂM

Báo Văn Nghệ Số 35-36, tháng 9 năm 2026

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *